Khoïa luáûn täút nghiãûp
MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Khảo sát sắc phong Thành hoàng ở thành phố Huế là công việc rất quan
trọng trong việc bảo vệ một phần di sản văn hóa dân gian của đất cố đô. Hiện
nay các văn bản sắc phong nói chung và sắc phong Thành hoàng nói riêng đã có
niên đại khá lâu từ vài chục năm cho đến hàng trăm năm, vẫn còn rải rác trong
dân gian. Trên địa bàn thành phố Huế, tùy ý thức của mỗi người dân mà nó được
bảo vệ kỹ hoặc là bị hư hỏng, mất mát. Do vậy việc khảo sát sắc phong ở thành
phố Huế ngoài việc giúp các làng lưu giữ lại hình ảnh và nội dung các bản sắc
phong, đề tài còn đi sâu tìm hiểu nội dung và tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề liên
quan đến Thành hoàng ở vùng Huế như: việc thờ tự, tế lễ, cấp bậc và những vị
khai canh khai khẩn ở các làng.
Cùng với những di sản văn hóa tinh thần của Huế đã được Unesco công
nhận (quần thể kiến trúc cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế), những văn bản
sắc phong Thành hoàng tại thành phố Huế cũng là một nét văn hóa về tinh thần
cần được mọi người, mọi cấp, mọi ngành quan tâm lưu giữ để nó không bị mai
một theo thời gian. Đề tài “khảo sát văn bản sắc phong Thành hoàng ở thành
phố Huế ” cũng không nằm ngoài mục đích và ý nghĩa đó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sắc phong nói chung và Sắc phong Thành hoàng nói riêng là đề tài được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Song những công trình hoặc các bài viết phần
nhiều chú ý đến các diện rộng như: “Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam”,
(NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1990) của tác giả Nguyễn Duy Hinh; hay tranh
luận về vấn đề thuật ngữ như: “Thành hoàng hay Thổ thần” đăng trên tạp chí
Huế xưa và nay (2008) của tác giả Trần Đình Hằng; hoặc tìm hiểu thần Thành
hoàng ở một vùng quê khác như: “Thành hoàng Việt ở Quảng Trị” đăng trên tạp
chí Cửa Việt (2005) của tác giả Cái Thị Vượng. Còn ở Huế, các văn bản sắc
phong đã được một số nhà nghiên cứu sưu tầm nhưng hãy còn đang ở dạng tư
liệu, chưa qua xử lý và công bố. Như vậy các công trình nghiên cứu này mới chỉ
trình bày khái quát về tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam nói chung hay một địa
Huế, nhằm giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài. Qua đó cũng làm rõ về tiến
- 2 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
trình lịch sử và văn hóa ở vùng Huế. Ngoài ra, chương 1 còn đề cập đến các vấn
đề như: Khái niệm Thành hoàng, tín ngưỡng Thành hoàng và việc thờ thần
Thành hoàng tại thành phố Huế.
Chương 2: Phiên âm, dịch nghĩa các văn bản sắc phong Thành hoàng ở
thành phố Huế.
Đây là chương trọng tâm của đề tài. Chương này chúng tôi giới thiệu về
địa lý, lịch sử của các làng đã được đi điền dã như: Nguyệt Biều, Thế Lại
Thượng, Dương Xuân Thượng, An Vân, Dương Xuân, Đốc Sơ, Phú Xuân và
Vạn Xuân. Còn phần trọng tâm là giới thiệu, phiên âm, dịch nghĩa các văn bản
sắc phong Thành hoàng ở các làng mà chúng tôi sưu tầm được.
Chương 3: Nhận xét về hình thức và nội dung các bản sắc phong Thành
hoàng ở thành phố Huế.
Đây là chương kết của đề tài. Chương này chủ yếu đưa ra những lời đánh
giá, nhận xét về hình thức và nội dung của văn bản sắc phong Thành hoàng.
- 3 -
Khoùa luỏỷn tọỳt nghióỷp
NI DUNG
Chng 1:
TN NGNG THNH HONG: NHèN T SC PHONG LNG X
VNG HU.
1.1. Vi nột v v trớ a lý thnh ph Hu
Trc khi i sõu tỡm hiu v v trớ hnh chớnh ca thnh ph Hu, chỳng
tụi mun im qua mt vi nột v tờn ca a danh ny. Vo nm 1885, thc dõn
Phỏp chim kinh ụ Phỳ Xuõn, a danh Hu c dn thay th cho a danh
Phỳ Xuõn. T Hu vit bng ch Latinh xut hin ln u tiờn trong tỏc phm
Voyages et Misson ca giỏm mc Alexandre de Rhodes (1591-1660). Trong
tỏc phm ny, ụng dựng t k Hu ch ni t th ph ca cỏc chỳa Nguyn
- 4 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
vừa mang những yếu tố ổn định căn bản lại vừa đầy những yếu tố năng động,
nhạy bén. Vì vậy, khi nói đến văn hóa Huế nói chung phải xét đến sự đóng góp
tích cực, vai trò chủ đạo của văn hóa làng xã.
Với toạ độ địa lý: 107
o
31’45’’-107
o
38’ kinh Ðông và 16
o
30’45’’-16
o
24’ vĩ
Bắc, thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam
của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyến
hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á. Cách Hà Nội 675 km về phía
Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
Trung bộ với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu khuyến khích
phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở
Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất , có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối
dễ dàng với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác
trong cả nước. Qua đó cho ta thấy, thành phố Huế có một vị trí rất thuận lợi
trong việc giao lưu văn hóa giữa các vùng miền của cả nước.
1.2. Huế trong tiến trình lịch sử, văn hóa dân tộc
1.2.1. Huế trong tiến trình lịch sử
Theo những tư liệu khảo cổ học và địa chất học, các nhà nghiên cứu
phỏng ước rằng từ đầu kỷ Đệ tứ
1
đã có một thời kì biển tiến kéo dài, toàn bộ
Nhật Nam, đuổi hết quan lại Trung Quốc, lấy Hoành Sơn làm cương giới phía
Bắc, xây thành Khu Túc để phòng ngự. Vùng đất này được chia thành năm châu,
theo cách gọi của sử ta gồm: Bố Chính, Địa Lí, Ma Linh, Ô, Rí (hay Lý). Mấy
thế kỷ nội thuộc Champa để lại nơi đây nhiều di chỉ, di tích như hệ thống cháp
Chàm, tượng thờ, các loại giếng, mộ chum…
“Sau chiến thắng Bạch Đằng thời Ngô Quyền (938), Champa vẫn luôn ra
cướp phá vùng Thanh Nghệ, có lúc đánh đến tận thủ đô Hoa Lư. Sau khi bị một
đòn phản công nặng của Lê Hoàn (982), người Champa phải bỏ thủ đô
Indrapura (Đồng Dương – Quảng Nam) dời vào Vijaya (Bình Định). Tuy vậy
các vua tiếp theo vẫn tiếp tục các cuộc xâm chiến nước ta, vua Lý Thánh Tông
phải thân chinh (1069), dùng Lý Thường Kiệt làm đại tướng, tiến đánh đến tận
kinh đô Vijaya, bắt quốc vương Chế Củ (Rudravarman III, 1061 – 1074?) đưa về
Thăng Long. Chế Củ xin dâng đất ba châu Bố Chính, Địa Lí, Ma Linh để chuộc
mạng. Năm 1075, Lý Thường Kiệt vào kinh lý đổi tên thành Bố Chính (bắc
Quảng Bình), Lâm Bình (nam Quảng Bình) và Minh Linh (bắc Quảng Trị). Về
sau, lúc vãng Trần, Lâm Bình đổi thành Tây Bình, lập thành một phủ của xứ
Thuận Hóa” [39; tr.45]. Năm 1306, vua Trần Anh Tông (con Trần Nhân Tông,
anh ruột công chúa Huyền Trân) đã gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân vua
Champa để đổi lấy hai châu Ô và Rí (hay Lý). Năm sau, vua Trần cho đổi vùng
- 6 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Hơn ba thế kỷ sau đó
Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều
kiện để hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự
ra đời của thành Hóa Châu khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, có lẽ chỉ tồn
tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa thành phòng thủ chứ chưa
phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636,
chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình
đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Huế sau này.
Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1688 chúa Nguyễn Phúc Thái lại cho dời phủ chính
mt vựng t mi lp nghip, t ú cng hỡnh thnh nờn mt lng mi.
Theo GS Phan i Doón: Lng Vit Nam l mt cng ng dõn c
nụng thụn ngi Vit trờn vựng ng bng sụng Hng, sụng Mó, sụng Lam ó
cú lch s my thiờn niờn k. Quỏ trỡnh phỏt trin liờn tc va ci to t nhiờn,
va chng ngoi xõm v ụ h ca nc ngoi, va vn lờn hn ch ti a
nhng ri ro bóo lt hng nm, lng Vit Nam ó vng chói li nh thộp m vn
linh hot mm do nh nc i h. S hc ó chng minh rng: Trong lch s
Vit Nam ó cú hn nghỡn nm Bc thuc, nc b mt nhng lng khụng mt.
Lng vn c gi vng, phc hi, tỏi lp trờn khp ng bng sụng Hng ri
tỏi sinh trờn di t min Trung v ng bng sụng Cu Long. Nh vy, cỏi gỡ
ó lm cho lng cú sc mnh bn vng v do dai nh th, ú l vn húa lng.
Nn vn húa ny vn tn ti n ngy nay vi s ngng kt m c biu hin
trong li sng, phong tc tp quỏn, kho tng vn húa dõn gian, tớn ngng tụn
giỏo. Vn húa lng cũn cú c mt c s vt cht l ỡnh, chựa, miu, ly tre, bn
nc, cõy aNhng yu t vt th v phi vt th trờn khụng ng n lp, ri
rc m hũa quyn vo nhau, tớch hp li thnh bn sc vn húa lng, lu truyn
t th h trc sang th h sau nh mt dũng chy khụng bao gi dt [12, tr.9].
V mc t chc, lng Vit Nam thi xa c coi nh mt nc thu nh,
trong mi lng u cú mt hi ng tc trng, l nhng ngi i din cho
lng, gii quyt tt c mi vic ni b ca lng. Chớnh quyn ch can thip trong
nhng trng hp m Hi ng ca lng khụng gii quyt c, cn n s can
- 8 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
thiệp của chính quyền, nhưng sự can thiệp đó phải rất khiên cưỡng. Từ đó mới
dân gian mới có câu: “Phép vua thua lệ làng”, còn về phía làng phải có nghĩa vụ
đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.
Ngoài ra, hầu hết mỗi làng đều có một cái đình để thờ cúng các vị thần,
những người đã có công che chở, bảo vệ cho dân trong làng, hay là thờ những vị
có công đối với làng. Đình làng còn là nơi tập hợp con dân trong làng trong
những lúc tế lễ, hay giải quyết những việc liên quan đến làng như xét xử những
XIV thì Thuận Hóa nhập vào nước Đại Việt nhờ cuộc hôn nhân của Chế Mân và
Huyền Trân công chúa” [43; tr.55]. Có thể nói văn hóa ở vùng Huế hình thành
muộn hơn so với các tỉnh ở miền Bắc. Nhưng nét văn hóa ấy không mang đậm
dấu ấn của miền Bắc. Lý do là vì khi di cư vào vùng Thuận Hóa, cư dân Việt đã
có sự tiếp xúc với văn hóa Chăm. Sự giao lưu giữa hai nền văn hóa ấy đã tạo
nên một nét văn hóa riêng. Lại thêm những điều kiện mà thiên nhiên ban phát
cho vùng đất này nên đã tạo nên tiếng nói, điệu hò, cách ăn mặc, đi đứng… rất
Huế mà ở miền Bắc không thể có được. Những nét ấy được thể hiện rõ khi cư
dân người Việt đầu tiên vào lập nghiệp ở vùng Thuận Hóa. Chính họ đã chọn
những vùng đất cạnh những con sông với đất đai màu mỡ, phì nhiêu để lập làng
lập xóm như: làng Phước Tích bên dòng Ô Lâu; làng Nguyệt Biều, Kim Long,
Dương Xuân, Long Hồ, Vĩ Dã (Dạ)… nằm hai bên bờ sông Hương. Còn những
làng được thành lập muộn hơn vào thời các chúa Nguyễn như làng Đốc Sơ,
Dương Xuân, Lễ Khê, Vạn Xuân… đều nằm bên sông Hộ Thành. Như vậy, từ
những đặc điểm đó, ta thấy văn hóa vùng Huế thường gắn liền với nông nghiệp,
với những vùng sông nước. Từ những đặc điểm địa hình đó đã hình thành lên
lối sống, lối sinh hoạt có tính chất riêng, mặc dù những ảnh hưởng văn hóa từ
miền Bắc vẫn còn nhưng nó không sâu đậm. Việc thờ cúng các vị thần ở Huế
(thần Thiên Y A Na, Nhị vị Thái Tử…) thì miền Bắc không có. Ở Huế thờ các
vị thần này vì những vị thần đó có nguồn gốc từ văn hóa Champa, mà văn hóa
Champa chỉ ảnh hưởng chủ yếu ở vùng Thuận Hóa trở vào miền Nam. Ví như ở
Huế cũng có tục “cúng đất” mà tục này lại không có ở miền Bắc. Tiếng nói của
người Huế cũng rất khác so với miền Bắc, văn hóa ẩm thực ở Huế cũng có
- 10 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
những dấu ấn rất riêng.
Từ những điều khảo sát trên, chúng ta thấy mặc dù cư dân Việt từ miền
Bắc di cư vào mang theo những nét văn hóa Việt, nhưng khi tiếp xúc với cư dân
Champa, với văn hóa Champa thì đã có sự pha trộn lẫn nhau, tạo nên sự hài hòa
giữa hai nền văn hóa lớn, để những điểm văn hóa chung đó tạo nên một văn hóa
địa phương…Từ những tiền đề kể trên, Thành hoàng hẳn còn tiếp thu thêm
nhiều yếu tố mới, kể cả một số nhân vật lịch sử của các triều đại, để chung đúc
nên diện mạo thống nhất của vị thần bảo vệ từng làng xã. Bởi vì nhà nước quân
chủ tập quyền Việt Nam, trong cố gắng trường kỳ nhằm ngày càng vươn tay ra
dài hơn để nắm cho chặt thêm vô vàn những điểm tụ cư của nhân dân, không thể
bỏ qua mà không lợi dụng một hình thái thờ phụng trong đó đã kết tinh lại tất cả
thần thái của làng Việt cổ truyền: Buông rơi nó là mặc cho làng tha hồ sử dụng
một đòn bẩy tinh thần để cường điệu biệt tính địa phương; nắm lấy nó là có
trong tay một lợi khí để đưa vào đầu óc của từng nông dân ở sâu trong làng xóm
những lề lối suy nghĩ phù hợp với quyền lợi của chế độ quân chủ tập quyền” [8;
tr.250].
Như vậy, theo chúng tôi Thành hoàng làng là vị thần ngự trị trong lòng
dân từ nhiều thế kỷ và hầu hết các làng đều có nơi để thờ thần Thành hoàng (có
thể là miếu hoặc đình). Từ cõi tục cuộc sống của con người đầy gian lao vất vả
bởi muôn vàn khó khăn, nhiều khi không thể giải quyết được. Điều đó khiến
người dân trông cậy vào sự âm phù của siêu nhiên và nhất là vị thần mệnh danh
là Thành hoàng làng (bảo vệ cho làng). Vì vậy việc thờ Thành hoàng làng trở
thành tục lệ của mọi cư dân trong Nam, ngoài Bắc, của những vùng quê cũ hay
miền quê mới khai hoang lấn biển, cải tạo rừng hoang. Việc tế lễ “Xuân Thu nhị
kỳ” các vị thần đã được cộng đồng dân cư tâm niệm thờ cúng, việc mở các hội
làng đã thể hiện sự thành tâm của cộng đồng cư dân đối với thần, thánh, đồng
thời là cơ hội gặp mặt của bà con họ hàng. Do vậy giữa mái đình và người dân
đã có sự gắn bó mật thiết và gần gũi. Tóm lại thần Thành hoàng là một vị thần
làm chủ trong một vùng đất nhất định và có nhiệm vụ bảo vệ, che chở cho con
dân trong vùng đó.
Cho nên thông qua một sức mạnh vô hình là Thành hoàng, chế độ quân chủ
tập quyền đã “lợi dụng” nó để biến thành một sợi dây vô hình ràng buộc người dân
phải tuân theo lề thói của chính quyền, nhằm phục vụ lợi ích cho chế độ.
1.3.2. Tính chất của các vị thần Thành hoàng
- 12 -
tôi bắt gặp rất nhiều sắc phong Thành hoàng phong cho Thổ thần. Như vậy,
không chỉ Thành hoàng là Thủy thần hay Sơn thần mà còn có nhiều vị thần khác
- 13 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
được phong, tùy theo tính chất của từng làng.
Trong triều Nguyễn, các tỉnh đều có miếu thờ Thành hoàng ở gần tỉnh
thành. Ở kinh đô Huế, có miếu Đô thành hoàng ở phường Vệ Quốc, phía tây
trong kinh thành Huế (nay ở đường Trần Nguyên Đán, trong khuôn viên trường
tiểu học Thuận Hòa, thuộc phường Thuận Hòa). “Việc tế thần Thành hoàng này
do nhà nước chủ trương, cứ đến tháng hai, có lệ cử quan võ ra tế. Ngoài dân
gian cũng thế, người dân ở các làng thờ vị Bổn cảnh/ thổ/ xã/ xứ Thành hoàng.
Lại không nên lẫn vị thần Thành hoàng này với vị Thổ thần. Ngoài vị Thành
hoàng, dân ta cũng như dân Trung Hoa còn thờ vị Thổ thần, thần đất này cai
quản đất một làng, một thôn, một phường hay một nhà ở bình thường…Thổ thần
còn gọi là Thổ công: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”, dân gian vẫn bảo thế.
Không cứ làng xã mà mọi tư gia đều thờ Thổ công, còn Thành hoàng thì chỉ
làng xã trở lên mới thờ” [38, tr.23-33].
1.3.3. Việc thờ thần Thành hoàng ở thành phố Huế
Trong một bài viết của tác giả Trần Đình Hằng ở Tạp chí Huế xưa và nay
có viết: “Nét riêng trong tìm hiểu vấn đề Thành hoàng làng Việt miền Trung
trong tương quan với vấn đề ở miền Bắc, suy cho cùng cũng phát xuất từ chính
đặc trưng lịch sử - văn hóa của một vùng đất non trẻ trên con đường đi về
phương Nam của người Việt. Trong các đối tượng được làng xã thờ tự, thường
phổ biến hiện tượng vinh danh một cách trọng thể bằng việc liệt kê chi tiết từng
tước hiệu được phong tặng qua các triều đại phong kiến đối với các vị thần linh
có hành trạng rõ ràng, gần gũi với đời sống nhân dân. Nhưng với các vị Thành
hoàng lại là một điều đáng lưu ý: ngoài một số rất ít có danh xưng, tước hiệu rõ
ràng, còn lại hầu hết được ghi nhận qua nhiều công trình nghiên cứu, qua kết
quả điền dã thực tế từ các nguồn tư liệu, văn tế, bài vị, sắc phong…,là Bổn thổ
Thành hoàng, Bổn cảnh/ xã Thành hoàng. Đó là “những hình tượng biểu
một nét linh thiêng, cổ kính, người dân thường gọi đây là Miếu Ông. Miếu Ông
có diện tích chừng 20m
2
, bên trong có các cột gỗ, trên lợp ngói liệt, được xây
tường gạch bao quanh. Còn miếu Thành hoàng làng Đức Bưu thì nằm đối diện
phía bên trái của đình làng, cách chừng 100m. Trước kia đây là vùng thấp trũng,
với những đồng lúa rộng mênh mông, nhưng bây giờ nơi đây đã là những khu
định cư với nhiều nhà cao tầng khiến cho miếu Thành hoàng không còn linh
thiêng như trước. Kiến trúc của miếu được xây bằng gạch và trát vữa, bên trong
- 15 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
không có cột, với diện tích chừng 15m
2
. Miếu Thành hoàng làng Dương Xuân
thì nằm bên trái của đình, miếu rộng chừng 18m
2
thờ Bổn Thổ Thành hoàng
Ngô Đại Tướng Quân Tôn Thần, đặc biệt ở phía sau đình có lăng của ngài Bổn
thổ Thành hoàng Ngô Đại Tướng Quân.
Từ đó cho ta thấy tín ngưỡng Thành hoàng ở miền Bắc khi di chuyển vào
vùng duyên hải miền Trung đã có sự biến đổi do sự pha trộn giữa hai nền văn
hóa Việt – Chăm, đã tạo nên một tín ngưỡng rất miền Trung, mang một nét
riêng làm hài hòa giữa hai nền văn hóa vốn có tính chất khác nhau.
Chương 2:
PHIÊN ÂM, DỊCH NGHĨA CÁC VĂN BẢN SẮC PHONG
- 16 -
Khoùa luỏỷn tọỳt nghióỷp
THNH HONG THNH PH HU
2.1. Sc phong lng An Võn
2.1.1. V trớ a lý v lch s ca lng
貳
年
拾
壹
月
初
捌
日
欽
哉
依
舊
奉
事
神
其
相
佑
保
我
黎
民
隍
之
神
仍
準
許
香
茶
聖
祖
仁
皇
帝
五
旬
大
慶
節
欽
奉
贈
庥
準
許
奉
事
明
命
貳
拾
壹
年
庥
我
稔
著
靈
應
- 18 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, miến niệm thần
hưu, khả gia tặng: Bảo An Chính Trực Thành Hoàng Chi Thần, nhưng chuẩn
hứa Hương Trà huyện An Vân xã y cựu phụng sự. Thần kì tướng hựu bảo ngã lê
dân.
Khâm tai
Thiệu Trị nhị niên thập nhất nguyệt sơ bát nhật
Dịch nghĩa:
Sắc cho: Thần Bảo An Thành Hoàng xã An Vân giữ nước giúp dân, đã
từng linh ứng, từng được nhờ ban sắc tặng, chuẩn cho phụng thờ. Năm Minh
Mạng thứ 21 (1840), gặp tiết ngũ tuần đại khánh của đức Thánh tổ Nhân hoàng
đế ta, vâng bảo chiếu ra ân, long trọng ghi vào cấp bậc. Đến nay, ứng theo mệnh
sáng, nghĩ tới công lao che chở của Thần, hãy tặng thêm: Bảo An Chính Trực
Thành Hoàng Chi Thần, vẫn chuẩn cho xã An Vân, huyện Hương Trà phụng thờ
như cũ. Thần hãy giúp đỡ, che chở cho nhân dân của ta. Khâm tai !
Thiệu Trị năm thứ hai, ngày 8 tháng 11 (1842)
- 19 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
嗣
德
參
拾
參
年
拾
壹
月
貳
拾
登
秩
庥
封
準
其
奉
事
嗣
德
三
十
一
年
正
庥
朕
五
神
節
經
頒
給
關
聖
帝
君
保
安
正
Tự Đức tam thập tam niên thập nhất nguyệt nhị thập tứ nhật.
Dịch nghĩa:
- 20 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
Sắc chỉ cho: xã An Vân, huyện Hương Trà, trước đây đã phụng thờ Quan
Thánh Đế Quân; Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Thành Hoàng Chi
Thần. Đã từng được ban cấp sắc phong, chuẩn cho phụng thờ.
Năm Tự Đức thứ 31 đúng lễ Ngũ tuần Đại khánh của trẫm, đã ban bảo
chiếu, mở rộng ân huệ, lễ lớn tăng cấp, đặc biệt chuẩn cho phụng thờ như cũ,
dùng để ghi nhớ ngày mừng của nước mà tỏ rõ phép tắc thờ tự.
Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 11 (1880)
同
慶
貳
年
柒
月
初
壹
日
神
其
相
佑
保
我
黎
民
欽
哉
仍
贈
庥
畱
祀
肆
今
丕
膺
護
國
庇
民
稔
著
靈
應
節
蒙
頒
給
庥
保
安
正
直
佑
善
敦
疑
壹
日
用
誌
國
慶
而
申
祀
典
欽
哉
寶
詔
覃
恩
禮
隆
登
秩
特
準
依
舊
奉
事
庥
封
準
其
關
聖
帝
君
保
安
正
直
佑
善
庥
旨
承
天
府
香
茶
縣
安
雲
社
從
前
奉
事
Phiên âm:
- 22 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
Sắc chỉ: Thừa Thiên phủ, Hương Trà huyện, An Vân xã tòng tiền phụng
sự Dực Bảo Trung Hưng Quan Thánh Đế Quân; Bảo An Chính Trực Hựu Thiện
贈
靜
厚
中
等
神
特
準
奉
事
用
誌
慶
節
經
頒
寶
詔
覃
恩
禮
隆
登
秩
頒
給
庥
封
準
許
保
中
庥
承
天
府
香
茶
縣
安
雲
社
從
前
奉
- 23 -
Khoïa luáûn täút nghiãûp
國
慶
著
加
旬
大
蒙 興
城
事
原
Phiên âm:
Sắc:
Thừa Thiên phủ, Hương Trà huyện, An Vân xã tòng tiền phụng sự nguyên
đồng, bên phải của đình có chùa làng Dương Xuân, bên trái thì có miếu Thành
hoàng, bên phải của sân đình có miếu Bà, chính điện được kết cấu một gian hai
chái, nội thất bài trí hương án, khám thờ, lỗ bộ và bức hoành phi đề ba đại tự:
“Phát sinh đình”; có hai nhà tả và hữu vu, mỗi nhà 3 gian lợp mái ngói.
Đặc biệt hiện nay làng có mộ của ngài Thành hoàng họ Ngô, nhưng nay
không còn con cháu họ Ngô ở trong làng, chỉ biết ngày kỵ của ngài Thành hoàng
là 30 tháng 1 âm lịch. Bên cạnh đó cách đình làng chừng 200m về phía tay phải
có ba ngôi mộ (2 ngôi mộ bằng vôi, 1 mộ đất) được dân làng cho là nơi mà Cao
Biền đã yểm long mạch ở đó (?)
1
.
Hiện nay đình còn lưu giữ 10 sắc phong, được bảo quản tốt, ngoài ra
không còn tài liệu gì.
2
2.2.2. Phiên âm, dịch nghĩa các văn bản sắc phong thần Thành hoàng
Sắc phong Thành hoàng của làng có tất cả 6 bản từ thời Minh Mạng đến
thời Khải Định. Chúng tôi xin trích dịch tất cả những sắc phong này.
1
Chú thích:
1
Có lẽ vùng đất này do một nguyên nhân nào đó mà dân làng đã gán cho hai ngôi mộ
kia là nơi yểm long mạch của Cao Biền.
2 2
Tài liệu và sắc phong do bác Lê Xuân Tần cung cấp
- 25 -