hoạt động quản lý nhà nước trong việc đánh bắt, khai thác thủy hải sản trên đầm phá tam giang theo xu hướng phát triển bền vững. - Pdf 13

GVHD: Th.S Viên Thế Giang
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đầm phá Tam Giang nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Điều kiện tự nhiên của hệ đầm phá này rất thuận tiện cho việc khai thác, đánh
bắt, nuôi trồng thủy hải sản. Hiện nay, có khoảng 100 ngàn cư dân sống ven
đầm phá Tam Giang, khoảng 90% cư dân này là người dân Vạn đò. Trước năm
1999, 85% cư dân Vạn đò sống lanh đanh trên mặt nước, với những chiếc đò
nhỏ bé. Từ năm 2000 đến năm 2010 nhờ chính sách đưa người dân vạn đò lên
bờ định cư của UBNDT Thừa Thiên Huế, cho đến nay, có khoảng 98% cư dân
Vạn đò được đưa lên bờ định cư (không có khoảng cách giữa sống và chết,
Đức Hiếu, huecssh.org.vn). Nghèo đói, mù chữ, thất học, trẻ em bỏ học sớm,
trẻ em lao động sớm đang là vấn nạn của dân cư Vạn đò.
Hiện nay, việc quản lý nhà nước trong việc đánh bắt, khi thác, nuôi trồng
thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang cầu hai còn gặp nhiều khó khăn, do
nhiều nguyên nhân khác nhau như, trình độ dân trí của người dân còn thấp,
nghèo đói dẩn đến nhiều hộ ngư dân khai thác thủy sản không đúng quy
hoạch của nhà nước, đánh bắt bằng nghề hủy diệt, nghề cấm. Nếu tình trạng
trên kéo dài, dẩn đến hậu quả cạn kiệt nguồn tài nguyên, nhiều loài sinh vật
có giá trị kinh tế cao có nguy cơ bị tiệt chủng. Do đó, việc áp đặt những quy
phạm pháp luật của nhà nước trong việc đánh bắt, khai thác, nuôi trồng thủy
hải sản là cần thiết. Từ lâu, nhà nước ta đã có những chính sách cho người
dân khai thác đánh bắt thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai nói
chung và đầm phá Tam Giang nói riêng như: Chỉ thị số 01/1998/CT – TTG
ngày 02 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm
dùng chất nổ, xung điện, hóa chất độc hại để khai thác thủy sản hoặc Quyết
định số 4260/2005QĐ-UBND ngày 12 tháng 9 năm 2005 về việc ban hành
quy chế quản lý khai thác đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế hay Chỉ thị
14/2007/CT- UBND huyện Phú Vang ngày 27 tháng năm 2007 về việc cấm
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
1

GVHD: Th.S Viên Thế Giang
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học tôi đã sử dụng một
số phương pháp cụ thể sau:
Cơ sở lý luận: dựa trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật do nhà
nước ban hành điều chỉnh các hành vi khai thác, đánh bắt thủy hải sản trên
đầm phá Tam Giang như:
- Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac - Lê nin, tư tường Hồ Chi Minh, quan
điển của Đảng và nhà nước ta. Dựa trên các quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam và trên đầm phá Tam Giang.
- Phân tích thực trạng, tổng hợp tài liệu nghiên cứu, thu thập số liệu, điều
tra xã hội học, phân tích theo phương pháp nghiên cứu công tác xã hội.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Khi nghiên cứu đền tài này tôi thấy rỏ việc quản lý nhà nước trong việc
đánh bắt, khai thác thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang theo xu hướng phát
triển bền vững là vô cùng cần thiết. Nếu không có sự quản lý nhà nước trong
những quá trình đó, thì việc khai thác thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang
rất bừa bải, người dân có thể sử dụng nhiều loại ngư lưới cụ hủy diệt, dần đến
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên là khó tránh khỏi.
Trong khi nghiên cứu đền tài, tôi thấy rằng việc tuy nhà nước đã có
những chính sách rất hợp lý trong việc quản lý khai thác đánh bắt thủy hải sản
trên đầm phá Tam Giang theo xu hướng phát triển bền vững nhưng cũng có
một vài thiết sót. Do đó, đề tài có thể bổ sung một vài thiết sót đó, nhằm hoàn
thiện hơn việc quản lý nhà nước trong việc đánh bắt, khai thác thủy hải sản
theo xu hướng phát triển bền vững.
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
3
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
6. Bố cục của đề tài
Phần II: Nội dung

bắt đầu hoàn thiện dần các quy phạm pháp luật, nhất nhà hình thành, Hiến
pháp, văn bản quy phạm pháp luật cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
Nghĩa Việt Nam được hình thành năm 1946. Cho tới nay, văn bản quy phạm
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
5
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
pháp luật này được hoàn thiện hơn. Ngoài ra, nhà nước Việt Nam cũng ra
nhưng bộ luật cụ thể điều chỉnh các hành vi xã hội cự thể như: bộ Luật Dân
sự Việt Nam, Bộ Luật Hình sự Việt Nam điều chỉnh các hành vi xã hội theo
hướng tiến bộ, hiện đại. Ngoài Hiến pháp, các bộ luật, nhà nước cũng hình
thành nhiều văn bản luật điều chỉnh các hành vi cụ thể của người dân, nhằm
mục đích tạo ổn định xã hội.
Trong hoạt động đánh bắt, khai thác thủy hải sản, nhà nước Việt Nam
cũng đặc biệt chú trọng, bắt đầu hình thành các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các hành vi khai thác thủy hải sản. Việt Nam, nằm ở khu vực Đông
Nam Á, là quốc gia có bờ biển dài. Từ lâu Việt Nam đã nhận thấy những
nguồn lợi do biển mang lại. Từ lâu Việt Nam đã coi “rừng vàng, biển bạc”.
Do đó, việc ban hành các quy phạm pháp luật trong hoạt động đánh bắt khai
thác thủy hải sản được hình thành từ sớm, để điều chỉnh quá trình khai thác
thủy sản của ngư dân. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ
10, Quốc hội thông qua việc soạn thảo luật Thủy sản.
Ngoài luật thủy sản, là luật chung cho các địa phương, ngoài ra các địa
phương còn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với từng
vùng miền, phù hợp với những đối tượng cụ thể như: Chỉ thị số 01/1998/CT –
TTG ngày 02 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm
cấm dùng chất nổ, xung điện, hóa chất độc hại để khai thác thủy sản hoặc
Quyết định số 4260/2005QĐ-UBND ngày 12 tháng 9 năm 2005 về việc ban
hành quy chế quản lý khai thác đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế hay Chỉ thị

Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với
chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. Quản lý nhà nước
tiếp cận với nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hoạt động: hoạt động lập
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
7
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành)
của hệ thống hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp. Gắn liền
với việc hình thành nhà nước là sự ra đời của quản lý nhà nước. Một nhà nước
một tồn tại và phát triển lâu dài buộc nhà nước đó có một hệ thống pháp luật
tốt và thực hiện những điều luật đó tốt, trên tinh thành bình đẳng giữa con
người với con người thì xã hội cảu nhà nước đó sẻ mang tính chất phát triển
lâu dài. Hoạt động quản lý của nhà nước là cần thiết, nếu nhà nước không có
những chính sách quản lý trong xã hội thì xã hội của nhà nước đó mất tính ổn
định và dẩn đến nhà nước đó sẻ sụp đổ. Ở Việt Nam hiện nay, mọi hoạt động
của xã hội đều được nhà nước đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật để điều
chỉnh nhằm mục đích ổn định chính trị, ổn định xã hội. Trong khai thác thủy
sản, nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản của ngư dân.
1.2.1. Khái quát chung về phát triển bền vững trong hoạt động quản lý
nhà nước đối với hoạt động khai thác thủy sản
Khái niệm
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển
trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc
gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính
trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia
đó. Qua đó, cho thấy rỏ nội dung của phát triển bền vững.
Trong hoạt động quản lý nhà nước hiện nay, nhà nước luôn luôn đặt ra

để phân cấp cho địa phương có bờ biển tổ chức quản lý tổng hợp vùng biển
ven bờ gắn với phát triển sản xuất, kinh doanh.”
Từ đó cho thấy, nhà nước chú trọng đến phát triển thủy sản bền vững,
nhà nước khuyến khích các cá nhân tổ chức khai thác nguồn lợi thủy sản theo
xu hướng phát triển bền vững. Nhà nước nghiêm cấm các hành vi khai thác
thủy sản không bền vững như dùng cá loại ngư lưới cụ cấm, rà điện, xung
điện, dùng chất nổ, chất độc hại khi thực hiện đánh bắt, khai thác thủy hải sản
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
9
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
trên bển, sông, đầm phá, ao hồ. Ngoài ra, nhà nước khuyến khích nghiên cứu
khoa học, ứng dụng các công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ khoa học,
phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động thủy sản. Bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thuỷ sản; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm về
người và tài sản trong hoạt động thuỷ sản. Nhà nước phát triển kinh tế thuỷ
sản trên cơ sở quy hoạch phát triển ngành Thuỷ sản phù hợp với quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và của từng địa
phương; bảo đảm việc xây dựng các công trình ven sông, ven biển hoặc gần
khu vực nuôi trồng thuỷ sản không làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản.
Ngoài ra nhà nước còn khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, lập kế hoạch
xin đầu tư các dự án nước ngoài, nhằm có nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất hạ
tâng, nâng cao dân trí cho người dân, cải thiện cuộc sống và nghiên cứu cá
giống mới, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Việt Nam là quốc
gia đang trong giai đoạn phát triển, nên các tổ chưc phi chính phủ của Việt
Nam cũng có những thuận lợi cho việc thiết lập các dự án và xin kinh phí từ
các tổ chức chính phủ và phi chính phủ nước ngoài. Hầu hết các dự án này
thường là các dự án kinh tế, dự án nghiên cứu khoa học và dự án xã hội. Dù là
dự án theo hướng nào đi nữa thì, việc xin các dự án hiện nay đều có lợi cho
người dân và phát triển thủy sản theo hướng bền vững.
Tại khoản 3 điều 5 luật Thủy sản, “Nhà nước phát triển kinh tế thuỷ sản

thường xuyên thả các loài cá giống, cá có giá trịnh kinh cao, bổ sung nguồn
giống cho vùng khai thác. Hiện nay, một số địa phương có vùng diện tích mặt
nước đầm phá như tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND tỉnh, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi
Thủy sản, chi hội nghề cá tỉnh và các cơ quan hành chính nhà nước địa phương
khác đang có chính sách khuân vùng bãi đẻ, bãi giống và cấn ngư dân vào những
khu vực đó khai thác nguồn lợi thủy hải sản. Đây là nơi trú ngụ của các loài thủy
sản và là nơi sinh đẻ của cá loài đó. Nhờ những khu vực này mà nguồn lợi thủy
sản của đầm phá Tam Giang – Cầu Hai luôn luôn được bảo đảm. Qua đó cho
thấy, việc nhà nước quản lý hoạt động khai thác thủy hải sản là điều cần thiết,
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
11
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
nhờ những chính sách của nhà nước mà nguồn lợi thủy hải san ở sông ngòi, đầm
phá, biển luôn được đảm bảo không chỉ hiện tại mà bền vững trong tương lai.
Nội dung của phát triển bền vững trong hoạt động quản lý nhà nước đối
với việc đánh bắt khai thác thủy hải sản gắn liền với những chính sách của
nhà nước, chính phủ từ TW đến địa phương ngoài ra, còn có các cơ quan
chuyên môn như bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cơ quan cấp
dưới, Chi hội nghề cá Việt Nam và tỉnh hội nghề cá các tỉnh là những cơ quan
trực tiếp quản lý hoạt động đánh bắt khai, khai thác thủy hải sản của ngư dân.
Để xiết chặt việc quản lý nhà nước trong hoạt động khai thác thủy sản, nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh
vực khai thác thủy hải sản nhằm phát triển theo quan điểm bền vững như: luật
Thủy Sản, Chỉ thị số 01/1998/CT – TTG ngày 02 tháng 01 năm 1998 của Thủ
tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm dùng chất nổ, xung điện, hóa chất độc
hại để khai thác thủy sản ngoài ra, còn có các văn bản hướng dẩn thi hành
luật Thủy sản. Ở các địa phương có diện tích mặt nước khai thác thủy hải sản
cũng có nhửng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng phù hợp với
từng vùng miền khác nhau.
Nhà nước đống vai trò cự kỳ quan trọng trong quá trình khai thác thủy

được hai khu bãi đẻ bãi giống, về cơ quản các xã có diện tích mặt nước đầu
phá đều được thành lập Chi hội nghề cá và chính quyền các huyện đang tiến
hành trao quyện khai thác mặt nước cho các Chi hội nghề cá đó.
1.2.3. Các nhân tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước đối với
hoạt động khai thác thủy sản trên quan điểm phát triển bền vững
Hoạt động quản lý nhà nước đối với việc đánh bắt khai thác thủy hải sản
theo quan điểm phát triển bền vững có rất nhiều nhân tố tác động tới hoạt
động này như:
Con người với quy phạm pháp luật nhà nước
Tác động tới hoạt động quản lý nhà nước, nhà nước ban hành các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các hành vi khai thác thủy sản theo quan điểm phát
triển bền vững, phải phừ hợp với điều kiện tự nhiên của vùng miền như: đối
với các tỉnh ven biển, thì cần phải có những chính sách phù hợp như quy
hoạch gần bờ biển, những khu vực có thể khai thác thủy sản, khu vực du lịch,
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
14
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
khu nuôi tròng thủy sản, tránh các trường hợp là ô nhiểm ngồn nước. Đối với
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, quy hoạch khu đánh bắt, khu trồng rừng
ngập mặn, khu nuôi các nước lợ, khu nuôi cá nước ngọt, khu trồng lúa. Đối
với các tỉnh có diện tích mặt nước là đầm phá như tỉnh Thừ Thiên Huế, cần có
những chính sách phù hợp như: thành lập Chi hội nghề cá, trao quyền khai
thác mặt nước, khuân vùng đánh bắt, khuân vùng bãi giống bãi đẻ. Từ những
quy phạm pháp luật phù hợp đó, con người sẻ có những hoạt động đánh bắt
thủy sản theo quy phạm pháp luật và ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của
người dần dần được cải thiện. Vận động người dân đánh bắt khai thác đi đôi
với việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Khi quy phạm pháp luật nhà nước với con người có tiếng nói chung,
pháp luật phù hợp con người thực hiện theo lúc đó việc phát triển khai thác
thủy sản không chỉ cho hiện tại mà còn định hướng được cho tương lai. Khi

tần suất các cơn bảo ngày cùng nhiều, mưa ít, tập trung trong thời gian ngán.
Với tình hình đó, người dân bắt buộc phải cải thiện môi trường hạn chế biến
đổi khi hậu hoặc thích nghi với biến đổi khí hậu, khi đó, buộc các quy phạm
pháp luật quản lý nhà nước phải thích phù hợp với điều kiện tự nhiên và các
quy phạm pháp luật phải thay đổi liên tục để phù hợp hơn. Điều kiện tự nhiên,
tài nguyên môi trường tác động không nhỏ đến hoạt động quản lý nhà nước,
nếu điều kiện tự nhiên thuận lượi thì việc quản lý nhà nước trong hoạt dộng
khai thác thủy sản cũng thuận lợi hơn nếu điều kiện tự nhiên diển biến phúc tạp
thì việc quản lý nhà nước gặp khó khăn ví dự như: trong mùa mưa bão, đội
tuần tra bảo vệ trên đầm phá Tam Giang không thể hoạt động thường xuyên
được, lợi dụng tình hình đó, những ngư dân đánh bắt khai thác bằng nghề cấm
tiến hành khai thác trên diện rộng, làm ảnh hưởng đến tài nguyên đầm phá Tam
Giang. Đối với những vùng tài nguyên bị cạn kiệt, nguồn lợi thủy sản không đủ
đáp ứng nhu cầu khai thác của người dân thì, việc quản lý của nhà nước cũng
gặp nhiều khó khăn, vì nhu cầu sống, như cầu khai thác, người dân buộc phải
sử dụng những ngư lới cụ có tính chất càn quét tài nguyên, đánh bắt những loài
sinh vật nhỏ do vậy, việc quản lý nhà nước lại càng gặp khó khăn hơn.
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
16
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
Như cầu sống của con người ngày càng cao
Điều kiện sống càng cao, nhưng trình độ dân trí thấp cũng anh hưởng
đến việc quản lý nhà nước trong hoạt động khai thác thủy sản theo quan điểm
bền vững. Điều kiện sống của người dân ngày càng cao, do đó việc khai thác
thủy sản của người dân cũng cần phải phát triển theo chiều hướng mạnh hơn,
với nhiều loại ngư lưới cự hiện đại hơn. Dó áp lực như cầu chi tiêu cuộc sống
do đó, người dân đẩy mạnh cường độ khai thác mạnh hơn, nhiều hơn để đáp
ứng được cuộc sống, dẩn đến nhà nước phải có những chính sách mạnh hơn
trrong việc quản lý khai thác thủy sản của người dân. Nhằm hạn chế việc khai
thác bừa bãi, không có quy hoạch. Người dân đặt áp lực khai thác lên khu

thủy sản của cùng đầm phá này cũng được cải thiện nhiều hơn. Hiện nay việc
quản lý nhà nước đối với đầm phá cũng có nhiều cải thiện nhưng cũng có nhiều
nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực khai
thác thủy sản theo định hướng phát triển bền vững. Phá Tam giang cũng như
các khu vực khai thác thủy sản khác trên lãnh thổ Việt Nam, đây là khu vực
chịu tác động khá lơn của biến đổi khi hậu, nghèo đói, như cầu sống và trình độ
thấp cũng anh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh
vực khai thác đánh bắt thủy hải sản trên quan điểm phát triển bền vững.
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
18
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC ĐÁNH BẮT KHAI THÁC
THỦY HẢI SẢN TRÊN ĐẦM PHÁ TAM GIANG
2.1 Điều kiện tự nhiên ở đầm phá Tam Giang
Vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai nằm ở phía Đông tỉnh Thừa Thiên
Huế, bao gồm: 45 xã thuộc 5 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà,
Phú Vang, Phú Lộc). Tổng diện tích tự nhiên 101.070 ha, bằng 20% diện tích
tỉnh Thừa Thiên Huế. Dân số trung bình năm 2008 gần 415 nghìn người, bằng
36% dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế có vai trò rất
quan trọng đối với phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên
Huế, khu vực miền Trung và cả nước. Đây là vùng đầm phá có diện tích lớn
nhất khu vực Đông Nam Á, thuộc vào cỡ lớn của thế giới và có tính đa dạng
sinh học cao ở cả ba cấp độ sinh thái, loài và nguồn gien. Đối với phát triển
kinh tế xã hội, vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một không gian lớn
chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh học, đất đai, mặt nước và là môi
trường sống của hơn 2/3 dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, nó có tầm
quan trọng khu vực và quốc tế, giữ vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển

thiết chế văn hóa - thể thao cấp cơ sở còn khó khăn. Nhiều vấn đề xã hội và
môi trường đang diễn ra trầm trọng; hơn 2 nghìn hộ dân thuỷ diện chưa được
định cư. Trình độ dân trí và chất lượng nguồn lao động còn rất thấp so với yêu
cầu phát triển.
Đây là Đề án nhằm cụ thể hóa một bước kế hoạch hành động mang
tính chiến lược về phát triển kinh tế biển và đầm phá đến năm 2010 và tầm
nhìn đến năm 2020, nhằm đưa vừng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai sớm
phát triển trở thành vùng đặc thù kinh tế, và là vùng sinh thái ngập mặn
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
20
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
vừa là khu dự trữ nuôi trồng sinh quyển của khu vực và quốc gia. Góp phần
thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng hội nhập
và phát triển bền vững.
Thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ về
việc phát triển vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế đã xây dựng đề án “Phát triển kinh tế tổng hợp vùng kinh tế
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020
Thực trạng đánh bắt, khai thác thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang
hiện nay
Hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản trên đầm phá Tam Giang hiện
nay có rất nhiều loại hình nghề và chia làm nhiều nhóm khác nhau.
Nhóm thứ nhất: khai thác đánh bắt bằng nghề di động
Nhóm thứ hai: khai thác đánh bắt bằng nghề cố định
Nhóm thứ ba: khai thác đánh bắt bằng nghề cấm, nghề hủy diệt
Nhóm thứ tư: nuôi trồng thủy sản
Khai thác, đánh bắt bằng nghề di động
Đây là một trong những nhóm loại hình nghề khai thác thủy sản đặc
trưng của đầm phá Tam Giang. Nhóm này có khoảng 6 loại hình ngư lưới cụ
trong đó có, lưới ba màng, lưới cua ghẹ, lưới cá thệ, lưới tôm, cào lươn, cào

2.2 Thực tiển quản lý nhà nước trong việc đánh bắt khai thác thủy
hải sản
2.2.1 Những quy phạm pháp luật điều chỉnh việc đánh bắt khai thác
thủy hải sản trên đầm phá Tam Giang
Việc quản lý nhà nước trên đầm phá Tam Giang có rất nhiều văn bản
pháp luật điều chỉnh trong hoạt động khai thác thủy sản. Văn bản có hiệu lực
pháp luật cao nhất là luật Thủy sản và các văn bản hướng dẩn thi hành luật
thủy sản. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
22
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10, Quốc hội thông
qua việc soạn thảo luật Thủy sản. Luật Thủy sản Việt Nam có hiệu lực vào
ngày 26 tháng 11 năm 2003. Đây là văn bản pháp luật có hiệu lực điều chỉnh
toàn bộ mọi hoạt động đánh bắt, khai thác, mua bán, nuôi trồng thủy sản trên
toàn quốc. Tại điều 1 của luật Thủy sản Việt Nam có ghi “Luật này áp dụng
đối với hoạt động thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân
nước ngoài trên đất liền, hải đảo, vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Như
vậy, phạm vi điều chỉnh của luật Thủy sản là trên toàn lãnh thổ Việt Nam,
trong đó có đầm phá Tam Giang. Tại khoản 1 điều 4 luật thủy sản Việt Nam
có ghi “Bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn
lợi thuỷ sản, tính đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên
nhiên. Việc phát triển các lĩnh vực trong hoạt động thuỷ sản phải theo quy
hoạch, kế hoạch phát triển ngành Thuỷ sản trong phạm vi cả nước và của từng
địa phương.” Khẳng định vai trò quản lý của nhà nước trong hoạt động khai
thác thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam trong đó có đầm phá Tam giang. Dó đó,
mọi hoạt động đánh bắt khai thác thủy sản trên đầm phá Tam Giang đều được
điều chỉnh bởi luật này.

4. Quyết Định 2034/QĐ-UBND, 2008 về việc phê duyệt Kế hoạch sắp
xếp lại nò sáo trên đầm phá thuộc huyện Phong Điền giai đoạn 2008-2009
5. Thông báo 235/TB-UBND, 2008: Kết luận của UBND tỉnh tại cuộc
họp ngày 15/07/2008 về việc thông qua kế hoạch sắp xếp nò sáo và chính
sách "treo thuyền" tại huyện Phong Điền và Phú Lộc
6. Chương trình số 45/CTr-UBND ngày 27/05/2008 về phát triển du lịch
biển và đầm phá đến năm 2012.
7. Quyết Định 2227/QĐ-UBND, 2007 về việc phê duyệt Chương trình
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007-
2010, định hướng đến năm 2020.
SVTH: Nguyễn Đức Hiếu – Lớp Luật bằng hai K2011
24
GVHD: Th.S Viên Thế Giang
Chỉ thị 14/2007/CT- UBND huyện Phú Vang ngày 27 tháng năm 2007 về
việc cấm khai thác thủy sản bằng các phương tiện hủy diệt nguồn lợi thủy sản.
Quyết định số 2093/QĐ - UBND tỉnh ngày 15 tháng 09 năm 2007 về
việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 06 - NQ/TU
ngày 15 tháng 06 năm 2007 của Tỉnh ủy khóa XIII về phát triển kinh tế biển
và đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế đến 2010, tầm nhìn đến năm 2020.
Nghị quyết số 06 - NQ/TU ngày 15 tháng 06 năm 2007 của Tỉnh ủy
khóa XIII về phát triển kinh tế biển và đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế đến
2010, tầm nhìn đến năm 2020.
Các quy hoạch phát triển các vùng, ngành của Trung ương có liên quan
(Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội dải ven biển miền Trung Việt
Nam; chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và
Duyên hải Trung bộ; )
Hiện nay, việc quản lý nhà nước trong quá trình khai thác thủy sản trên
đầm phá Tam Giang vẩn chưa có văn bản nào quy định cụ thể về việc phát
triển theo quản điểm bền vững, hầu hết tất cả các văn bản quy phạm pháp luật
đều quy định những hoạt động khai thác chung, mang tính chất bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status