BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN CẤP NHÀ NƯỚC
KC04/06-10
***
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN
Tên dự án:
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG VÀ SẢN XUẤT MỘT SỐ
GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP THEO QUY MÔ CÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ DỰ ÁN: KC04.DA09/06-10
Chủ nhiệm dự án Cơ quan chủ trì dự án
TS. Đặng Văn Đông Ban chủ nhiệm chương trình Bộ Khoa học và Công nghệ
Văn phòng các chương trình
trọng điểm cấp nhà nước
khác phát triển.
Cùng với nhu cầu và sự phát triển nhanh chóng của ngành sản xuất kinh
doanh hoa - cây cảnh nói chung, nhu cầu sử dụng hoa lan hồ điệp nói riêng ở Việt
Nam cũng tăng rất nhanh, bên cạnh nhu cầu về số lượng, chất lượng hoa cũng đòi
hỏi ngày càng cao. Lan Hồ Điệp được tiêu thụ nhiều nhất ở các đô thị, thành phố
lớn chủ yếu được nhập về t
ừ Đài Loan, Trung Quốc Theo kết quả điều tra của
Viện Nghiên cứu Rau quả, chỉ tính riêng miền Bắc Việt Nam mỗi năm đã nhập
vào khoảng 50 - 60 vạn cây lan hồ điệp từ Trung Quốc, Đài Loan để cung cấp vào
dịp Tết, điều này cho thấy sản xuất hoa lan ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu
cầu thị hiếu của người dân. 2
Là một trong những khu vực xuất hiện nhiều loại lan quý trên thế giới, với
điều kiện khí hậu, ẩm độ, nhiệt độ, cường độ ánh sáng của miền Bắc Việt Nam có
nhiều điểm tương đồng so với các vùng trồng hoa lan Hồ Điệp theo quy mô công
nghiệp như Quảng Châu (Trung Quốc), Cao Hùng (Đài Loan). Miền Bắc Việt
Nam hoàn toàn có thể phát triển sản xuất lan Hồ
Điệp theo quy mô công nghiệp,
tuy nhiên nếu trồng ở điều kiện tự nhiên lan Hồ Điệp sẽ ra mầm hoa sau đợt gió
mùa Đông Bắc vào khoảng tháng 10 dương lịch, cho hoa nở vào tháng 2 – 3
dương lịch năm sau (chậm so với Tết âm lịch 30 – 50 ngày), mặt khác để nở tự
nhiên hoa ra không đồng đều, chỉ đạt 35,5% số cây cho hoa nở
Những nghiên cứu về lan Hồ Điệp ở nước ta được nhi
ều nhà khoa học, cơ
quan quan tâm nghiên cứu (Viện Sinh học NN, Viện NC Rau quả, Viện Di truyền
NN, Viện KHNN miền Nam ) với nhiều nội dung khác nhau như lai tạo giống
mới, nhân nhanh giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, xử lý phân hoá
mầm hoa và điều khiển sự ra hoa Tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng
C [4], thường có ở bán đảo Malayxia, Inđônêxia,
Phillipin, các tỉnh phía đông Ấn Độ và châu Úc.
Lan Hồ điệp được phát hiện từ năm 1750, đầu tiên được Rumphius xác định
với tên gọi là Angraccum album. Năm 1753, Linne đổi lại là Epidendrum amabile,
Blume - một nhà thực vật Hà Lan - định danh một lần nữa là Phalaenopsis
amabilis BI, thuộc họ phụ Vandoideae, tông Vandeae và tên này được dùng cho
đến ngày nay [16]
Hiện nay, có nhiều giống lan khác được lai với Phalaenopsis và lai ngay
trong cùng giố
ng, đã tạo ra được hơn 40 nghìn loài lai. Dựa vào đặc điểm màu sắc
hoa có thể chia thành các nhóm sau [16]
- Nhóm hoa có màu trắng: Hoa màu trắng với môi có những dấu mờ hay
điểm nhỏ.
- Nhóm hoa có màu nửa trắng: Cánh hoa trắng tuyền, như nhóm hoa màu
trắng, nhưng môi có màu vàng, cam, đỏ hay tím.
- Nhóm hoa có màu hồng: Hoa có màu sắc thay đổi từ màu hồng nhạt đến
tím với môi có màu sẫm.
- Nhóm hoa có màu vàng: Hoa có màu xanh vàng đến màu vàng kim loại.
- Nhóm hoa có sọc: Hoa có màu trắng, tím hay vàng và có sọc mờ hay đậm,
từ màu hồng
đến màu tím hay nâu, có sọc ở toàn hoa hay rìa hoa.
- Nhóm hoa có chấm tím: Hoa có chấm tím thay đổi theo giống.
- Nhóm hoa có màu mới: Đây là nhóm mới được lai từ bố mẹ hơn là những
giống lai được tuyển chọn. Những bố mẹ nổi bật trong nhóm này là: P.
amboinensis; P. fuscata; P. gigantea…
4
Theo Trần Duy Quý và cs [13] lan Hồ điệp có thể chia thành 2 nhóm chính:
i, hiện tại nơi đây trở thành trại sản xuất của công
ty và mỗi năm chỉ sản xuất vài ngàn cây, mang tính duy trì.
Có thể nói trước những năm 2009, kỹ thuật trồng hoa lan hồ điệp ở Việt
Nam vẫn ngang tính nhỏ lẻ, tản mạn, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới đã
được cải thiện đáng kể như kỹ thuật nuôi cấ
y mô, kỹ thuật canh tác, điều tiến nở 5
hoa, bảo vệ thực vật tuy nhiên vẫn chưa đồng bộ, chưa mang tính sản xuất hàng
hóa lớn, chưa có cơ sở nào sản xuất hoa lan hồ điệp với quy mô đủ lớn, mang tính
công nghiệp hiện đại.
1.1.3. Đặc tính thực vật của lan Hồ điệp
- Rễ: Hệ rễ của lan Hồ điệp không phân chia thành rễ chính, rễ phụ, rễ
nhánh, lông hút rõ ràng mà rễ của nó th
ường có dạng hình tròn, to mập, có nhánh
hoặc không phân nhánh. Có những nghiên cứu cho thấy rễ cây thuộc nhóm phong
lan cũng có khả năng quang hợp. Trong quá trình sinh trưởng của cây, các loài
nấm thường sống cộng sinh tại rễ lan để tương trợ cho nhau, vì thế rễ của hoa lan
còn gọi là rễ nấm. Việc tưới và bón phân cho hoa lan phải yêu cầu bón phân thật
loãng, chính là vì trên rễ cây có nấm sống cộng sinh [13], [16].
- Thân: Lan Hồ điệp thuộc loại lan đơn thân, thân ngắn không có giả hành,
không có th
ời kỳ ngủ nghỉ rõ rệt. Lan đơn thân sinh trưởng rất chậm chạp, thân
phát triển theo phương thẳng đứng, cành hoa mọc ở rìa thân hoặc nảy ra từ nách lá.
Hồ điệp rất khó có chồi nhánh, nên không dùng phương pháp tách cây để nhân
giống. Thân của lan Hồ điệp, ngoài tác dụng giữ cho cây thẳng đứng còn có chức
năng tích trữ chất dinh dưỡng và nước cho cây [13], [16].
- Lá: Lan Hồ điệp có lá to dày, đầy đặn, lá mọc đối x
ứng xếp thành hai
ặc khe khá lớn gọi là hoa “không đều đặn”. Trong những năm gần đây đã xuất
hiện một số biến dị ở lan Hồ điệp, có dạng cánh hoa biến dị tạo dáng của cánh
môi, dạng biến dị khác là khi 2 bông hoặc vài bông trùng với nhau tạo thành chùm
hoa kép. Tuy nhiên, những biến dị này đa số đều không được di truyền một cách
ổn định [22].
- Quả và hạt: Lan Hồ điệp chỉ
tạo quả nhờ thụ phấn nhân tạo hoặc nhờ côn
trùng. Vỏ quả có hình que, phát triển chậm, thường phải qua 4 tháng mới chín và
tách vỏ. Số lượng hạt trong một quả khác nhau do sự khác nhau về cây bố, mẹ
đem thụ phấn. Hạt của chúng thường rất nhỏ, có dạng bột, không có phôi nhũ,
trong điều kiện tự nhiên rất khó tự nảy mầm thành cây con, thường phải gieo hạt
trong môi trường vô trùng thích h
ợp mới có thể thu được cây con với số lượng lớn.
Khi gieo hạt trong môi trường này, thường để thể sinh chồi (protocorm) nảy mầm
thành cây [16].
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của lan Hồ điệp
Theo Nguyễn Quang Thạch ( 2005) [16], lan Hồ điệp là dạng cây hoa thân
thảo lâu năm, cây sinh trưởng khá chậm, trong điều kiện sinh trưởng thích hợp,
cách 40 ngày mới mọc ra 1 lá hoàn chỉnh. Khi cây có trên 4 lá, lúc đó chồi hoa
mới có khả n
ăng phân hóa. Thời gian ra hoa của đại đa số các giống lan được
trồng là 3 - 5 tháng mỗi năm. Mỗi một hoa đơn có thời gian ra hoa khoảng 20
ngày, thời gian ra hoa của mỗi cây hoa kéo dài 2 - 3 tháng.
7
1.1.5. Yêu cầu ngoại cảnh của lan Hồ điệp
- Nhiệt độ: Lan Hồ điệp có nguồn gốc từ miền Nhiệt đới, do đó nhiệt độ
thích hợp để trồng lan Hồ điệp tương đối cao. Nhiệt độ thích hợp nhất để trồng vào
nước tưới khác nhau. Lan Hồ điệp thuộc loai cây trồng chịu hạn tốt, do lá khá dày,
lượng nước chứa trong lá khá nhiều. Mùa xuân độ ẩm không khí cao, nên cách 3 -
7 ngày tưới nước 1 lần; nhưng vào mùa hè, mùa thu nhiệt độ không khí cao, lượng
nước bốc hơi mạnh, thông thường cách 1 - 2 ngày tưới đẫm nước 1 lần; còn mùa
đông nhiệt độ thấp, độ
ẩm không khí cũng thấp, để bảo đảm những điều kiện nhất
định về ẩm độ, đồng thời tránh cho lá tích nước, nếu lá tích nước sẽ làm cho lá bị
lạnh hại, vì thế thông thường vào lúc sau 10 giờ sáng và trước 15 giờ thì tưới
nước. Nếu điều kiện cho phép sau khi tưới nước nên để cho cây có đủ độ thông
thoáng khí và gió, để cho nước đọng trên mặt lá bay hơi hết, giảm sự phát sinh của
bệnh hại.
- Dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng, tuy nó không đòi hỏi số lượng
lớn nhưng lại phải đầy đủ các thành phần dưỡng chất [1], [3], [13], [16]. Tuy 8
nhiên, tùy thuộc vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây mà nhu cầu đối với thành
phần dinh dưỡng có khác nhau. Các nguyên tố chính cần thiết cho cây lan hồ điệp
là: nhóm các nguyên tố đa lượng: N; P; K; nhóm các nguyên tố trung lượng : Ca,
Mg; S.; nhóm các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, B, Mo Cây lan cần các
nguyên tố vi lượng với liều lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu được. Thường thì
chúng có sẵn trong nước tưới nhưng trong phân bón cũng cần bổ sung thêm các
nguyên tố vi lượ
ng, miễn sao vừa đủ để không làm hại cây.
- Giá thể: Yêu cầu phải tơi xốp và thoáng khí, đồng thời phải có khả năng
giữ nước như mùn cây, than bùn thô, hạt đá nhỏ, rêu… Dùng rêu để làm giá thể
trồng cây cần phải xử lý tiệt trùng và phải rửa 3 - 4 lần. Giai đoạn cây non của lan
Hồ điệp thường kéo dài, do vậy nếu dùng rêu để làm giá thể ươm cây con thì phải
chọn loại chất lượ
ng đặc biệt tốt. Loại rêu nếu không qua khử trùng ở nhiệt độ cao
- Bệnh
đốm gỉ cánh hoa: do nấm Curvularia eragostidis gây ra. Vết bệnh
ban đầu là một chấm nhỏ màu nâu hơi lồi lên, về sau lan rộng ra thành một đốm
lớn màu nâu nhạt. Bệnh làm hoa mất vẻ đẹp, mất giá trị thẩm mỹ hàng hóa.
- Bệnh thối đen ngọn: do nấm Phytophthora palmivora gây ra. Vết bệnh ban
đầu là một điểm nhỏ dạng hình bất định, ủng nước, màu nâu đen. Bệnh hại chủ
yế
u trên lá non, ngọn và chồi, làm đỉnh bị thối nhũn lan dần xuống dưới làm lá và
cuống bị thối, lá dễ rụng.
- Bệnh đốm lá: do nấm Phyllosticta sp. gây ra. Ban đầu vết bệnh là một đốm
nhỏ màu vàng hơi lõm, về sau phát triển theo chiều dọc của lá, có hình bầu dục, ở
giữa màu trắng xám, xung quanh màu nâu đen
- Bệnh thối nâu vi khuẩn: do vi khuẩn Erwnia carotovora gây ra. Vết bệnh
màu nâu nhạt, hình tròn mọng nước về sau chuy
ển sang màu nâu đen. Bệnh hại cả
lá, thân, mầm làm các bộ phận trên bị thối, kèm theo có mùi khó chịu.
- Bệnh thối mềm vi khuẩn: do vi khuẩn Pseudomonas gladiola gây ra. Vết
bệnh dạng hình bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều
rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh
khô tóp, có màu trắng xám.
Theo Nguyễn Quang Thạch và cs [16], có 6 loại bệnh do nấm gây ra đối với
lan Hồ điệp như thối đen, thán thư, phấn trắng, muội than, đốm nâu cánh hoa, rụng
hoa có thể dùng Appencarb 75DF, Score 250EC, Rovral 50WP, Anvil5SC 2 loại
bệnh do vi khuẩn gây ra là thối mềm và thối nâu. Bệnh do vi khuẩn gây ra rất khó
chữa, có thể phòng trừ bằng cách phun Streptomicin + Tetracylin 10
Sâu bệnh hại lan gồm các loài như: rệp bông, rệp sáp, rệp son, rệp bọc, bọ
c thị trường ưa chuộng.
Trong các năm 2006-2009, các tác giả Nguyễn Thị Kim Lý, Đặng Văn
Đông, Lê Đức Thảo tiếp tục nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm giống lan Hồ điệp
HL3 (Phalaenopsis amabilis Stockhon) và đã kết luận: Giống hoa lan hồ điệp HL3 11
có đường kính hoa từ 8,2-8,4 cm, chiều dài cành hoa 50-52 cm, số hoa trung
bình/cành là 6,8-7,2 hoa, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng cao và rất
ổn định, được người sản xuất cũng như người tiêu dùng rất ưa chuộng [10]. Giống hoa
lan hồ điệp HL3 đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận chính thức năm 2009.
Cũng từ năm 2006, Viện nghiên cứu Rau quả cũng đã nhập nội 7 giống hoa lan
hồ
điệp từ Hà Lan, từ đó Viện đã tuyển chọn được 2 giống hoa lan hồ điệp LVR2,
LVR4 có các đặc tính tốt phù hợp với điều kiện miền Bắc Việt Nam [20].
Các tác giả Trần Thị Thúy, Khuất Hữu Chung, Trần Duy Quý (2007) đã
đánh giá được các đặc điểm hình thái và động thái ra hoa của 31 giống lan Hồ điệp
thuộc chi Phalaenopsis ở Việt Nam và các giống nhập nộ
i. Dựa vào phân tích các
đặc điểm ưu việt của mỗi giống, thiết kế sơ đồ lai và đã lai thành công một số cặp
lai giữa lan Hồ điệp dại với lan Hồ điệp truyền thống và lan Hồ điệp nhập nội, và
đã tạo được vật liệu khởi đầu bằng phương pháp nuôi cây in vitro [18].
* Kết quả nghiên cứu nhân giống, chăm sóc, điều khi
ển sinh trưởng
Các nghiên cứu về nhân giống hoa lan đã được thực hiện ở nhiều cơ quan
khoa học và đã đạt được những thành công nhất định.
Hoàng Thị Lan Hương, Nguyên Xuân Linh và CS (2008) [8], đã nghiên cứu
tạo vật liệu khởi đầu từ mẫu hạt, mắt ngủ của cành hoa, bao gồm các nghiên cứu
về phương pháp khử trùng mẫu, ảnh hưởng của tuổi quả và môi trường gieo hạt
thích h
chế (TC) phù hợp cho nuôi trồng lan Hồ điệp và xác định được chế độ phân bón
thích hợp cho từng giai đoạn.
Các tác giả Trần Duy Dương, Trần Duy Quý, Đặng Văn Đông (2009) đã
nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật PCR để chuẩn đoán và loại bỏ mầm bệnh do vi
khuẩn trước khi đưa mẫu lan H
ồ điệp vào nuôi cấy mô. Các tác giả đã phân lập
được 15 mẫu khuẩn thuộc 2 nhóm vi khuẩn Ewinia cartovora và Pseudomonas
gladioli [2].
Khi nghiên cứu biện pháp kỹ thuật, nâng cao tỷ lệ sống, sinh trưởng, phát
triển của cây lan Hồ điệp (Phaleanopsis) sau in vitro, các tác giả Đinh Thị Dinh,
Bùi Trọng Hải, Đặng Văn Đông (2009) đã kết luận: Việc huấn luyện cây in vitro
trước khi ra ngôi bằng cách để ở trong phòng 3 ngày sau đó mang ra nhà lưới 3
ngày để cây quen dần với môi trường tự nhiên trước khi ra ngôi làm tăng tỷ lệ
sống, khả năng sinh trưởng của cây; Sử dụng thuốc trừ bệnh Daconil pha nồng độ
250g/100lít nước, xử lý ngâm giá thể trong thời gian 30 phút có tác dụng hạn chế
phát sinh một số bệnh trong vườn ươm; Chế độ nhiệt độ 25-32
0
C, phương pháp
tưới nước bằng bình phun tay 3 ngày 1 lần và định kỳ phun bổ sung chế phẩm B1
và phân NPK tỷ lệ 30:20:10 cho cây sau ra ngôi 2 tuần tuổi cho khả năng sinh
trưởng tối ưu nhất [1].
Không chỉ có các công trình nghiên cứu về biện pháp nhân giống hoa lan
mà các nhà khoa học trong nước còn quan tâm nghiên cứu về quy trình chăm sóc,
điều khiển nở hoa cho hoa lan. Từ năm 2002, Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn
Xuân Trường, Hoàng Thị Nga đã nghiên cứu điều khiển sự ra hoa cây lan h
ồ điệp
(Phalaenopsis ) ở quy mô nhỏ. Các tác giả cho rằng: Có thể điều khiển sự ra hoa 13
n
cây/năm.
- Xây dựng mô hình trồng lan Hồ Điệp quy mô công nghiệp và sản xuất được
20 vạn chậu hoa chất lượng cao/năm
14
1.3. Đối tượng nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm hoa lan hồ điệp
Đối tượng nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm của dự án này gồm 5 giống lan sau:
TT Tên giống Đặc điểm chính
1 Phal. weddding
Lá nhỏ, dày, xanh nhạt, hoa màu trắng, có 6 - 8
hoa/cành, ĐK hoa 4 - 6 cm, chiều dài hoa 35-40cm
2 Phal. Taida salu
Lá nhỏ, dày, xanh đậm, hoa màu tím sọc, có 7 - 10
hoa/cành, ĐK hoa 8 - 9 cm, chiều dài hoa 42-48cm
3 Phal. Sedrs
Lá to, dày, xanh đậm, hoa màu hồng, có 20 - 25
hoa/cành, ĐK hoa 5 - 6 cm, chiều dài hoa 40-45cm
4 Phal. Sala
Lá to, dày, xanh nhạt, hoa màu vàng sọc, có 8 - 10
hoa/cành, ĐK hoa 7 - 8 cm, chiều dài hoa 35-40cm
5 Giống HL.3
Lá to màu xanh vàng, hoa màu đỏ tím, có 7- 9
hoa/cành, chiều dài cành hoa đạt 45-50cm
Các giống này đều có nguồn gốc từ Hà Lan, được Viện Di truyền, Viện nghiên
ển giống
hoa chất lượng cao giai đoạn 2006 -2010” do Viện Nghiên cứu Rau quả chủ trì.
Trong đó đã duy trì và chăm sóc 7 giống lan Hồ Điệp, xây dựng quy trình lưu
gữi, chăm sóc cây lan hồ điệp trong nhà lưới.
Kết quả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Đài Loan
trong phát triển hoa lan Hồ Điệp ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Rau quả
chù trì, đã xây dựng
được quy trình xử lý lan hồ điệp, chăm sóc cây giai đoạn
sau phân hoá mầm hoa tại miền Bắc Việt Nam. Quy trình này đã được hội
đồng khoa học cấp cơ sở của Viện Nghiên cứu Rau quả nghiệm thu tháng 3
năm 2008
1.5. Tính khả thi và hiệu quả của dự án
1.5.1. Năng lực thực hiện dự án
- Cơ quan thực hiện chính của dự án là Viện Nghiên cứu Rau quả - Đây là
đơn vị chuyên ngành có nhi
ều năm nghiên cứu về lĩnh vực chọn tạo giống, nhân
giống và phát triển sản xuất hoa cây cảnh, trong đó có cây hoa lan hồ điệp
- Viện Nghiên cứu Rau quả có hệ thống thí nghiệm, hệ thống sản xuất giống
và hoa thương phẩm, tương đối hoàn thiện và khép kín, những năm qua, Viện
Nghiên cứu Rau quả thực hiện rất nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ, cung
ứng giố
ng hoa cho nhiều địa phương trong cả nước và đã gây dựng được uy tín và
niềm tin với khách hàng. 16
- Giai đoạn 2005-2006: Viện Nghiên cứu Rau quả được Bộ Nông nghiệp và
PTNT giao chủ trì dự án “ Phát triển giống hoa chất lượng cao”. Vì vậy có đầy
đủ điều kiện và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc triển khai dự án.
- Giai đoạn 2007 – 2010: Viện Nghiên cứu Rau quả được Bộ Nông nghiệp
- Cơ quan chủ trì dự án cũng đã phối hợp với một số cơ sở đầu tư xây dựng
nhà lưới hiện đại có đầy đủ hệ thống thiết bị điều chỉnh nhiệt độ, ánh sáng để điều
khiển sinh trưởng của Lan Hồ Đ
iệp ra hoa vào đúng dịp Tết như Công ty TNHH 17
Cửu Long (Bắc Ninh), HTX Đan Hoài (Hà Tây), Hợp tác xã Nông nghiệp Xuân
Quan ( Văn Giang - Hưng Yên) , Công ty TNHH Vạn Xuân (Tiên Du- Bắc Ninh)
Mặt khác, cơ quan chủ trì dự án cũng phối hợp với một số cơ quan khoa học
địa phương như TT ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Hải Dương, TT ứng dụng
và Chuyển giao công nghệ Hoà Bình, TT ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Hưng
Yên trong việc tiếp nhận sản phẩm và xây dựng mô hình sản xuấ
t hoa lan Hồ Điệp
thương phẩm quy mô công nghiệp.
1.5.2. Lợi ích kinh tế, khả năng thị trường và cạnh tranh của sản phẩm dự án
Kết quả điều tra cho thấy, nhu cầu tiêu dùng hoa lan Hồ Điệp ở miền Bắc
Việt Nam năm 2008 khoảng 50 vạn cây và nhu cầu này cứ tăng đều xấp xỉ khoảng
10% mỗi năm. Trong khi đó số lượng do một số c
ơ sở trong nước sản xuất chỉ đáp
ứng khoảng 20 - 25%. Như vậy nếu chúng ta nhân giống, trồng và xử lý ra mầm
hoa ở với các điều kiện ở Việt Nam thì chắc chắn giá thành sẽ giảm đi rất nhiều.
Kết quả dự án đạt được của các đơn vị thực hiện dự án và các tổ chức cá
nhân được nhận chuyển giao là 200.000 cây giống (chênh lệch so với nh
ập nội là
2.000đ/cây), cây hoa thương phẩm là 200.000 cây (chênh lệch so với nhập nội là
10.000đ/ cây), như vậy nếu dự án thành công lợi nhuận trực tiếp mang lại từ dự án
sẽ là 2,4 tỷ đồng.
Theo dự báo với tốc độ tăng trưởng như giai đoạn trước, thì đến năm 2015
nhu cầu tiêu dùng hoa lan Hồ điệp của Việt Nam sẽ tăng lên xấp xỉ khoảng 100
ng hoa và hoa thương phẩm, do tự sản
xuất trong nước nên không phải đi nhập nội sẽ nâng cao thu nhập cho người sản
xuất hoa, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng.
Dự án đã tạo được công ăn việc làm cho trực tiếp 50 người hoạt động chuyển giao
và sản xuất thử nghiệm và tạo thêm việc làm cho hàng ngàn người đang chuyển đổi sản
xuất nông nghiệ
p sang sản xuất hoa thương mại theo kiểu công nghiệp.
Dự án sản xuất hàng trong nước, thay thế hàng nhập nội, mà chủ yếu hàng
nhập tiểu ngạch (cả hàng nhập lậu) qua biên giới Trung Quốc, vì vậy góp phần
giảm tình trạng nhập siêu, giảm nhập lậu, tăng cường giữ vững an ninh quốc
phòng - đặc biệt vào giai đoạn Tết Nguyên Đán
1.5.4. Khả năng ứng dụng, chuyển giao, nhân rộ
ng kết quả của dự án
Viện Nghiên cứu Rau quả hiện đang có mối quan hệ hợp tác về cung ứng
giống hoa và hoa thương phẩm cho rất nhiều tổ chức, cá nhân ở khắp 22 tỉnh,
thành các miền Nam - Bắc. Mỗi năm, Viện sản xuất hàng triệu giống hoa thương
phẩm (cả cây nuôi cấy mô, cây giâm cành và củ giống), cung ứng và chuyển giao
công nghệ tới tận người sản xuất. Việ
n đang có kế hoạch hình thành hệ thống tổ
chức sản xuất, trong đó phân chia thành các nhóm: nhóm nuôi cấy trong phòng,
nhóm vườn ươm, nhóm cung ứng giống và chuyển giao quy trình sản xuất hoa
thương phẩm. Dự án sản xuất thử nghiệm lan hồ điệp đi vào hoạt động đang là 19
điều kiện tốt để Viện thực hiện kế hoạch trên, đồng thời góp phần thức đẩy công
tác chuyển giao nhân rộng kết quả cho sản xuất.
Trong quá trình hoàn thiện các công nghệ của dự án, cơ quan chủ trì dự
án là Viện nghiên cứu Rau Quả đã đón nhận rất nhiều đoàn của các doanh
nghiệp, các hợp tác xã, các chủ trang trại và cả hộ gia đình trồng hoa nhờ Vi
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐÃ THỰC HIỆN
2.1. Mô tả công nghệ, sơ đồ hoặc quy trình công nghệ (là xuất xứ của dự án) để
triển khai dự án
* Tóm tắt quy trình nhân giống hoa lan Hồ điệp bằng kỹ thuật Invitro
Kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và nuôi trồng)
Cây mẫu đầu dòng Ngồng hoa (cành hoa) Quả (hạt lai F1) ( 120 ngày )
Khử trùng kép Khử trùng
VW+ 100 ml ND + 10g đường + 2mg/lBA +0,3 mg/lK (mắt ngủ của cành hoa)
VW + 100ml ND + 10 g đường + 3mgK + 6,5g agar (đỉnh ngọn của cành hoa)
VW+ 100ml ND + 10 g đường + 3mg KT + 1g Pepton + 6,5g agar (gieo hạt)
Protocorm, chồi
Nhân nhanh
Nuôi cấy lát mỏng (0,3 – 0,5 mm)
(VW + 100mlND + 10g đường + 0,5mg2,4D + 0,3mgK +6,5g agar)
VW + 100 mlND + 10 g đường + 30gKT + 30g CR + 1 g Pepton + 6,5g agar
Quá trình tiếp diễn 1,5 – 2 tháng/lần cấy chuyển (không cấy chuyển quá 5 lần)
Cây giống in vitro
(Ghi chú: K – Kinetin; ND – nước dừa; CR – cà rốt; KT – khoai tây)
Hoa thương phẩm
22
2.2. Phân tích những vấn đề mà dự án cần giải quyết về công nghệ
Công nghệ hiện tại được thực hiện trong dự án là kết quả của đề tài nghiên cứu
khoa học. Vì vậy khi đi vào thực tế sản xuất cần phải hoàn thiện, làm chủ quy trình
công nghệ và các thông số kỹ thuật, ổn định chất lượng sản phẩm, vì vậy dự án
cần phải giả
i quyết các vấn đề sau:
TT Nội dung hoàn thiện Quy trình cũ
Các CT nghiên cứu để
hoàn thiện quy trình
I
Hoàn thiện quy trình nhân giống nuôi cấy mô lan Hồ điệp ở quy mô
công nghiệp
1
Cơ quan nuôi cấy
Ngồng hoa
Ngồng hoa, đỉnh sinh
trưởng, hạt lai F1
O
2
nồng độ 40% trong
thời gian 5 phút với ngồng
hoa và 10 phút với hạt
5 Nuôi cấy lát mỏng VW +1,0Kinetin
VW +1,0ppm BA + 0,3ppm
IAA + 0,2ppmNAA
6 Môi trường nhân nhanh
VW +150mlND
+50gKT+30gCR+
0,5ppmBAP
- VW +0,2ppmBAP+50gKT
+1,0gTHT
- VW + 1,0ppm Kinetin+
50gKT +1,0gTHT 23
7
Bổ sung chất PVP và
than hoạt tính để hạn chế
sự hoá nâu trong bình
nuôi cấy
Không
Bổ sung chất PVP và than
hoạt tính với các tỷ lệ khác
sang chậu 12 cm)
2
Nghiên cứu chất lượng
nước tưới
Không phân tích
EC và pH
Có phân tích EC, pH và
điều chỉnh theo yêu cầu của
cây ở từng giai đoạn
3
Bổ sung phân vi sinh Sử dụng phân
phối chế sẵn
Bổ sung một số vi sinh đặc
hiệu
4
Điều tiết nhiệt độ ánh sáng
nhằm thúc đẩy sự sinh
trưởng của cây qua các
giai đoạn
ít điều chỉnh và
không triệt để
Điều khiển nhiệt độ ánh
sáng theo yêu cầu của cây
qua các giai đoạn, sử dụng
các thiết bị điều khiển một
cách triệt để
5
Biện pháp xử lý phân hoá
mầm hoa
Xử lý quy mô
1000m
2
.
8
Ứng dụng chế phẩm sinh
học phòng trừ sâu bệnh
Không
Sử dụng bẫy bả sinh học,
thuốc trừ sâu bệnh sinh học
trong phòng trừ sâu bệnh
hại lan từ đó làm giảm ô
nhiễm môi trường.
9 Xử lý trước thu hoạch Không
Bón phân, phòng trừ sâu
bệnh trước khi tiêu thụ hoa.
10
Quản lý sắp xếp
vườn lan
Không
Quản lý vườn lan, sắp xếp
theo vị trí, để cây ra hoa
đồng đều, đúng thời điểm
11 Đóng gói, bảo quản Không
Đóng gói trong thùng carton
chuyên dụng, dùng giấy
mềm bao gói hoa và dây
buộc cố định chậu hoa.
2.3. Liệt kê và mô tả nội dung, các bước công việc cần thực hiện để giải quyết
những vấn đề đặt ra