ứng dụng tiến bộ kỹ thuạt để phát triển các loài song mây ở quảng nam - Pdf 13

1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG NAM
TRUNG TÂM ỨNG DỤNG VÀ THÔNG TIN KH – CN BÁO CÁO

DỰ ÁN
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐỂ
PHÁT TRIỂN CÁC LOÀI SONG, MÂY
Ở QUẢNG NAM
Mã số: NTMN.DA.08-2007
Quảng Nam, Năm 2010
2
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG NAM
TRUNG TÂM ỨNG DỤNG VÀ THÔNG TIN KH – CN


Phan Văn Phu
8647 Quảng Nam, Năm 2010
3
MỞ ĐẦU Ở nhiều nước Đông Nam Á, song mây là nhóm lâm sản có giá trị kinh tế
đứng hàng thứ 3 sau gỗ và tre nứa.

Ở Việt Nam, từ lâu mây song đã được khai thác chế biến và gieo trồng để
cung cấp nguyên liệu cho nhu cầu trong nuớc và xuất khẩu. Những sản phẩm
bằng song mây đã đi vào cuộc sống của người dân ở mọi miền đất nước. Mây
song làm đồ dùng gia đình, đan đác làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ: Bàn,
ghế, giường có giá trị xuất khẩu cao. Nhưng cho tới nay các công trình nghiên
cứu về cây song mây củ
a Việt Nam còn rất ít, chưa có nhiều các dự án sản xuất
giống, trồng, khoanh nuôi để phát triển các loài song mây;

Hiện nay, do nhu cầu của thị trường trong nước và trên thế giới ngày càng
tăng cùng với việc thu hoạch không bền vững và thiếu khâu kiểm soát ,nên
người dân đã tranh nhau khai thác quá mức, tùy tiện và hậu qủa là suy thoái
rừng càng ngày càng trầm trọng, đã được cảnh báo từ nhiều năm nay.


thiết thực hiệu quả nh
ất.

Trong quá trình triển khai thực hiện dự án đã được các ngành các cấp tạo
điều kiện hỗ trợ đắc lực như: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam, Ban chỉ
đạo dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phát triển các loài song mây ở Quảng
Nam” của Tỉnh, UBND của 09 huyện có dự án và đặc biệt là sự đồng thuận của
người dân trực tiếp tham gia cũng như ngu
ời dân trong vùng dự án. Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với lãnh
đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh Quảng Nam, các Sở ban ngành liên
quan đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện dự án.
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO - Kế hoạch phát triển mây của Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2007 - 2010
tại 5 vùng trồng chính: Tây Bắc, Đông Bắc, duyên hải Bắc Trung bộ,
duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên (Quyết định: 2242/QĐ-
BNN&PTNT ngày 07/8/2007).
- Dự án quốc gia về bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006-
2020 (Thống kê của Trung tâm Thông tin Bộ NN&PTNT).
- Gây trồng và phát triển song mây (Trung tâm UNESCO của Vũ Văn
Dũng - Lê Huy Cường - Hoàng Nam, nhà xuất bản V
ăn hóa Dân tộc năm
2000).
- Qui trình sản xuất giống, trồng, chăm sóc mây song, của Công ty cổ phần
phát triển mây song Dũng Tấn, tỉnh Thái Bình.

- Điện thoại: 0510.2240622 Fax: 0510.3810138
- Cơ quan phối hợp: Chi cục Lâm nghiệp Quảng Nam
Trung tâm Nông nghiệp và Khuyến nông
- Địa chỉ: 1A Phan Bội Châu,Tam Kỳ, Quảng Nam.
- Điện thoại: 0510.852643 Fax: 0510.852643
Chủ nhiệm dự án: Phan V
ăn Phu
- Học vị: Kỹ sư
- Địa chỉ: 54 Hùng Vương,Tam Kỳ, Quảng Nam
- Điện thoại: 0510.2240622 Fax: 0510.3810138 DĐ: 0905142209
- Thư ký dự án: Hồ Thị Mỹ Dung
- Học vị: Kỹ sư
- Địa chỉ: 54 Hùng Vương, Tam Kỳ, Quảng Nam
- Điện thoại: 0510.810138 Fax: 0510.810138,
VII. Cơ quan chuyển giao công nghệ:
7
-Tên cơ quan: Công ty cổ phần TMSX & PT mây song - Dũng Tấn
- Địa chỉ: Xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
- Điện thoại: 0363.510751 Fax: 0363.514169
Chương 2. Đặt vấn đề:
Song mây là 2 loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế trong nước, là
nguyên liệu cho nhiều mặt hàng xuất khẩu. Đặc biệt, đối với đồng bào miền núi,
Song mây là một trong những nguồn tài nguyên có giá trị trong đời sống hàng
ngày.
Song mây phân bố chủ y
ếu ở Đông Nam Á, ngoài ra còn một số ít loài
mây ở phía Bắc châu Đại Dương và châu Phi nhiệt đới. Toàn thế giới có 14 chi
và gần 600 loài Song mây. Riêng Đông Nam Á có 9 chi, 316 loài. Chi mây nếp
(Calamus) lớn nhất với 133 loài. Vùng tập trung là: Indonêsia, Malaixia,
Philippine,Thái Lan, Đông Bắc ấn Độ, Đông Dương và New Guinea. Nước sản

tỉnh: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sản lượng ước tính
1.500 – 2.000 tấn/năm. Tuy vậy, việc gieo trồng mây nếp vẫn dừng lại ở mức độ
kinh nghiệm của nhân dân ở một số làng xã thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ,
cần có nhiều nghiên cứu để cải tiến khâu tạo giống và trồng rừ
ng các loài mây
có giá trị kinh tế này.
Đến nay, do nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ, làng nghề phát triển nên
sản lượng Song mây khai thác hằng năm là rất lớn, dẫn đến nguồn tài nguyên
này bị cạn kiệt dần. Những năm gần đây, khi quan hệ thương mại giữa nước ta
với các nước trong khu vực và trên thế giới không ngừng được mở rộng thì nhu
cầu về mặt hàng lâm sản ngoài gỗ nói chung và Song mây nói riêng ngày càng

ng. Hơn nữa, từ trước đến nay hầu như Song mây đều được khai thác từ rừng
tự nhiên và ít được gây trồng; vì vậy đó cũng là lý do làm cho nguồn tài nguyên
này càng thu hẹp về diện tích và trữ lượng.
Tỉnh Quảng Nam có nguồn tài nguyên Song mây phong phú phân bố chủ
yếu ở các huyện miền núi với 10 loài sau: Calamus bousigoniin Becc, C.
tetradactylus Hance, C. rhabđocldus Burret, Pletôcmia elongata Mart ex Blume,
Daemonorops poilanei J. Dransf, C. platycanthus Warrb ex Becc
,
Plectocomiopsis geminiflora (Griff) Becc, C. dioicus Lour, Daemonorops
jenkinsiana Mart, C. walkeri Hance; đáng chú ý là các loài Daemonorops
poilanei, C.tetradactylus
, C. platyacanthus và C. walkeri đang được khai thác
nhiều nhất.

9
Toàn tỉnh có khoảng 1.449.698 người, nguồn sống của đồng bào dân tộc ở
các huyện miền núi chủ yếu là đi khai thác mây với thu nhập bình quân 30.000
đồng - 35.000 đồng/người/ngày, đó là khoảng thu không nhỏ, khai thác Song

10
cấp nguyên liệu thô không thể đáp ứng được nhu cầu của các nhà máy chế biến
trong tỉnh. Hậu quả của việc khai thác thiếu khoa học dẫn đến sự suy kiệt không
lường trước được các nguồn lực mây tre ở Quảng Nam, gây ảnh hưởng đến sinh
kế của người dân, những người sống nhờ vào Song mây và ảnh hưởng đến phát
triển rừng bền vững.
Từ các đi
ều kiện tự nhiên nêu trên, cho thấy Quảng Nam có đủ các điều
kiện về tự nhiên và xã hội để phát triển lâm nghiệp nói chung và các loài Song
mây nói riêng, đặc biệt là ở các huyện miền núi như Bắc Trà My, Nam Trà My,
Phước Sơn, Tiên Phước,…
Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của thành phần mây tre trong nền
kinh tế của Tỉnh.
Về nghiên cứu, mới có một số đề tài nghiên cứu về Song mây và chưa có
hệ
thống. Tóm lại, tình hình nghiên cứu và sản xuất Song mây ở nước ta có một
số đặc điểm sau:
- Còn thiếu các tài liệu điều tra cơ bản về Song mây, hiểu biết quá ít về
nhóm lâm sản có giá trị này. Đến nay, đã có một số nghiên cứu về Song mây
nếp; tuy vậy, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các đặc điểm phân loại,
phân bố và đặc tính sinh thái, có rất ít nghiên cứu về kỹ thuật trồ
ng hoặc có các
nghiên cứu về vấn đề này chỉ là những tư liệu chung chung, hầu như chưa có tài
liệu đầy đủ về một loài Song mây nào đó.
- Nguồn nguyên liệu Song mây chủ yếu dựa vào thiên nhiên, khai thác
chưa chú ý đến tái sinh tự nhiên hoặc trồng lại, khai thác đến đâu mất giống đến
đó nên không bảo đảm kinh doanh bền vững, lâu dài.
- Chúng ta có truyền thống trồng mây rất lâu đời nhưng vẫn mang tính tự
phát, ch
ưa có các khu trồng tập trung và thiếu chính sách khuyến khích. Các mô

- Xây dựng mô hình rừng giống, với qui mô 10 ha.
- Đào tạo kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho nông dân về kỹ thuật thu
hái, ươm gi
ống, trồng và thu hoạch, sơ chế mây.
III. Phạm vi nghiên cứu của dự án:
Dự án đựợc thực hiện ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Bao
gồm các huyện: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn,
Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Nông Sơn.
12
Về đối tượng nghiên cứu tập trung chủ yếu cho loài song mật ( Calamus
platyacanthus Warb. ex Becc) mây nếp (C. tetradactylus Hanc) và mây nước
(Calamus armarus Lour).
IV. Tính mới của dự án:
Dự án được thực hiện là một công trình vừa có tính khoa học, vừa có tính
phổ cập, vì dự án là một công trình tổng kết, nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về
Song mây so với các tài liệu đã có đến nay; đồng thời góp phần tạo vùng
nguyên liệu cho sản xuất các mặt hàng mây, tre
đan trong nước và xuất khẩu ở
tỉnh Quảng Nam. Qua dự án giúp cho người dân có thêm kinh nghiệm và kiến
thức về gây trồng Song mây; trước mắt tạo việc làm, góp phần vào công cuộc
xoá đói, giảm nghèo cho người dân miền núi của tỉnh Quảng Nam.
Dự án sử dụng tổng hợp các kinh nghiệm và kiến thức đã có về Song mây
cũng như các phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm đang được áp dụng trong
nghiên cứu nông, lâm nghiệ
p nên sẽ thu được kết quả tốt. Mặt khác, Song mây
là mặt hàng đang có nhu cầu lớn ở Quảng Nam và các tỉnh trong cả nước; đồng
thời, dự án sẽ thực hiện ở các huyện miền núi của Quảng Nam nên nhận được sự
ủng hộ của các cấp chính quyền và đồng bào các dân tộc miền núi.
V. Nội dung dự án:
1. Điều tra tình hình phân bố, kỹ thuật gây trồng, khả năng phát triển và

tỉnh lân cận (kỹ thuật bảo quản giống, xử lý hạt nẫy mầm và gieo ươm song
mây).
Chươ
ng 4. Tổng quan về ngành mây Việt Nam – Vai trò và vị trí trong
ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam
I. Nguyên liệu mây ở Việt Nam:
Cho đến nay, chưa có số liệu định lượng được công bố và cũng chưa có
nghiên cứu nào về lượng mây hiện tại ở Việt Nam. Trên thực tế, cũng rất khó
xác định được số lượng cụ thể của nguyên liệu mây bởi cây mây thường sống
xen lẫn với các loại gỗ khác trong r
ừng.
Việt Nam có 30 loài mây thuộc 6 chi, được phân bố ở các vùng sinh thái
khác nhau. Trong đó, 10 loài mây có giá trị kinh tế cao, được sử dụng phổ biến
trong sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Vùng có trữ lượng mây nhiều
nhất nằm ở duyên hải trung bộ (201.076 ha / 381.936 ha tổng diện tích rừng có
mây của Việt Nam – Theo MARD). Mây tự nhiên phân bố chủ yếu trong rừng ở
các vùng miền núi. Mây vườn, những năm gần đây đã được trồ
ng khá phổ biển
ở nhiều tỉnh, trong đó trọng tâm là một số tỉnh miền Bắc (Thái Bình, Hà Tây cũ,
14
Tuyên Quang, …) và miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, …). Cả hai
loại mây này đều có giá trị tăng thu nhập, không chỉ cho đồng bào dân tộc thiểu
số mà còn cho người nghèo nông thôn. Mây được thu hoạch và chế biến quanh
năm nhằm đảm bảo nguồn thu đủ mua thực phẩm cho gia đình. Tính riêng ở
vùng Bắc Trung Bộ, khoảng 4.000 người liên quan đến các hoạt động thu gom
mây từ rừng tự nhiên, chế biến mây…tạo tổng giá trị khoảng 1,6 triệu
USD/năm.
Có tới 09 trong tổng số 10 loài mây có giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh
tế cao của Việt Nam phân bố ở khu vực Bắc Trung Bộ. Đây là một minh chứng
rõ nét cho tính thích nghi của cây mây đối với điều kiện sinh thái (đất đai, khí

bán mây cho các cơ sở chế biến mây và công ty thương mại trong tỉnh hoặc
trong vùng. Những công ty này thường có xưởng chế biến riêng, họ có các hợp
đồng cung cấp nguyên liệu cho các công ty sản xuất hàng thủ công, họ thường ở
làng nghề hoặc các thành phố lớn. Mặc dù mây có đóng góp lớn về mặt kinh tế
xã hội và văn hoá đặc biệt cho những người nghèo, nhưng việc quản lý bền vững
ngu
ồn lực chưa được chú trọng dẫn đến suy giảm về nguồn nguyên liệu thô.
Việc khai thác nguyên liệu sẽ ngày càng khó khăn do nguyên liệu hiện chỉ còn
có ở trong rừng sâu. Giá nguyên liệu mây nước chẻ cũng đã tăng 43% giai đoạn
2001-2007, từ 14.000 đồng/kg năm 2001 đến 2007 đã là 20.000 đồng/kg, nhưng
lại có xu hướng giảm nhẹ năm 2008 do số lượng các đơn hàng sử dụng nguyên
liệu mây giảm dưới s
ức ép của suy thoái kinh tế thế giới. Bên cạnh nguyên liệu
mây rừng, nguồn nguyên liệu mây vườn (mây nếp) cũng đã tăng 67% từ 2001-
2007 và đạt mức giá 7.500 đồng/kg năm 2007 so với 4.500 đồng/kg năm 2001.
Cây mây ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu
nhập cho người dân. Tính riêng ở vùng Bắc Trung Bộ, khoảng 4.000 người liên
quan đến các hoạt động thu gom mây từ rừng tự nhiên, chế biến mây… tạo ra
tổng giá trị khoảng 1.6 triệ
u USD/năm.
Mạng lưới Mây Việt Nam, thành viên của Mạng lưới mây toàn cầu đã
được thành lập với sự tham gia của tất cả các tác nhân trong chuỗi giá trị là một
bước tiến mới hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của ngành chế biến mây tại Việt
Nam. Tính đến nay, mạng lưới mây đã thu hút trên 200 hội viên liên quan đến
trồng mây, chế biến mây và cung cấp các dịch vụ như cây giống, thiết b
ị chế
biến Mạng lưới cũng đã bao phủ 24 tỉnh thành có vùng nguyên liệu mây cả
16
nước, trong đó Nghệ An cũng là thành viên tích cực của mạng lưới với sự tham
gia của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các doanh nghiệp

Bắc
Trung
Bộ
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyên
Đông
Nam
Bộ
Đ.bằng
Sông
C.Long
Số làng
nghề
mây tre
337 77 45 121 34 0 26 73
% 47,3% 10,8% 6,3% 17% 4,8% 0 3,6% 10,2%
Nguồn: JICA – MARD 2002
17
Bản đồ phân bố làng nghề thể hiện ở bảng sau đây:
Nữ 206.404
Số lao động
tham gia sản xuất
trong làng nghề
Tổng 342.461
Nam 333.000
Nữ 258.000
Thu nhập trung
bình năm 2002
(đồng)
Trung
bình
288.000
Bắc
Hà Nội, Hà Nam, Thái
Bình
Trung
Thanh Hóa, Nghệ An,
Quảng Nam, Khánh Hòa,
Bình Định
Vùng
sản xuất
chính
Nam
Tây Ninh, T.P Hồ Chí
Minh

Nguồn: JICA – MARD 2002

Riêng đối với các sản phẩm mây, có thể phân thành 2 nhóm mặt hàng

độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm mặt hàng sợi tự nhiên hàng năm hoàn toàn
có thể đại diện cho tốc độ tăng trưởng của các sản phẩm mây.

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre, lá,
thảm sơn mài của Việt Nam trong năm 2008 đạt 224,7 triệu USD, tăng 3% so
với năm 2007. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu nhóm các mặt hàng mây tre lá,
thảm, sơn mài của Việt Nam trong năm 2008 là Đức đạt 37 triệu USD, Mỹ 32,3
triệu USD, Nhật Bản 31,1 triệu USD, Pháp 12,8 triệu USD, Tây Ban Nha 10,8
triệu USD, Đài Loan 10,4 triệu USD, (Nguồn Trung tâm Thông tin Bộ Công
Thương 2009)
Trong cơ cấu các ch
ủng loại hàng mây tre lá, thảm, sơn mài xuất khẩu chủ
yếu trong năm 2008, thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng bằng tre đan chiếm
tỷ trọng cao nhất với 55,6 triệu USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2007 và
chiếm 24,8% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre lá, thảm, sơn mài
của cả nước, trong khi tỷ lệ này của năm 2007 là 21,6%. Tiếp đến là các mặt
hàng bằng mây đan, trong năm 2008, kim ngạch xuất k
ẩu các mặt hàng bằng
mây đan của Việt Nam đạt 33,1 triệu USD, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm
2007 và chiếm 14,7% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre lá, thảm,
sơn mài của cả nước trong năm, trong khi tỷ lệ này của năm 2007 là 18,4%.
Trong các sản phẩm mây đan xuất khẩu trong năm 2008, thì kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng bàn ghế bằng mây đan đạt cao nhất với 15,3 triệu USD, giảm
9,5% so với cùng kỳ
năm 2007 và chiếm 46,2% tổng kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng mây đan của cả nước. Một số các sản phẩm khác xuất khẩu trong năm
19
2008 cũng đạt kim ngạch khá cao như: khay mây, giỏ mây, hộp mây, thùng mây,
rổ rá bằng mây đan; bát đĩa mây; kệ mây Các thị trường xuất khẩu hàng mây
tre đan chủ yếu của Việt Nam trong năm 2008 là Đức, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Tây

tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành hàng mây tre, đồng thời cũng là
20
phương thức rất tốt để tạo thu nhập cho người trồng mây, nhất là đối với những
nông dân nghèo sinh sống tại các vùng miền núi.
V. Vai trò của các làng nghề sản xuất hàng mây tre
Các làng nghề sản xuất hàng mây tre đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo việc làm và thu nhập ở vùng nông thôn, giảm tải dòng di cư ngày càng nhiều
ra các thành phố lớn và hạn chế nhiều bất ổn trong nền kinh tế xã hội của đất
nướ
c. Bên cạnh việc tạo việc làm cho 342.000 lao động, nếu phân tích trên góc
độ thu nhập hộ gia đình các hộ làm nghề năm 2008, các hộ gia đình làm hàng gốm
sứ, gỗ mỹ nghệ và sơn mài có thu nhập cao nhất (2,5 – 3 triệu đồng/tháng), tiếp
theo là các hộ gia đình làm hàng mây tre đan và dệt lụa (2,3 triệu đồng/tháng). So
với các hộ làm nông nghiệp trên cùng địa phương thì thu nhập của các hộ làm nghề
mây tre đan cao hơn 2,3 lần.
Thu nhập bình quân của ngườ
i làm nghề năm 2007 cũng đã tăng từ 30%
đến 103% so với năm 2001, trong đó mức tăng của nhóm hàng mây tre là 43%.
Như vậy, làng nghề có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo thu nhập cho
người lao động, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
trong các vùng miền. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ hội để tiếp tục gia tăng thu
nhập cho người lao động thông qua các hoạt động sản xuất tại các làng ngh

thông qua việc nâng cao hệ số sử dụng nguyên liệu, bố trí quy trình sản xuất hợp
lý (giảm chi phí đầu vào), đa dạng hóa sản phẩm trong đó tập trung vào các sản
phẩm có giá trị cao (tăng giá trị sản phẩm bán ra), tăng cường công tác thị
trường… Đây sẽ là những nhân tố góp phần tạo dựng nguồn thu nhập cao và bền
vững cho lao động làng nghề.
21
PHẦN II:

II. Mô tả các loài Song mây được dùng trong dự án.
- Mây nếp (Calamus tetradactylus Hanc)
22
Mây nếp mọc thành cụm, mỗi cụm gồm nhiều thân khí sinh mọc từ thân
ngầm. Hàng năm, mỗi thân ngầm mọc 2 chồi nhưng chỉ 1 chồi mọc thành thân
khí sinh. Thân dài và không phân cành. Mây nếp đẻ nhánh nhanh sau khi trồng 1
năm. Mây đẻ nhánh quanh năm mỗi nhánh là một sợi mây. Mùa mưa đẻ nhánh
mạnh hơn mùa khô. Từ các thân ngầm đẻ ra nhánh con, từ nhánh con lại đẻ ra
nhánh khác. Đường kính thân khí sinh từ 0,8-1,2cm, thân chia đốt và lóng, mỗi
lóng dài 15-40cm, đốt rất ít nổi nên rất thích h
ợp cho đan lát và làm hàng thủ
công mỹ nghệ. Cây 7 tuổi đã có khoảng 30 nhánh. Giá thể dùng cho mây leo là
tre, bạch đàn, keo xoan, phi lao nhưng tốt nhất là cây thân gỗ có tán cây thưa
nên rất thuận tiện cho trồng ở rừng thứ sinh. Mây nếp tăng trưởng tương đối
mạnh, một năm có thể dài được 3-4m. Một bụi mây có thể cắt liên tục 1-2 năm,
mỗi năm 1 lần. Sau 4-5 năm ra hoa kết quả lần đầu, mỗi cây có t
ừ 4-5 buồng
quả, mỗi buồng có khoảng1000 quả, như vậy mỗi cây cho khoảng 5000
quả/năm. Trung bình có từ 8000 đến 8500hạt/kg.
Mây nếp được sử dụng nhiều để đan mặt ghế và làm các đồ thủ công, mỹ
nghệ.
- Mây nước: (Daemonorops pierreanus. Becc)
Mây nước phân bố từ Bình Định, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế trở ra Bắc
gặp nhiều ở các tỉnh từ Hà Tỉnh tr
ở ra. Thân ngầm có dạng củ như măng tre, cổ
thân ngầm dài nối với thân ngầm mẹ. Thân ngầm được bao bọc bởi các bẹ
không có phiến lá. Bẹ non có lông màu vàng nhạt. Từ thân ngầm mọc ra rễ mập
dài 10cm, đường kính 3 mm. Thân khí sinh có bẹ lá màu lục bao bọc, khi non có
phần màu nâu và gai dẹt. Thân khí sinh dài 20 -30cm, lóng dài 20cm, đường
kính 1 – 1,5cm, thịt màu trắng. Cụm hoa đực dạng bông mo dài, có roi ở đầu.

III. Kỹ thuật tiến hành.
- Bảo quản và xử lý hạt nẩy mầm
Hạ
t mang về được ủ thêm 2-3 ngày cho chín đều sau đó bứt rời từng quả,
ngâm trong nước lạnh 24 giờ, đãi sạch vỏ và thịt quả, loại bỏ hạt màu trắng, lép
hong khô hạt trong bóng râm. Nếu chưa gieo cần bảo quản hạt trong cát ẩm 20%
bằng cách trộn hạt và cát theo tỷ lệ 1hạt/3 cát. Hàng tuần kiểm tra hạt và tưới
cho đủ ẩm và không bảo quản quá 3 tháng. Hạt song mật có lớp vỏ rất c
ứng để
tăng tỷ lệ nẩy mầm cần xử lý như sau: Ngâm hạt trong nước 2 sôi 3 lạnh trong
24
16 giờ hoặc trong dung dịch axít H
2
SO
4
nồng độ 3% trong 5 phút. Với phương
pháp này có thể đạt được tỷ lệ nẩy mầm của hạt từ 82% đến 91%.
- Chuẩn bị vườn ươm: Khi còn non Song mây cần che bóng khoảng 50 –
70 %, chiều cao dàn che có thể là 0,56 m hoặc trên 2m (tùy thuộc qui mô, điều
kiện kinh tế).
- Sản xuất cây giống
Gieo hạt trên luống có dàn che có độ che phủ 75%, với lượng gieo là
2kg/m
2
. Phủ kín hạt bằng lớp đất bột dầy 1cm, sau đó phủ lên trên bằng lớp rơm,
rạ để giữ độ ẩm và tránh mưa làm trôi hạt. Khi cây mầm xuất hiện lá đầu tiên
màu xanh, hình kim dài 2-3cm có thể cấy cây mầm trong bầu PE. Đất ruột bầu
theo tỷ lệ: 89% đất cát pha +10% phân chuồng hoai +1% phân lân, hoặc 85%
lớp đất mặt trong rừng + 10% cát +5% phân lân và đạm. Có thể dùng 90% lớp
đất mặt+ 8% đất bùn phơi khô đập nhỏ + 2 % phân lân và

+ Làm đất, bón phân:
Làm đất thủ công và cục bộ theo hố trồng cây với kích thước 2m
2
/hố
(theo hình tam giác đều mỗi cạnh 2m), tiến hành nhặt hết đá lẫn, rễ cây trong hố
và sau đó đào hố. Hố đào có kích thước 40cm x 40cm x 40cm, vị trí hố đào nằm
trên 3 đỉnh của tam giác đều nằm giữa diện tích đã cuốc cục bộ và có cạnh là
1m, khi đào để lớp đất mặt phía trên miệng hố, lớp đất dưới để riêng phía dưới
hố, nhặt hết đ
á lẫn, rễ cây trong hố. Khi lấp hố tiến hành lấp lớp đất mặt xuống
đáy hố, khi lấp được 1/2 hố đào thì tiến hành bón phân (gồm 2kg phân chuồng
và 100g phân NPK/hố) sau đó trộn đều hỗn hợp đất và phân trong hố, xong tiếp
tục lấp đất cho đầy hố. Công việc bón phân và lấp hố thực hiện xong trước khi
trồng từ 10-15 ngày.
+ Mật độ và kỹ thuật trồng:
Mậ
t độ trồng là 1.500 cây/ha, cây được bố trí theo cụm, mỗi cụm 3 cây
(500 cụm/ha) cự ly hàng cách hàng là 7m, cự ly cụm cách cụm là 3m. Trên mỗi
cụm, cây trồng được bố trí theo hình tam giác đều mỗi cạnh 1m (cây bố trí tại
đỉnh tam giác đều). Khi trồng dùng cuốc khơi lại chính giữa hố đã lấp, chiều sâu
hố khơi lớn hơn chiều dài bầu cây khoảng 2-3cm, chiều rộng hố lớn hơn chu vi
bầu cây. Sau đó xé bỏ v
ỏ bầu cây nhưng không được làm vở kết cấu ruột bầu,
không để cây nghiêng ngã, rồi đặt cây ngay ngắn chính giữa hố và lấp đất ém
chặt từ ngoài vào trong tránh làm đứt rễ, khi lấp phải lấp miệng hố có hình mâm
xôi để tránh nước mưa ứ đọng trong hố. Chú ý khi trồng phải bố trí hàng cây dọc
theo đường đồng mức, cụm cây bố trí so le theo hình nanh sấu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status