ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao, phục vụ cho tiêu dùng và hướng tới xuất khẩu vùng ngoại ô thành phố thanh hoá - Pdf 14

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Tuyến
i
Lời cảm ơn
Để hoàn thành Luận văn thực tập tốt nghiệp này, trớc hết Tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và
phát triển nông thôn, trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Những ngòi
đã trang bị cho Tôi hành trang kiến thức trên giảng đờng đại học và
giúp Tôi khi gặp khó khăn trong quá trình học tập.
TôI xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy
giáo- Tiến sĩ Nguyễn Mậu Dũng, ngòi đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn
và động viên Tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú trong phòng nông nghiệp
thành phố Thanh Hoá đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để Tôi hoàn
thành tốt nội dung đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Tuyến
ii
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………… …………… ….90
PHỤ LỤC……………………………………………………… …….91

Bảng 4.22: Triển vọng mở rộng diện tích trồng giống mới 77
Bảng 4.23: Cây hoa với cơ hội việc làm được tạo ra 79
Bảng 4.24: Thu nhập từ trồng hoa trong tổng thu nhập của hộ 80
Bảng 4.25: Những thay đổi về nước và sự ô nhiễm không khí do sản xuất hoa thuộc phạm
vi dự án 83
Bảng 4.26: Sự tham gia của phụ nữ trong những hoạt động của dự án 84
iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình phân tích vấn đề 38
Biểu đồ 4.1: Số hộ trồng hoa trong các vùng dự án 2003-2007 51
Biểu đồ 4.2: Số hộ trồng hoa giống mới trong các vùng dự án 2003-2007 52
Biểu đồ 4.3: Số hộ điều tra có trồng hoa giống mới 53
Biểu đồ 4.4: Hiệu quả kinh tế sản xuất hoa theo vùng dự án 66
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Nội dung Ký hiệu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

KHKT

NN
PCT
TBKT
TN
XDCB
vi
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp Việt Nam trong vài năm trở lại đây đã có những bước
phát triển đáng kể về khoa học, góp phần không nhỏ vào việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ làm tăng thêm giá trị sử dụng ruộng đất,
tăng năng suất, tăng thêm thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo cho
nông dân. Để có được thành công đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ từ
các dự án ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất.
Cùng với sự phát triển của đất nước, hàng loạt các dự án ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật đã được triển khai và đạt được nhiều bước tiến vượt
bậc. Tuy nhiên, trả lời cho các câu hỏi: Dự án thành công đến mức nào?
Tình hình thực hiện của dự án ra sao? Kết quả đạt được của dự án? …
cần phải xem xét đánh giá tác động trên nhiều lĩnh vực, nhiều góc độ.
Ngày nay, cùng với chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng
cao, nhu cầu làm đẹp càng được chú trọng. Hoa tươi là sản phẩm không
thể thiếu cho cái đẹp hàng ngày trong cuộc sống của con người. Nhiều
nước trên thế giới đã sản xuất hoa với quy mô công nghệ tiên tiến, trang
bị hiện đại và thu được lợi nhuận lớn. Ở nước ta hoa là sản phẩm nông
nghiệp ngày càng có giá trị về kinh tế. Hoa được trồng nhiều ở các thành
phố lớn như Đà Lạt, Hà Nội, Sài Gòn, Sa Pa và các vùng ven đô có nhiều
lợi thế so sánh trong việc sản xuất tiêu thụ và phát triển nghề trồng hoa.

Đông Cương là một xã thuần nông, nằm ở phía Tây bắc thành phố
Thanh Hoá cách trung tâm thành phố gần 5km, có điều kiện kinh tế xã
hội thuận lợi để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sản xuất hoa cung cấp cho
tiêu dùng và xuất khẩu. Vì thế Đông Cương được lựa chọn để triển khai
2
dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất hoa theo
hướng công nghệ cao, phục vụ cho tiêu dùng và hướng tới xuất khẩu
vùng ngoại ô thành phố Thanh Hoá. Dự án được thực hiện từ năm 2003
và kết thúc vào cuối năm 2005, dự án đến nay đã đạt kết quả bước đầu
khả quan: Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp tiếp cận với công
nghệ mới, đưa ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật có hiệu quả gắn liền với
nhu cầu thị hiếu tiêu dùng phát triển sản phẩm mới, tạo ra chuyển biến
quan trọng để thay đổi nhận thức, tập quán lạc hậu của người nông dân
trong sản xuất cận đô thị hiện nay.
Tuy nhiên, sau khi dự án kết thúc, đến nay những câu hỏi như: Dự
án có đạt được mục tiêu đề ra hay không? Dự án có những tác động như
thế nào tới tình hình sản xuất và đời sống của người dân trong xã? Kinh
nghiệm rút ra khi làm dự án? Có nên phát triển dự án tiếp theo hay
không? Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đánh giá tác động của dự án: “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô
hình sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao, phục vụ cho tiêu dùng và
hướng tới xuất khẩu vùng ngoại ô thành phố Thanh Hoá”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tác động của dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô
hình sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
-Tìm hiểu tình hình triển khai thực hiện dự án ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật xây dựng mô hình sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao.
- Đánh giá những tác động của dự án ứng tiến bộ kỹ thuật xây

dịch vụ) để thoả mãn nhu cầu mong muốn. Tuỳ theo mục đích, dự án có
thể được chia thành ba loại: Dự án đầu tư kinh doanh, dự án nghiên cứu,
dự án phát triển.
Dự án có các đặc điểm cơ bản sau: Dự án luôn luôn mới mẻ, sáng tạo
và duy nhất. Sự phụ thuộc lẫn nhau trong mục đích cũng như trong chuỗi liên
kết công tác là một tất yếu trong tiến trình thực hiện dự án; Dự án nhằm đáp
ứng một nhu cầu đã được nêu ra; Dự án có sự xác định rõ ràng nhóm hưởng
lợi; Dự án bị khống chế bởi kỳ hạn; Dự án có vòng đời kể từ lúc hình thành,
phát triển đến kết thúc; Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực (nguồn lực
tài chính, nguồn lực vật lực, nguồn lực nhân lực); Dự án có yêu cầu chặt chẽ
về kết quả, chất lượng, chi phí và thời gian; Dự án có sự tham gia của nhiều
người trong nhiều tổ chức; Dự án luôn tồn tại trong một môi trường hoạt
động phức tạp và không chắc chắn; Dự án có cấu trúc hành chính độc lập
5
từng bộ phận hoặc toàn bộ (tùy thuộc vào giữa dự án tư nhân hay nhà nước,
tùy thuộc vào cách thức quản lý…).
Như vậy, đánh giá đúng bản chất và tính phức tạp của dự án là
tiếp cận được ngưỡng cửa của thành công.
* Đánh giá dự án
Đánh giá dự án là bước tiếp theo của chu trình dự án, là quá trình kiểm
định tính đúng đắn, hiệu quả và ảnh hưởng của các hoạt động dự án so
với mục tiêu đề ra. Việc đánh giá dự án là hết sức cần thiết trong thẩm
định dự án, thực hiện dự án và kết thúc dự án. Đó là công việc không thể
thiếu trong công tác dự án. Việc đánh giá dự án nhằm:
a) Biết được tính khả thi của dự án;
b) Biết được tiến độ thực hiện của dự án;
c) Biết được kết quả, tác động của dự án đến đời sống, kinh tế và môi trường;
d) Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ thực hiện một dự án;
e) Tìm ra những cơ hội để thực hiện dự án tiếp theo.
Bên cạnh đó, đánh giá dự án còn để nhằm trả lời các câu hỏi như:

dự án về các phương diện kinh tế, đời sống, văn hóa, giáo dục, xã hội và môi
trường. Quá trình đánh giá cần có sự tham gia của các bên liên đới đến dự án,
bên thực hiện, bên hưởng lợi, bên bị ảnh hưởng và phía tài trợ. (Đỗ Kim
Chung, 2003)[5].
* Tiến bộ kỹ thuật: Là những tiến bộ kỹ thuật được nghiên cứu ở
giai đoạn thử nghiệm.
7
* Kỹ thuật tiến bộ: Là những thành tựu khoa học và công nghệ đã
được khẳng định ở thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của thị trường, bao gồm
cả kỹ thuật, tổ chức, kinh tế và xã hội.
(Nguồn: Đỗ Kim Chung, 2005)[4]
2.1.2 Một số vấn đề lưu ý khi đánh giá tác động của dự án
Với vai trò là một phần quan trọng của đánh giá dự án, công tác đánh giá
tác động của dự án cần phải lưu ý một số vấn đề sau:
• Một dự án khi đưa vào đánh giá biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau
do đó, người đánh giá cần phải có quan điểm hệ thống, toàn diện khi xem xét
và phân tích mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng, giữa sự đồng bộ và
cục bộ;
• Nên dựa vào mục tiêu của dự án để đánh giá hơn là xem xét đơn
thuần việc thực hiện các hoạt động của dự án;
• Cần phải xem xét dự án trong mối quan hệ với các dự án có liên quan khác;
• Kết quả và hiệu quả đầu tư phụ thuộc nhiều vào phương thức sử
dụng công trình dự án và quyết định của nông dân vùng dự án;
• Nhiều nhóm hưởng lợi khác nhau được hưởng lợi từ công trình (nhóm
mục tiêu và những người ngoài nhóm mục tiêu);
• Dân là người cung cấp thông tin cơ bản nên cần phải có phương pháp
khoa học xử lý các thông tin thu lượm từ dân khi đánh giá dự án;
• Lợi ích, kinh tế, xã hội và môi trường nhiều khi mang tính gián tiếp và
thường khó định lượng được;
Nghiên cứu

2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa
2.2.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
Trên thế giới có 1,2% diện tích đất để trồng hoa, nhưng nó lại chiếm
trên 6% giá trị hàng hoá sinh ra từ đất. Lợi nhuận từ trồng hoa gấp 5 lần
trồng lúa, ở các nước tiên tiến, nhu cầu và chi phí về hoa tươi khá cao:
Pháp 140 USD, Hà Lan 65 USD, Thụy Sỹ 67 USD, Mỹ 43 USD, Canada
39USD/người/năm… Sản lượng hoa tươi theo thời gian, từ 1996 - 2002 sản
9
lượng tăng lên 2 lần giá trị sản lượng từ 25 tỷ USD lên 45 tỷ USD. Nhiều
nước có nền công nghiệp trồng hoa đạt giá trị sản lượng rất cao như Hà
Lan 4,5 tỷ USD/năm; Mỹ 3,9 tỷ USD/năm; Nhật Bản 3,2 tỷ USD/năm.v.v.
Các nước Đông Nam Á có sản lượng hoa lớn bao gồm: Thái Lan, Đài Loan,
Singapo, Trung Quốc. Một số nước chú ý đến công nghệ trồng hoa và đã
áp dụng công nghệ cao vào sản xuất như:
Hà Lan và Nhật Bản là hai nước có nền công nghiệp sản xuất hoa
tươi hiện đại, áp dụng đồng bộ từ khâu chọn giống, nhân giống, kỹ thuật
thâm canh, chăm sóc, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh đến thu hái, bảo
quản… trong đó một số khâu được tự động hoá hoàn toàn.
Công ty Richel của Pháp sản xuất hoa công nghệ cao trong hệ thống
nhà kính điều tiết chế độ ánh sáng, ẩm, nhiệt độ tối ưu đối với cây hoa, đạt
được tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nhất và chất lượng hoa tốt nhất.
Công ty Canation của Isaen tổ chức sản xuất hoa công nghệ cao với
hệ thống tự động điều tiết bởi phần mềm máy tính thực hiện quy trình tưới
nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh cho một số loài Cúc, Hồng, Đồng tiền,
Cẩm Chướng.
Trung tâm nghiên cứu rau quả và các công ty trồng hoa của Đài Loan
đã nghiên cứu hợp lý hoá tất cả các khâu trong sản xuất hoa vì vậy hoa của
họ có năng suất, chất lượng cao nhưng giá thành lại thấp hơn nhiều so
với hoa của các nước khác.

Nam cũng rất phong phú và đa dạng. Một số loại hoa được ưa chuộng và
tiêu dùng nhiều như: Hồng, Cúc, Layơn, Đồng tiền, Phong Lan… Nhiều
vùng chuyên hoa lớn đã có lâu đời ở nước ta như Đà Lạt, Huế, Hà Nội…
11
Năm 2006 một Festival hoa thế giới được tổ chức tại Đà Lạt đã nói lên ý
nghĩa và nói lên giá trị nghề trồng hoa ở nước ta.
Không chỉ các nước tiên tiến, giàu có mà ngay nước ta đã có các cơ
quan chuyên nghiên cứu về hoa, hàng năm đã chọn tạo được những giống
hoa mới bổ sung vào tập đoàn hoa đã có sẵn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng ngày càng nhiều của người dân. Các biện pháp kỹ thuật tiên tiến như
nuôi cấy mô, giâm cành, tách mầm để nhân giống cũng được áp dụng khá
phổ biến nhằm cung cấp nhanh nhu cầu về cây giống cho sản xuất. Bên cạnh
đó các biện pháp kỹ thuật thâm canh, việc sử dụng các chất kích thích sinh
trưởng, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái và bảo quản cũng được áp dụng nhằm
nâng cao năng suất và chất lượng hoa tươi. Những kết quả này đã góp phần
vào việc thúc đẩy phát triển nghề sản xuất hoa ở Việt Nam. Diện tích trồng
hoa của Việt Nam tăng nhanh trong mấy năm trở lại đây, nhưng chủ yếu vẫn
là trồng hoa ngoài tự nhiên; năm 2003 lên tới 10.770 ha so với diện tích trồng
hoa trong nhà chỉ có 430 ha. Đã đến lúc người trồng hoa không chỉ quan tâm
tới số lượng mà còn đặc biệt chú ý tới chất lượng và do đó vấn đề tìm kiếm
con đường ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm hoa.
Đến năm 2004, Công ty hoa Hafarm (Đà Lạt - Lâm Đồng) đã ứng dụng
công nghệ mới vào sản xuất hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily giống nhập từ Hà
Lan với 28 ha nhà lưới. Kết quả cho năng suất và thu hiệu quả kinh tế
cao gấp 20-30 lần so với trồng thông thường.
Viện sinh học Nông nghiệp (trường Đại học Nông Nghiệp) nghiên
cứu thành công và đưa vào sản xuất các giống Cúc, Đồng Tiền, Lan bằng
giống nuôi cấy mô tế bào nhằm đáp ứng phần nào cây giống có chất
lượng cao cho sản xuất.
Trung tâm nghiên cứu Rau - Hoa - Quả (Hà Nội) đang đầu tư hàng

13
thực hiện dự án đó bởi giá trị kinh tế của việc nhập khẩu gỗ thấp hơn rất
nhiều đối với những thiệt hại của việc khai thác gỗ và giá trị du lịch.
Chính vì vậy mà hiện nay, ở nước Nhật những cánh rừng lớn vẫn tồn tại
và trở thành địa điểm du lịch lý tưởng đem về cho đất nước những
khoản thu nhập không hề nhỏ.
* Malaysia
Ở Malaysia vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn
phòng Kinh tế Kế hoạch. Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện
các dự án xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân. Văn phòng
Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trung ương, chịu
trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngân sách
phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.
Malaysia đánh giá cao hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ. Mục đích lớn
nhất của Malaysia là nhận hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người
thông qua các lớp đào tạo.
Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn
mực. Song chính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi
đánh giá. Kế hoạch theo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án
và trong lúc triển khai.
Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợ trong hoạt động kiểm tra,
giám sát. Phương pháp đánh giá của đất nước này là khuyến khích phối hợp
đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằng cách hài hòa hệ thống
đánh giá của hai phía. Nội dung đánh giá tập trung vào hiệu quả của dự án so
với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào
kết quả.
14
Hoạt động theo dõi đánh giá được tiến hành thường xuyên. Malaysia
cho rằng công tác theo dõi đánh giá không hề làm cản trở dự án, trái lại sẽ
giúp nâng cao tính minh bạch, và đặc biệt là giảm lãng phí.

các nhà thầu, tư vấn và đối tác nước ngoài, giúp chủ đầu tư có biện pháp giải
quyết kịp thời những vướng mắc hay phát sinh trong quá trình thực hiện.
Phân bổ nguồn lực thích hợp là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng
và tiết kiệm chi phí. Trong giai đoạn đầu xây dựng, khi hầu hết các hạng mục
mới chỉ liên quan tới các công trình dân dụng, Ban kiểm soát kỹ thuật có thể
chỉ bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực kết cấu đập và dân dụng (bê tông
và địa kỹ) và thuỷ lực học. Trong các giai đoạn sau, thành viên của Ban kiểm
soát kỹ thuật cần bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế và lắp đặt
tuabin phát điện, các chuyên gia thiết bị cơ khí hạng nặng và thiết bị điện
ngoại vi, bao gồm các thiết bị đo đạc, và các chuyên gia vận hành thử. Công
tác đánh giá thực địa của Ban kiểm soát kỹ thuật phù hợp với lịch trình và
điều chỉnh theo tiến độ xây dựng. Ban kiểm soát làm việc với các thành viên
cao cấp của chủ đầu tư và trình bày các báo cáo cũng như những khuyến cáo
của Ban. Khi phát sinh những vấn đề khẩn cấp, chủ đầu tư và Ban kiểm soát
thực hiện cơ chế làm việc giữa các đợt đánh giá định kỳ.
Đảm bảo tính khách quan của Tổ chức giám sát xây dụng, thiết lập và
vận hành hiệu quả Ban kiểm soát kỹ thuật TRB độc lập và Ban kiểm soát kỹ
thuật nội bộ, phân bổ hợp lý nguồn nhân lực kỹ thuật cao cấp là một số
những biện pháp hữu hiệu giúp các dự án thuỷ điện lớn của Việt Nam đạt
được các mục tiêu, đáp ứng tiến độ xây dựng và tuân thủ dự toán.
* Lào
Lào là đất nước kém hơn Việt Nam nhưng sự đầu tư vào việc bảo tồn
và phát triển các khu di tích của họ có tình bền vững rất cao. Với những đàn
voi lớn và nền văn hóa lâu đời, hàng năm, Lào là điểm đến phù hợp cho rất
16
nhiều khách du lịch. Điều đó khiến cho ngành du lịch của Lào vẫn dẫn đầu
trong tổng GDP. Trong khi đó, ở Việt Nam những động vật quý hiếm đang
dần biến mất và mới đây là sự suy giảm của đàn voi ngay cả ở Bản Đôn (là
địa danh nổi tiếng với số lượng voi chiếm gần 80% ở Việt Nam) đang báo
trước một sự suy giảm đáng kể lượng khách du lịch trong tương lai…

3.1.1.1 Vị trí địa lý
Đông Cương thuộc thành phố Thanh Hoá là một xã nằm ở phía
Tây Bắc của thành phố cách trung tâm thành phố gần 5km. Xã có vị trí
thuận lợi để sản xuất nông nghiệp và dễ dàng tiếp cận với thị trường tiêu
thụ cũng như ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất phục vụ
tiêu dùng và xuất khẩu. Đông Cương giáp với các địa phương sau:
- Phía Bắc giáp với xã Thiệu Vận, Thiệu Khánh (huyện Thiệu Hoá).
- Phía Nam giáp phường Đông Thọ, xã Đông Lĩnh (huyện Đông
Sơn).
- Phía Đông giáp phường Hàm Rồng, phường Đông Thọ.
- Phía Tây giáp xã Đông Lĩnh (Đông Sơn), xã Thiệu Giao (Thiệu Hoá).
18
Xã Đông Cương gồm có 9 thôn thuộc 3 làng: Làng Đại Khối: Thôn1,
Thôn 2, Thôn 3. Làng Hạc Oa: Thôn 4, Thôn 5, Thôn 6. Làng Định Hoà:
Thôn 7, Thôn 8, Thôn Đình Hương.
3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn
Là xã nằm ở ngoại ô thành phố Thanh Hoá nên Đông Cương nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng có nhiệt độ cao, mùa đông
không lạnh lắm, mùa hè tương đối mát mẻ nhưng có một số ngày có gió
tây khô nóng (hàng năm có khoảng 20-30 ngày). Lượng mưa trung bình
hàng năm là 1730-1980 mm, chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 10
với lượng mưa chiếm 85% lượng mưa cả năm, tính biến động của lượng
mưa dẫn đến khó khăn trong sử dụng nguồn nước cũng như tổ chức sản
xuất nông nghiệp và đời sống.
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế, xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm về đất đai
Theo số liệu thống kê của Uỷ ban nhân dân xã Đông Cương năm
2007 tổng diện tích tự nhiên của xã là 803,6 ha được sử dụng theo nhiều
mục đích khác nhau. Trong đó, diện tích sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp là 659,4 ha chiếm 82,06% tổng diện tích đất tự nhiên. Qua 3 năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status