Nghiên cứu giâm hom và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho ba dòng Bạch đàn đã được chọn lọc PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 - Pdf 13

i MỤC LỤC
TT Nội Dung Trang
I
PHẦN I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1
1.1
Cơ sở pháp lý của đề tài
1
1.2
Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1
1.2.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2.2
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2
1.3
Địa điểm, đối tượng và nội dung nghiên cứu
3
1.3.1
Địa điểm nghiên cứu
3
1.3.2
Đối t

2.2
Kết quả nghiên cứ
u và thảo luận
15
2.2.1
Nghiên cứu giâm hom
15
2.2.2
Bản hướng dẫn giâm hom
23
2.2.3
Đánh giá sinh trưởng mô hình rừng trồng
26
III
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
29
3.1
Kết luận
29
3.2
Kiến nghị
30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

PHU LỤC
ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


ABT:
PNCTIV, PNCT3, PNCT4
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
Nguyên liệu giấy
Phân vô cơ hỗn hợp đạm, lân, kali
Chiều cao
Chiều cao trung bình
Chiều cao vút ngọn
Đường kính ở vị trí sát mặt đất
Tỷ lệ sống
Xác xuất tính được
Chỉ số sinh trưởng
Hệ số biến động
Khi bình phương
Tổng số cây
Công ty lâm nghiệp
Công thức thí nghiệm
Tỷ lệ ra rễ
Chỉ số ra rễ
Indol butyric axit
Indol axetic axit
Chế phẩm ra rễ của Trung Quốc
Các dòng bạch đàn có triển vọng được chọn lọc
iv

TÓM TẮT
Việc nghiên cứu đưa các giống cây nguyên liệu giấy năng suất cao vào sản
xuất đại trà là việc làm cần thiết và thường xuyên, nhằm ngày càng đưa năng suất
rừng trồng cây nguyên liệu giấy lên cao hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho
người làm nghề trồng rừng NLG, đồng thời làm giảm giá thành sản xuất giấy, tăng
khả năng cạnh tranh của giấy sản xuất trong nước với giấy nhập kh
ẩu.
Các dòng vô tính bạch đàn có ký hiệu PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 đã được
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy chọn tuyển có khả năng cho năng suất cao tại
Vùng trung tâm Bắc Bộ.
Năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu giâm hom và xây dựng
mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc PNCTIV,
PNCT3 và PNCT4” được Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy triển khai nhằm
tìm ra giải pháp kỹ thuật nhân nhanh các dòng bạch đàn nói trên thông qua
phương pháp giâm hom chồi non; đồng thời trên cơ sở nguồn cây giống nhân được
đề tài tiến hành thiết lập mô hình trồng rừng thâm canh năng suất cao cho 3 dòng
PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 làm mô hình cho việc khuyến cáo cho các đơn vị và hộ
gia đình trồng rừng nhanh chóng áp dụng giống mới vào sản xuất.
Các nghiên cứu thử nghiệm giâm hom đã được triển khai tại vườn ươm của
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy. Sau một năm, kết quả
đã xây dựng được bản
hướng dẫn kỹ thuật giâm hom chồi non cho cả 3 dòng vô tính, trên cơ sở rút ra
được các giải pháp kỹ thuật cơ bản thông qua thử nghiệm đó là: Loại chất kích
thích ra rễ tốt nhất, nồng độ chất kích thích phù hợp nhất, độ cao cây cấp hom và
mùa giâm hom thích hợp.
Mô hình 3 ha cho 3 dòng bạch đàn PNCTIV, PNCT3 và PNCT4 đã được

chính để cung cấp nguyên liệu sản xuất giấy. Để đáp ứng nguồn nguyên liệu
cho chiến lược của ngành giấy phấn đấ
u đạt 4,4 triệu tấn giấy vào năm 2015,
đồng thời làm giảm giá thành sản xuất giấy, tăng khả năng cạnh tranh của giấy
sản xuất trong nước với giấy nhập khẩu. Việc đưa các giống cây nguyên liệu
giấy năng suất cao vào sản xuất đại trà là việc làm cần thiết và thường xuyên,
nhằm ngày càng đưa năng suất rừng trồng cây nguyên liệu giấy lên cao hơn.
2

Công tác chọn, dẫn giống tạo ra các dòng vô tính đạt năng suất bằng
hoặc cao hơn giống đang sản xuất đại trà là việc làm có ý nghĩa thực tiễn, góp
phần nâng cao cả về số lượng và chất lượng rừng trồng. Thực tế sản xuất hiện
nay cho thấy, diện tích rừng trồng các dòng vô tính ngày càng được mở rộng,
tuy nhiên do số lượng dòng còn ít, trồng rừng sản xuất đại trà ch
ủ yếu là 2
dòng PN14 và U6, qua kết quả điều tra cho thấy, diện tích rừng trồng các
dòng này ở một vài nơi đã có dấu hiệu nguy cơ sâu bệnh hại, thoái hóa giống,
năng suất rừng thấp. Trong khi đó các dòng: PNCTIV, PNCT3, PNCT4 được
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy trồng khảo nghiệm đã cho thấy các
dòng này rất có triển vọng, năng suất vượt so với đối chứng (PN14, PN3d và
U6) từ 1,5 đến 2 lần. Do vậ
y, để góp phần bổ xung cho tập đoàn giống trồng
rừng nguyên liệu giấy ở vùng Trung tâm Bắc Bộ, tăng thêm tính đa dạng sinh
học và độ an toàn cao cho trồng rừng, giảm thiểu rủi ro về sâu bệnh hại, nâng
cao hiệu quả rừng trồng, phát triển các giống có năng suất cao hơn giống đang
sản xuất đại trà, phục vụ trồng rừng với số lượng lớn.
Đề tài

Nghiên cứu
giâm hom và xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao cho 3 dòng bạch

Thông tin về các địa điểm nghiên cứu:
 Đặc điểm vườn ươm - Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy:
- Tổng diện tích: 3,0 ha, diện tích nền cứng: 7.500 m
2
, diện tích nhà giâm
hom: 800 m
2
, diện tích vườn cấp hom: 2.000 m
2

 Xã Bảo Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ:
- Bảo Thanh là xã miền núi của huyện Phù Ninh, có vị trí địa lý nằm ở vĩ
tuyến 21
0
27’ và kinh tuyến 105
0
14’.
- Nhiệt độ bình quân năm là 23,1
0
C. Lượng mưa trung bình là 1.850
mm/năm, lượng mưa phân bố không đều trong năm, mưa tập trung từ
tháng 4 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 với lượng mưa là 382,5
mm, mưa ít nhất vào tháng 12 với lượng mưa là 24,9 mm. Độ ẩm không
4

khí bình quân năm là 86%. (Theo tài liệu cung cấp của Trạm khí tượng
thuỷ văn Phú Hộ - tỉnh Phú Thọ).

- Địa hình: bao gồm các quả đồi thoải độ dốc từ 10 – 15
0

a) Điều tra đánh giá điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, chọn địa điểm
b) Thiết lập mô hình rừng trồng 3 dòng bạch đàn đã được chọn lọc.
c) Theo dõi, phân tích, đánh giá sinh trưởng, năng suất rừng và mức độ
sâu, bệnh hạ
i.
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.4.1. Trên thế giới
Bạch đàn được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để cung cấp
nguyên liệu gỗ cho các ngành công nghiệp và xuất khẩu. Công tác cải thiện
giống đối với loài này đã đạt được hiệu quả rất cao ở một số nước như Brazin,
Cộng hoà Nam Phi, Công Gô, Ấn Độ, Trung Quốc
Brazin là một trong những nước đứng đầu th
ế giới về diện tích và năng
suất rừng trồng bạch đàn. Đến nay, Brazin đã có trên 5 triệu ha rừng trồng
bạch đàn, trong đó 2 triệu ha rừng công nghiệp để sản xuất than chì. Nhờ có
các biện pháp quản lý phù hợp mà rừng trồng bạch đàn đã được duy trì và
phát triển ổn định. Từ những 1980, các chương trình cải thiện giống ở Brazin
đã chọn lọc và phát huy ưu thế
lai của tổ hợp lai giữa các loài và tạo ra những
giống bạch đàn lai năng suất rất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh cao
như giống lai giữa E.urophylla x E.grandis, E.urophylla x E.camaldulensis
Với những giống bạch đàn lai này các công ty trồng rừng ở Brazin như
Aracrus, Jarsel seluloza đã khai thác và đạt được năng suất từ 45 đến 75
m
3
/ha/năm, một số diện tích trồng thử nghiệm đạt 100 m
3
/ha/năm.
Ở Công Gô, từ năm 1972 đã thực hiện nhân hom và trồng các dòng
bạch đàn ưu việt được chọn lọc từ những cây lai tự nhiên và nhân tạo. Từ năm

Tại Thái Lan, diện tích rừng trồng không ngừng tăng lên trong 10 năm
gần đây, đến nay nước này đã có gần 0,5 triệu ha rừng trồng bạch đàn. Ở Thái
Lan gỗ bạch đàn từ rừng trồng được dùng cho nhu cầu trong nước và xuất
khẩu.
Các kết quả nghiên cứu trên thế giớ
i cho thấy, muốn có rừng trồng năng
suất cao không chỉ có giống tốt, mà giống đó cần được nhân nhanh đáp ứng
nhu cầu trồng rừng sản xuất. Để có cây giống chất lượng tốt phục vụ trồng
rừng, các nước tập trung vào việc sản xuất cây con theo phương pháp nhân
giống mô – hom (nuôi cấy mô tế bào và giâm hom). Những khu rừng trồng
7

bằng cây con từ mô - hom đã đạt được độ đồng đều rất cao, duy trì được
những đặc tính ưu trội của cây mẹ (sinh trưởng nhanh, năng suất và chất
lượng cao). Một số nước như Cộng hoà Nam Phi, Brazin, Trung Quốc đã xây
dựng những vườn ươm sản xuất hàng chục triệu cây hom/năm và toàn bộ công
việc này được thực hiện trên một dây truyền công nghiệp.
1.4.2. Ở Việ
t Nam
Trong sản xuất Lâm nghiệp, giống và biện pháp kỹ thuật tiên tiến là 2
vấn đề then chốt quyết định đến năng suất và chất lượng rừng. Bên cạnh đó
kết hợp với việc lựa chọn loài cây phù hợp "Đất nào, cây ấy" sẽ đáp ứng được
mục tiêu trong kinh doanh rừng trồng. Giống tốt là những giống cho năng suất
giá trị cao, ổn định, có khả nă
ng thích ứng cũng như khả năng chống chịu với
mọi điều kiện bất lợi của môi trường, biên độ sinh thái rộng, khả năng di
truyền và hệ số nhân giống cao. Theo các chuyên gia đã khẳng định: Giống là
một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh, không có
giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng
lên cao.

Kết quả, qua những khảo nghiệm loài, xuất xứ, chọn lọc cây trội, trồng
thâm canh và hoàn thiện công nghệ nhân giống mô, hom cho một số dòng
bạch đàn E. urophylla, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấ
y Phù Ninh đã
được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận cho một số dòng vô
tính như: Dòng PN47, PN21, PN24, PN54, PN108, GU8, PN3d, PN116,
PN10 (giống Tiến bộ kỹ thuật) và hai dòng PN2, PN14 (giống Quốc gia),
cho phép trồng trên diện rộng ở vùng trung tâm Bắc bộ và những nơi có điều
kiện sinh thái tương tự. Qua số liệu điều tra của Viện nghiên cứu cây nguyên
liệu giấy: Năng suất bình quân hàng năm của các dòng này đạt từ 17 – 20
m
3
/ha/năm, có những lô đạt 25 m
3
/ha/năm, vượt hơn gấp đôi so với những
năm 1990 trở về trước (năng suất chỉ từ 8 - 10 m
3
/ha/năm) (Hoàng Ngọc Hải,
Cấn Văn Thơ, 2002).
9

Từ năm 1979 trở lại đây, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã tiến
hành hàng loạt các nghiên cứu tuyển chọn cải thiện giống. Nhân giống bạch
đàn bằng hom đã được đưa vào chương trình nghiên cứu cải tạo giống, nhiều
thí nghiệm đã được thực hiện trong những năm qua nhằm giải quyết một số
khâu cơ bản trong kỹ thuật nhân giố
ng hom Bạch đàn E.urophylla như: việc
nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ, nền giâm, chồi và kiểu hom
cũng như việc tìm hiểu vị trí và điều kiện đặt hom và khả năng giâm cắm hom
vào các thời vụ khác nhau. Với những nghiên cứu như vậy, Viện nghiên cứu

10

PHẦN II: THỰC NGHIỆM
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Xây dựng vườn cấp hom cung cấp hom giâm phục vụ thí nghiệm
2.1.1.1. Tạo vật liệu trồng vườn cấp hom
- Dẫn dòng từ cây mẹ trồng tại khu rừng Bảo tồn và lưu giữ nguồn Gen cây
nguyên liệu giấy, giâm hom, tạo cây đầu dòng trồng vườn cấp hom để
cung cấp vật liệu nhân giống.
- Kết quả
nhân giống bằng phương pháp giâm hom chồi non từ các cây mẹ
sẽ được các cây đầu dòng là các cây hom thế hệ một, sử dụng những cây
đạt tiêu chuẩn để trồng trong vườn cấp hom.
2.1.1.2. Thiết lập, chăm sóc vườn cấp hom
- Thiết lập vườn cấp hom: Vườn cấp hom được thiết lập tháng 2/2010 tại
vườn ươm của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, thiết lập trồng theo
khối riêng rẽ
, mỗi khối trồng 8 hàng/một dòng (sơ đồ phụ lục 6.1), tổng số
trồng 750 cây cấp hom của 3 dòng bạch đàn (250cây/dòng). Phương pháp
trồng: làm đất toàn diện, khi trồng cây bón 1 kg phân chuồng hoai và 100g
phân NPK/gốc, cây được trồng theo hàng để tiện việc chăm sóc, cự ly giữa
các hàng là 40cm, giữa các cây là 30cm.
- Chăm sóc vườn cấp hom: Theo quy trình kỹ thuật nhân giống bằng hom
chồi non cây bạch đàn của Tổng công ty Giấy Việt Nam ban hành năm
2002.
¾ Trồng vườn cấp hom được 2 tháng (cây sinh trưởng tốt, đạt chiều cao từ
60 – 70 cm) tiến hành việc đốn cây tạo chồi bằng cách sử dụng kéo sắc
cắt ngang thân, sau 25 - 30 ngày thu chồi để giâm hom.
11


2.1.2.1. Bố trí thí nghiệm giâm hom (phụ lục 6)
a) Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA, IAA và ABT với
4 nồng độ (0,1%; 0,3%, 0,4% và đối chứng 0,2%). Mỗi nồng độ là 1 công
12

thức thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí riêng rẽ cho từng loại chất kích
thích ra rễ và từng dòng cây khác nhau trên cùng một luống ươm hom đảm
bảo được đồng nhất với mọi yếu tố (trừ nồng độ chất kích thích, vì đây là
nhân tố thí nghiệm). Mỗi loại chất kích thích ra rễ được thực hiện cho cả 3
dòng, mỗi công thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần/loại chất kích
thích/dòng như sau: (sơ đồ phụ lục 6.2): loại chất kích thích ra rễ * 3 dòng
* 4 công thức * 3 lần lặp.
b) Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chiều cao cây cấp hom đến tỉ lệ ra rễ của
hom giâm: Sau khi hoàn thành thí nghiệm 1, xác định được công thức có
khả năng ra rễ cao nhất sẽ tiến hành thí nghiệm 2: Thu chồi của 3 dòng
bạch đàn ở 3 độ cao cây mẹ (20cm; 30cm và 40cm). Mỗi độ cao là 1 công
thức thí nghiệm, (s
ơ đồ phụ lục 6.3): 3 dòng * 3 công thức * 3 lần lặp.
c) Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của mùa vụ (xuân hè và thu đông) đến tỷ lệ ra
rễ của hom giâm, (sơ đồ phụ lục 6.4): 2 vụ * 3 dòng * 3lặp.
2.1.2.2. Thiết lập mô hình rừng trồng (sơ đồ phụ lục 6.5)
Bố trí thí ngiệm: Bố trí thí nghiệm theo khối, mỗi dòng 1000 cây được trồng
trên 2 khối, mỗi khối 500 cây.
a) K
ỹ thuật trồng: Kỹ thuật trồng được áp dụng theo quy trình hiện hành:
mật độ trồng 1333 cây/ha (3m x 2,5m), trồng theo phương pháp thâm canh
thủ công, hố cuốc kích thước 40 x 40 x 40cm, bón lót 3kg phân chuồng và
0,2kg NPK loại 10.5.5, bón bổ xung năm 2: 0,2kg NPK, trồng rừng vào vụ
xuân năm 2010.
b) Chăm sóc và bảo vệ rừng: Theo Quy trình trồng rừng thâm canh thủ công

): đo tại vị trí cách mặt đất 5cm, đo bằng thước kẹp
kính (độ chính xác đến mm)
+ Chiều cao vút ngọn (H
vn
): đo từ sát mặt đất tới đỉnh ngọn sinh trưởng, đo
bằng thước Sào (độ chính xác đến cm)
+ Độ thẳng thân cây: được phân làm 3 cấp như sau:
Cấp I: Thân cây thẳng hoặc hơi cong, có khả năng thẳng khi cây lớn.
14

Cấp II: Thân cây có một vài chỗ cong, nhưng đường trục thẳng từ
ngọn tới gốc chưa vượt ra ngoài giới hạn thân cây.
Cấp III. Thân cây rất cong, đường trục thẳng từ gốc đã vượt ra ngoài
giới hạn thân cây.
+ Cấp sinh trưởng của cây: quan sát và đánh giá theo các chỉ tiêu được
phân làm 3 cấp:
Cấp I: Cây sinh trưởng tốt, sức sống tốt, không sâu, bệnh.
Cấp II: Cây sinh trưởng bình thường.
Cấp III: Cây sinh trưởng ch
ậm, sức sống kém, bị sâu hoặc bệnh làm
ảnh hưởng đến sức sinh trưởng.
+ Mức độ sâu, bệnh hại: đánh giá tình hình sâu bệnh hại lá theo quan sát
phát hiện ở thời điểm hiện tại. được đánh giá theo 5 cấp:
Cấp 0: không bị hại
Cấp I: < 25% tán lá bị hại
Cấp II: từ 25 – 50% tán lá bị hại
Cấp III: từ 50 – 70% tán lá bị hại
Cấp IV: > 75% tán lá bị hại
2.1.4. Phươ
ng pháp xử lý số liệu

: (H
vn
) Chiều cao vút ngọn
- Số liệu sau khi thu thập được xử lý và phân tích theo phương pháp thống
kê trong lâm nghiệp; (Phân tích phương sai Anova: - Kiểm tra ảnh hưởng
của các nhân tố thí nghiệm - so sánh trung bình các mẫu của nhân tố thí
nghiệm để tìm ra công thức tốt nhất) được mô phỏng bằng các bảng biểu
và đồ thị.
2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật giâm hom cho 3 dòng bạch
đàn
2.2.1.1. Tạo vật liệu trồng vườn cấp hom
Bảng 1: Tỷ lệ sống của các dòng bạch đàn (10 tháng tuổi) tại vườn cấp hom.
TT Tên dòng
Số cây trồng
(cây)
Số cây sống
(cây)
Tỷ lệ sống
(%)
1
PNCT3
250 243 97
2
PNCT4
250 238 95
3
PNCTIV
250 242 96
16

năng tạo chồi. Kết quả tại bảng 2 cho thấy, qua 2 lần thu chồi, cả 3 dòng
Bạch đàn PNCT3, PNCT4 và PNCTIV ở độ cao xử lý 40cm, cây cấp hom
cho số chồi/cây là cao nhất tương ứng là 7,50; 6,44 và 5,48 chồi/cây, trong
khi với độ cao xử lý 20cm, cây cấp hom cho số chồi/cây thấp nhất tương
ứng là 6,34; 5,39 và 4,18 chồi/cây.
17

2.2.1.2. Xác định biện pháp kỹ thuật giâm hom cho các dòng bạch đàn
a) Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của chất kích thích, nồng độ chất kích thích ra
rễ IBA, IAA, ABT đến khả năng ra rễ của hom giâm.
Các loại chất kích thích ra rễ(thuốc) thường dùng hiện nay là IBA,
IAA và ABT. Loại thuốc khác nhau có tác dụng khác nhau đến tỷ lệ ra rễ của
hom giâm, cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác
nhau đến khả n
ăng ra rễ của hom giâm. Nồng độ xử lý quá thấp, không có tác
dụng phân hoá tế bào hình thành rễ, nồng độ quá cao hom thối rữa trước lúc
rễ hình thành.
Tuy nhiên nhiệt độ và độ ẩm không khí là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định tới thành công của hom giâm. Khí quyển bao quanh
các hom cành bao giờ cũng phải ở độ ẩm cao, càng gần 100% càng tốt, để
giảm tối đa hư hại do thoát hơi nước và làm giảm nhiệ
t độ của các mô tế bào.
Giữ độ ẩm cao làm cho các mô tế bào luôn trương căng, quang hợp phát huy
đến mức tối đa và việc cung cấp chất dinh dưỡng cho hom cành được đảm
bảo ở mức tốt nhất.
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 4/2010, nhiệt độ không khí trung
bình trong tháng là 24,5
0
C và ẩm độ không khí trung bình là 76 – 89% (phụ
lục 1), yếu tố thời tiết này không thuận lợi cho việc ra rễ của hom giâm, tuy

(cm)
Chỉ số
ra rễ
0.3 270 239 88.3 5.4 7.5 41.1
0.2 270 212 78.3 4.6 7.2 33.5
0.1 270 198 73.3 4.2 7.5 31.7
IBA
0.4 270 180 66.7 4.6 6.5 29.8
0.2 270 212 78.3 5.6 6.7 38.0
0.1 270 194 71.7 5.0 6.6 33.0
0.3 270 189 70.0 5.0 6.2 31.2
IAA
0.4 270 167 61.7 4.2 7.0 29.6
0.3 270 207 76.7 4.9 7.3 35.3
0.2 270 189 70.0 4.6 6.8 31.7
0.1 270 176 65.0 4.5 6.6 29.9
PNCT3
ABT
0.4 270 176 65.0 5.0 6.2 31.3
Đối với dòng Bạch đàn PNCT3, kết quả tại bảng 3.1 cho thấy: cả 3 loại
thuốc đều ảnh hưởng tới khả năng ra rễ của hom giâm, trong đó IBA là loại
thuốc giâm hom cho kết quả khả quan nhất, tiếp đến là IAA, đạt khả năng ra
rễ thấp hơn là ABT. Với IBA nồng độ 0,3% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 88,3%
và chỉ số ra rễ 41,1. Với IAA nồng độ 0,2% cho tỷ
lệ ra rễ cao nhất là 78,3%
và chỉ số ra rễ 38,0. Với ABT nồng độ 0,3% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 76,7%
và chỉ số ra rễ 35,3.
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của chất kích thích và nồng độ chất kích thích đến khả
năng ra rễ của hom giâm dòng Bạch đàn PNCT4
Tên

0.4 270 158 58.3 3.8 5.8 21.8
0.3 270 176 65.0 4.4 6.8 30.3
0.2 270 167 61.7 3.9 6.7 26.4
0.1 270 162 60.0 4.0 6.4 25.9
PNCT4
ABT
0.4 270 144 53.3 3.4 6.3 21.5
19

Dòng Bạch đàn PNCT4, Tại bảng 3.2 cho thấy: IBA cũng cho kết quả
khả quan nhất, tiếp đến là IAA, đạt khả năng ra rễ thấp hơn là ABT. Với IBA
nồng độ 0,2% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 75,0% và chỉ số ra rễ 34,1. Với IAA
nồng độ 0,2% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 71,7% và chỉ số ra rễ 32,7. Với ABT
nồng độ 0,3% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 65,0% và chỉ số ra r
ễ 30,3.
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của chất kích thích và nồng độ chất kích thích đến khả
năng ra rễ của hom giâm dòng Bạch đàn PNCTIV
Tên
dòng
Thuốc
Nồng độ
(%)
Số
hom
TN
Số
hom
ra rễ
Tỷ lệ
ra rễ

ễ 30,3.
Như vậy, qua các thử nghiệm về chất kích thích và nồng độ chất kích
thích thì , chất có ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm 3 dòng bạch
đàn là IBA, tiếp đó là IAA và ABT. Chất IBA có tác dụng ra rễ cao với nồng
độ dao động từ 0,2 – 0,3%, IAA có khả năng ra rễ cao với nồng độ 0,2%,
ABT với nồng độ 0,3%. Dễ dàng nhận thấy cả 3 dòng bạch đàn chọn lọc khi
20

được xử lý thuốc với nồng độ quá cao, các hom dễ bị chết hoại.
Tuy nhiên
trong 3 dòng tham gia thí nghiệm có 2 dòng PNCT3 và PNCTIV biểu hiện
năng lực ra rễ tốt hơn.
b) Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của độ cao xử lý cây cấp hom đến khả năng ra
rễ của hom giâm.
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 7/2010, nhiệt độ không khí trung
bình trong tháng 30,3
0
C và độ ẩm không khí trung bình 78 – 86%, điều kiện
thời tiết này không phù hợp cho sự ra rễ của hom giâm.
Bảng 4: Ảnh hưởng của độ cao xử lý cây cấp hom đến khả năng ra rễ của
hom giâm.
Tên dòng
Độ cao xử
lý cây cấp
hom (cm)

Số hom
TN

Số hom ra


chuẩn Duncan, kết quả nghiên cứu cho thấy: trong 3 dòng bạch đàn tham gia
thí nghiệm có 2dòng biểu hiện năng lực ra rễ tốt nhất là PNCT3 và PNCTIV,
xử lý cây cấp hom ở độ cao 30cm ảnh hưởng tốt nhất đến tỷ lệ ra rễ cũng như
chỉ số ra rễ của hom giâm, xử lý cây cấp hom ở độ cao 20cm khả năng ra rễ là
thấp nhất (phụ lục 3). Trong cùng một dòng, xử lý cây c
ấp hom ở độ cao khác
nhau, khả năng ra rễ của hom giâm cũng khác nhau, xử lý cây cấp hom ở độ
cao 30cm, cả 3 dòng bạch đàn đều cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đứng đầu là dòng
PNCT3 tương ứng với tỷ lệ ra rễ là 83,3% và chỉ số ra rễ là 41,1%, tiếp đến
PNCTIV tỷ lệ ra rễ là 78,3% và chỉ số ra rễ là 42,9%, khả năng ra rễ của giống
PNCT4 thấp nhất tỷ lệ ra r
ễ là 70,0%, chỉ số ra rễ là 37,1%,
c) Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng ra rễ của hom giâm
Thời vụ giâm hom: là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng
đến việc ra rễ của hom giâm, một số loài cây có thể giâm hom quanh năm,
nhưng một số loài cây hom giâm chỉ ra rễ ở những thời vụ nhất định. Nhiều
công trình nghiên cứu khoa học cho thấy mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ

ra rễ cao nhất ở nhiều loài cây, trong khi đó một số loài khác lại ra rễ cao nhất
vào mùa xuân, vì vậy mùa vụ giâm hom tốt nhất cho mỗi loài chỉ có thể xác
định bằng thực nghiệm.
Thời vụ giâm hom thường gắn liền với diễn biến thời tiết như nhiệt độ
và ẩm độ, thí nghiệm giâm hom vụ xuân hè (tháng 5/2010) nhiệt độ trung bình
28,6
o
C, độ ẩm không khí từ 80-87% và vụ thu đông (tháng 8/2010), nhiệt độ
trung bình 28,7
o
C, độ ẩm không khí từ 83-90%. Nhiệt độ trong 2 mùa vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status