VIỆN QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT GÒ ĐỒI
VÙNG ĐÔNG BẮC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP
CNĐT: NGUYỄN VĂN TOÀN
8902
thích hợp với trồng cây dứa sợi. Chính vì vậy từ đầu những năm 1980, Bộ Nông
nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã có chủ trương phát
triển dứa sợi trên cơ sở thực hiện dự án phát triển dứa sợi và thử nghiệm tại một số
địa điểm như
Trung tâm Nghiên cứu Bông Nha Hố (nay là Viện Nghiên cứu Bông
và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố) và Trại nghiên cứu Chè Phú Hộ (nay là Viện
nghiên cứu Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc). Nhìn chung dứa sợi sinh trưởng
tốt và thích hợp với điều kiện của nước ta. Tuy nhiên công nghệ tách sợi lúc bấy
giờ vẫn mang tính truyền thống, nghĩa là phải ngâm rữa lá để lấy sợi. Cách làm này
vừa tốn công, lại gây ô nhiễm, và khó khăn ở những nơi không có ao h
ồ. Mặt khác
nhu cầu về sợi dứa chưa lớn nên nghiên cứu chỉ dừng lại ở thử nghiệm. Hiện nay
nhu cầu của thế giới về các sản phẩm dứa sợi rất lớn và mới chỉ đáp ứng được
khoảng 50%. Để giúp cho việc tiếp tục nghiên cứu phát triển cây dứa sợi ở Việt
Nam, mặt khác cung cấp cơ sở khoa học cho việ
c phát triển dứa sợi hàng hóa ở
những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp, năm 2006 Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã giao cho Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp thực hiện đề
tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô
hạn để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải
Miền Trung”.
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 2 2.Mục tiêu nghiên cứu
Dứa sợi (tiếng Anh: Sisal), thuộc:
Bộ: Asparagales
Họ : Thùa - Agavaceae
Loại : Agave
Loài : A. Sisalana
Tên khoa học: Agave sisalana Perrine
Dứa sợi là cây bản địa ở bán đảo
Yucatan của Mê hi cô, là loài cây lâu năm thân
mọng nước, có m
ột thân và từ đó mọc ra các lá
dứa. Cây cao khoảng 1,2 m với đường kính
thân khoảng 20 cm. Lá có hình lưỡi kiếm, các
lá mọc xung quanh thân, lá cứng và dày, nhiều thịt màu xanh sẫm. Mỗi lá dài từ 0,8
đến 1,5m và mọc thành hình xoắn ốc xung quanh thân cây, bề rộng ở phần gốc lá
khoảng 7,5 cm và ở phần rộng nhất từ 10-16 cm, đầu lá có một gai nhọn. Mỗi giống
có chu kỳ sinh trưởng thành khác nhau. Có giống dứa trước đây vòng đờ
i chỉ có 6-9
năm và cho thu hoạch khoảng 200-250 lá. Hiện nay, đã lai tạo được một số giống
dứa có thời gian sinh trưởng tới 10-15 năm. Bộ rễ của dứa sợi rất nông, sâu tối đa
60 cm, nhưng lan rộng tới 3,5 m tính từ thân cây. Khi cây đã trưởng thành sẽ có
một cuống hoa mọc lên từ thân cây có thể đạt tới độ cao từ 3 đến 6 m. Khi hoa bắt
đầu héo, những chồi sẽ mọc ra t
ừ nách trên cùng giữa thân cây và cuống hoa rồi
phát triển thành các cây con hay các chồi mạ, những chồi này khi rơi xuống đất sẽ
ra rễ. Cây dứa sợi sẽ chết khi quá trình ra hoa kết thúc. Cây con nhân giống từ chồi
mạ của cây trưởng thành thường có thời gian trong vườn ươm từ 12 đến 18 tháng.
1.1.1.2. Yêu cầu sinh lý - sinh thái của cây dứa sợi
Yêu cầu về khí hậu
Hình 1.1. Cánh đồng dứa sợi thời kỳ ra hoa tại Kênia
Yêu cầu về đất:
Dứa sợi có khả năng trồng được trên nhiều loại đất khác nhau. Theo W.C.
Lock thì có 7 nhóm đất chính thích h
ợp cho sản xuất dứa sợi là:
- Đất đỏ, không bị Laterit phát triển trên đá phiến thạch.
- Đất đỏ phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá vôi.
- Những loại đất phù sa hoặc dốc tụ có màu từ nâu sẫm tới nâu đen.
- Đất cát đỏ không bị Laterit hoá, nằm dọc theo các dải đất vùng Duyên hải.
- Đất đỏ nâu hoặc xám có nguồn gốc phún xuất.
- Đất sét Renzin màu nâu phát tri
ển trên đá vôi thuộc kỷ Jura.
- Loại đất sét pha cát có màu từ xám nhạt tới sẫm hoặc đen.
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 5
1.1.2. Một số giống dứa và kỹ thuật canh tác
1.1.2.1. Một số giống dứa sợi được trồng phổ biến
Dứa s
ợi có nhiều giống nhưng chỉ có một số giống được trồng để lấy sợi: Dứa
sợi Mexique (giống Agave fourcroydey), dứa sợi Phúc Kiến (còn gọi là dứa sợi
Magney, giống agave Cantala Rox), giống Agave Amanensis Trealcase và Noweu.
Giống dứa sợi Mexique có khả năng sinh trưởng và phát triển khá tốt trên
những vùng đất sỏi đá. Lá dứa màu xám, dọc theo hai mép lá có gai to, đầu hơi tù,
chiều dài lá từ 100 - 130 cm, rắn, chắc và bẹ lá rất dày. Thân cây phát triển mạnh
theo chiều dài hình dáng tựa chiếc vòi, giai đoạn trổ bông có thể đạt độ cao 130 cm.
Đây là giống có chu kỳ sinh trưởng dài nhất tính từ khi trồng tới khi bắt đầu trổ
bông kéo dài đến 27 năm.
Dứa sợi Cantala có lá màu xanh lục đậm, dài từ 130 - 160 cm, tận cùng mỗi lá
có một gai nhọn hình kim. Hai dãy gai bên mép lá cong ngược về phía trên gây cản
trở khi thu hoạch. Loại giống cây này cho sợi mịn và đẹp nhất, rất được ưa chuộng
và đánh giá cao trên thị
trường.
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 6
Giống dứa sợi Amanensis có lá được phủ một lớp vỏ cứng màu xanh trong
có chứa nhiều chất cutin. Cây có dáng to khoẻ, lá rộng và dài tới 150 - 200 cm.
o
C
trở lên, cây vẫn không chết.
Loại giống Đông số 1, không sợ hạn, rễ phát triển rất tốt, lá dày, to, các tầng
lá sít nhau, tán rộng, khí khổng ít. Vì vậy, khi khô hạn kéo dài, cây vẫn sinh trưởng
với tốc độ cao, sản lượng ổn định. Nếu lượng mưa đạt dưới 1500 mm/năm, phân bố
không đều, mùa khô kéo dài, cây vẫn sinh trưởng bình thường. Nơi có lượng mưa
thấp hơn 1.000 mm/năm, nếu quản lý và chă
m sóc tốt, vẫn có thể trồng được. Nơi
có lượng mưa quá lớn, cây sinh trưởng nhanh, nhưng sản lượng và chất lượng sợi
thấp, cây dễ phát sinh sâu bệnh, sớm ra hoa và rút ngắn vòng đời sản xuất.
1.1.2.2. Kỹ thuật canh tác
Theo các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây dứa sợi, canh tác dứa sợi cần
chú ý những điểm sau:
Làm đất, diệt cỏ: Đối với cây dứa sợ
i, làm đất không phải chỉ đơn thuần là cầy
xới, làm tơi đất mà chủ yếu là để diệt cỏ. Nhiều cỏ sẽ lấn át dứa sợi, giảm năng
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 7 suất. Bừa sạch cỏ kết hợp với các biện pháp chăm sóc thích hợp là biện pháp trừ cỏ
tốt nhất giúp cây sinh trưởng tốt, cho chất lượng sợi cao.
2
O
5
/ha Super photphát kép
370 kg K
2
O/ha Kali sunphát
5000 kg vôi bột (CaO)
Ngoài bón phân khoáng còn bón bổ sung phân hữu cơ, ở những năm sau khi
dứa vào kinh doanh có thể sử dụng bã thải (sau tách sợi) thay thế phân hữu cơ.
Phòng chống sâu bệnh: So với nhiều loại cây trồng khác, dứa sợi ít bị sâu bệnh tàn
phá vì có lớp biểu bì rất dai và một số loài lá có gai nhọn sắc có tác dụng bảo vệ
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 8 chống lại các loại côn trùng gây hại. Sâu hại chính là mọt cánh cứng (Weevil), nó
là một trong số những sinh vật thường gây tổn hại lớn đối với vùng chuyên canh
trồng dứa sợi. Ấu trùng của chúng, khi còn non ở dạng sâu nhỏ đục sâu trong thân
cây làm cho cây sớm bị tàn lụi.
Phòng chống loại này bằng cách trừ khử từ khi mọt mới đẻ trứng, phun thuốc
trừ sâu “alđrin” hoặc “điolđrin”. Ngoài ra, có thể ngăn ch
ặn sự lan tràn của sâu hại
bằng các biện pháp vệ sinh làm sạch cỏ dại, thu đốt các thân thối mục, bơm phun
dầu ma dút.
c
ắt. Khi hết vòng đời sinh trưởng (10-15 năm), cây dứa sẽ ra hoa. Khi đó sẽ cắt hết
lá của cây đó. Khi trên 50% số cây của một lô đất đã ra hoa, cắt toàn bộ lá của
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 9 những cây còn lại và kết thúc chu kỳ kinh doanh trên lô đất đó, bỏ đi, tiến hành
trồng lại.
1.1.3. Tình hình sản xuất và ứng dụng sản phẩm của cây dứa sợi
1.1.3.1. Tình hình trồng dứa sợi ở các nước trên thế giới
Hiện có năm quốc gia sản xuất dứa sợi nhiều nhất trên thế giới (bảng 1.1) có
tổng diện tích 306 nghìn ha, sản lượng đạt 253 nghìn tấn, năng suất s
ợi dứa trung
bình của các nước thay đổi trong khoảng từ 560 kg/ha (Mê Hi Cô) đến 3.250 kg/ha
(Trung Quốc). Braxin là nước có diện tích trồng dứa sợi lớn nhất thế giới
165.000ha, cung cấp khoảng 50% sản lượng sợi dứa toàn thế giới. Trung Quốc tuy
có diện tích trồng ít nhất trong 5 nước nhưng do sản xuất thâm canh đạt năng suất
cao nên về sản lượng đứng thứ 2 chỉ sau Braxin. Năng suất sợi dứa của Trung Qu
ốc
đạt 3.250 kg/ha cao gấp hơn 4 lần năng suất của Braxin và gấp gần 6 lần năng suất
của nước sản thấp nhất là Mê Hi Cô.
Bảng 1.1. Năm quốc gia sản xuất dứa sợi nhiều nhất trên thế giới
Nước Diện tích trồng
chải lại và phân loại theo các loại khác nhau, chủ yếu dựa trên cơ sở phân loại lá
theo kích thước khác nhau từ ngoài đồng.
Sợi dứa khô chiếm khoảng 4% tổng trọng lượng của lá dứa. Sợi được đánh
bóng và bện lại thành các búi, thường có màu trắng kem, dài trung bình 80-120 cm
và có đường kính 0,2-0,4 mm.
Do sợi dứa có cường độ chịu kéo
lớn, có tính đàn hồi, có độ nhám, không
thấm nước, ăn màu khi nhuộm, chịu
được m
ặn, axit, chịu ma sát, khi phân
huỷ không gây ô nhiễm môi trường. Nên
sợi dứa được sử dụng làm nguyên liệu
để sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ
sản xuất và đời sống tùy thuộc vào chất
lượng sợi:
- Sợi xếp loại thấp nhất được sử dụng trong công nghiệp giấy vì nó có hàm lượng
cellulo và bán cellulo cao.
- Sợi xếp loại trung bình được sử dụng làm các dây thừ
ng, dây chão, dây buộc.
Các loại dây này được sử dụng rất rộng rãi trong các ngành hàng hải, nông
nghiệp và sử dụng trong các ngành công nghiệp nói chung.
- Sợi xếp loại cao nhất sau khi xử lý được chế biến thành chỉ và sử dụng trong
công nghiệp dệt thảm.
Chất lượng sợi được phân loại theo chiều dài, màu sắc, v.v… và phụ thuộc vào
từng quốc gia. Dưới đây xin nêu tiêu chuẩn phân loại chất lượng dứa sợi của Trung
Quốc.
13,5%, không có các nút rối và tạp chất, các chất phân huỷ pectin, các mảnh
vụn lá và vỏ và bất kỳ một thứ nhiễm bẩn nào khác.
- Loại 1: sợi khô, được chải đều, màu kem hoặc vàng sáng, được thu hoạch khi
đạt chất lượng tốt nhất, mềm, bóng và dai trung bình, có hơi thay đổi về màu
sắc, độ ẩm tối đa 13,5%, không có các nút rối, không có lẫn tạp chất, các chất
phân huỷ pectin, các mảnh vụn lá và vỏ và bấ
t kỳ một thứ nhiễm bẩn nào khác.
- Loại 2: sợi khô, được chải đều, màu vàng và nâu, có thể xen lẫn ít màu xanh,
được thu hoạch khi đạt chất lượng tốt nhất, bóng và dai trung bình, hơi ráp, độ
ẩm tối đa 13,5%, không có các nút rối, không có lẫn tạp chất, các mảnh vụn vỏ
khô và bất kỳ một thứ nhiễm bẩn nào khác.
- Loại 3: sợi khô, được chải đều, màu vàng với 1 phần màu xanh, nâu hoặc có ánh
đỏ, đượ
c thu hoạch khi đạt chất lượng tốt nhất, bóng và dai trung bình, ráp, nổi
bật là sự khác nhau về màu sắc, độ ẩm tối đa 13,5%, không có các nút rối,
không có lẫn tạp chất, các mảnh vụn vỏ khô và bất kỳ một thứ nhiễm bẩn nào
khác.
1.1.3.2.2. Thị trường và các sản phẩm được sản xuất từ dứa sợi
Theo truyền thống, sợi dứa thô được sản xuất ở vùng nhiệt đớ
i, chủ yếu ở
các nước đang phát triển và được vận chuyển đến các nước phát triển ở châu Âu,
Bắc Mỹ, Nhật Bản và Úc/Niu Dilân để sản xuất thành các sản phẩm tiêu thụ trong
các thị trường này hoặc tái xuất. Tuy nhiên, cũng tương tự như nhiều sản phẩm
nông nghiệp khác, giá dứa sợi biến động nên quy mô sản xuất cũng thay đổi theo,
sản lượng đã giảm tớ
i 38%.
Hình 1.2. Diễn biến giá dứa sợi trên thế giới tính theo giá hiện tại
Hình 1.3. Diễn biến giá dứa sợi trên thế giới tính theo giá cố định năm 1995
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 13 Tuy nhiên, cây dứa sợi và những sản phẩm của nó, qua nhiều thế kỷ được
sản xuất và sử dụng đã chứng tỏ chúng có thể phục vụ con người như là một nguồn
tài nguyên có thể tái sử dụng bền vững để sản xuất các loại dây thừng, vải bố và
các loại dược phẩm. Sau một thế kỷ sử dụng các vật liệu tổng hợp đ
ã gây ra sự huỷ
i phục vụ nông nghiệp đều sụt
giảm về số lượng; tuy nhiên đối với sản phẩm chiếu, thảm ở phần thấp nhất của đồ
thị thì lại có chiều hướng ổn định và tăng nhẹ. Thảm và chiếu sản xuất từ dứa sợi
trưng bày ở ba cuộc triển lãm thảm nội thất ở Hanover (Đức) gần đây nhất đ
ã được
đánh giá cao. Lý giải cho việc thảm và chiếu dứa sợi tăng lên thay thế các sản phẩm
trải sàn truyền thống từ nilon, PP và sợi len là sự quan tâm của người tiêu dùng với
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 14 sợi tự nhiên và trào lưu sử dụng các sản phẩm thân thiện với tự nhiên. Có rất nhiều
loại thảm: thảm chùi chân, thảm trải sàn, thảm trang trí tường, thảm mỹ nghệ, thảm
dán máy dùng trong công nghiệp. Hình 1.4. Diễn biến về sử dụng sản phẩm dứa sợi qua các năm trên thế giới
điểm sử dụng này. Trong một chiến dịch điều tra thị trường mục tiêu sử dụng dây
thừng dứa sợi cho thấy nếu ở các nước EU và Mỹ, trong 10 hộ gia đình có 1 hộ sử
dụng 1 cuộn dây thừng khoảng 50g thì sẽ cần khoảng 10.000 tấn dây thừng tương
đương với 1/2 yêu cầu dứa sợi của thị trường thảm.
Hình 1.6. Thị tr
ường thảm trải sàn từ sợi dứa ở các khu vực trên thế giới
Một trong những ứng dụng quan trọng của dứa sợi là làm nguyên liệu sản
xuất dược phẩm. Cu Ba đã nghiên cứu và cho kết quả từ 1 tấn dứa sợi cho 30 kg
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 16 sapogenin chiết ra hecogenin để điều chế Hydrocortison và Predisolon dùng chữa
các bệnh về khớp.
Hình 1.7. cho thấy tiêu thụ của các sản phẩm của dứa sợi với sản lượng “ít”.
Dự báo sử dụng chỉ dứa sợi làm lõi dây thép rất hứa hẹn vì sợi dứa có thể dự trữ và
tiết ra dầu từ từ theo thời gian để bôi trơn và bảo vệ dây thép, đặc biệt là có ý nghĩa
vớ
i dây thép sử dụng trong thang máy.
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 17 và gấp 3 lần so với bột cây gỗ cứng. Vì bột dứa sợi có những tính chất vật lý ưu
việt hơn các loại bột giấy làm bao bì từ cây gỗ thân mềm nên có thể sẽ chi phí thấp
hơn khi các loại bột này được thay thế bằng bột dứa sợi. Ví dụ: sợi dứa có thể được
sử dụng như sợi gia cường trong các loại giấy được sản xuất từ
các nguyên liệu tái
sử dụng với tỷ lệ cao, hoặc nó cho phép giảm trọng lượng của giấy trong khi vẫn
duy trì chất lượng của sản phẩm.
Sử dụng dứa sợi cũng như các loại sợi tự nhiên trong các hợp chất tổng hợp
có những ưu điểm sau:
- Khối lượng riêng thấp Nó đặc biệt có ích khi được phối hợp để tăng độ c
ứng.
- Là nguồn nguyên liệu tái sử dụng, sản xuất yêu cầu ít năng lượng, quá trình sản
xuất sẽ sử dụng CO
2
và cung cấp khí oxi trở lại môi trường.
- Có thể sản xuất với đầu tư và chi phí thấp, thuận lợi với điều kiện ở các nước
mà công lao động thấp.
- Xử lý, chế biến đơn giản.
- Cách âm và cách nhiệt tốt.
Tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm sau:
- Chất lượng thay đổi, phụ thuộc vào những ảnh hưởng không thể dự
đoán được
Tại thị trường Trung Quốc năm 2005, giá dứa sợi là 4.500-5.000 NDT/tấn
(khoảng 10.000VND/kg), dây thừng 6.000-8.000 NDT/tấn (khoảng 12.000-
16.000VND/kg), chỉ đã se là 7.200-8000 NDT/tấn (khoảng 14.000-
16.000VND/kg), vải bố 8.500-8.900 NDT/tấn (khoảng 17.000-18.000VND/kg).
Bảng 1.4. Tính toán giá thành đầu tư trồng dứa sợi tại Trung Quốc năm 2005
Loại công việc ND tệ / 1 mẫu TQ Quy ra VNĐ/ 1 ha
1- Giai đoạn sản xuất cây con 3000 cây 45.000 cây
- Tiền mua giống (cây mạ) 1.200 36.000.000
- Phân bón 305 9.150.000
- Công làm đất 100 3.000.000
- Công trồng cây mạ 400 12.000.000
- Công chăm sóc 300 9.000.000
- Công cắt giống, vận chuyển đến nơi trồng 360 10.800.000
- Chi phí quản lý 200 6.000.000
- Thuế 200 6.000.000
Tổng giá thành sản xuất 3.065 tệ /mẫu TQ 91.950.000 đ/ha
Giá thành 1 cây giống tại chân lô 1, 02 tệ/cây 2.040 đ/cây
2. Giai đoạn trồng trên đồi 300 cây/mẫu TQ 4.500 cây/ha
a) Năm thứ nhất: Tổng chi phí 741 tệ /mẫu TQ 22.230.000 đ/ha
- Cầy bừa khai hoang 70 2.100.000
- Giống 306 9.180.000
- Phân bón 200 6.000.000
- Công trồng 45 1.350.000
- Quản lý (công chăm sóc) 100 3.000.000
- Chi khác (quản lý phí) 20 600.000
b) Năm thứ hai: Tổng chi phí 320 tệ/mẫu TQ 9.600.000 đ/ha
- Phân bón 200 6.000.000
- Quản lý (công chăm sóc) 100 3.000.000
kiến thiết cơ bản là hơn 45.000.000 VNĐ, thì ước tính trong cả chu kỳ 13 - 15
năm, 1 ha dứa sợi cho lãi khoảng 300 triệu VNĐ (xem bảng 1.4). dứa sợi thực sự là
cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao so với các loại cây trồng khác trên đất có độ phì
thấp.
I.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Một số nét khái quát về tình hình phát triển cây dứa sợi ở Việt Nam
Dứa sợi đã được du nhập vào Việ
t Nam khoảng 2 thế kỷ nay. Dưới thời
Pháp thuộc vào năm 1906 dứa sợi của Việt Nam đã được mang đi triển lãm trong
hội chợ ở Mac-xây và được đánh giá cao về chất lượng.
Từ năm 1907 thực dân Pháp đã giao cho một số chuyên viên tập trung
nghiên cứu cây dứa sợi. Dứa sợi được người Pháp đưa vào nghiên cứu tại Phù Ninh
(tỉnh Vĩnh Phúc), Yên Định (tỉnh Thanh Hóa) và Ninh Sơn (tỉnh Ninh Thuận). M
ột
số đồn điền trồng dứa sợi được xây dựng, tập trung nhiều nhất ở bờ biển Nam
Trung bộ và cũng đã dùng máy để tước sợi. Sản xuất dứa sợi lúc này cũng đã đem
lại nguồn lợi lớn nên quy mô sản xuất dứa sợi ngày càng mở rộng. Cùng với việc
nghiên cứu và sản xuất, có gần chục giống dứa sợ
i được du nhập vào Việt Nam,
trong đó có giống Cantala và Sisalana. Sisalana được nhập vào Việt Nam muộn
hơn, khoảng vào năm 1940-1941 và trồng ở đồn điền Trà Bang (nay thuộc huyện
Ninh Phước, Ninh Thuận) khoảng 300 ha.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Pháp rút về nước, công việc nghiên cứu và
sản xuất dứa sợi bị đình trệ và tan rã dần. Cây trồng từ đó sống dưới dạng hoang
dại, chỉ còn lạ
i một số điạ phương ven biển trồng trọt và chế biến dứa sợi theo
phương pháp thủ công. Ngâm lá tươi trong nước biển hoặc ao hồ rồi cạo sợi bằng
bao tải, dây làm từ nilon được phổ biến rộng rãi, mặt khác các giống dứa sợi được
đưa vào trồng có hiệu quả kinh tế thấp (sau 5 năm mới có thể cho sản phẩm), các
công đoạn sản xuất sợi và chiết xuất hecogenin lại khó, nên cây dứa sợi không còn
được trồng và trở thành cây mọc hoang dại ở
nhiều vùng.
1.2.2. Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống
- Thu thập, nhập nội và khảo sát tập đoàn:
Viện nghiên cứu cây Bông và cây có sợi đã tiến hành thu thập, nhập nội và
khảo sát đánh giá 10 mẫu giống (3 mẫu nhập nội và 7 mẫu thu thập trong nước)
được trồng với các mục đích khác nhau. Trong đó, có 5 mẫu giống được trồng để
lấy sợi trong và ngoài nước; 2 mẫu trồng để lấy s
ợi ở các tỉnh phía Nam và 3 mẫu
trồng chủ yếu làm cảnh. Tất cả các giống trên đều được trồng khảo sát tại vườn tập
đoàn giống dứa sợi ở Nha Hố. Qua theo dõi đã chọn ra được một số giống có triển
vọng đưa khảo nghiệm trên diện rộng (Sisalana, Cantala), các giống Sisalana có tốc
độ ra lá nhanh và tỷ lệ sợi cao, những giống có khả năng chống chịu sâu bệ
nh tốt là
Cantala, Foucroydes.
- Công tác nhân giống:
Ngoài việc sử dụng chồi gốc hay chồi hoa để nhân như các nước đang tiến
hành, đã xác định được việc sử dụng ngó cây dứa sợi vào công tác nhân giống có
hiệu quả cao. Theo kiểu tác động cơ học là cắt ngó thành từng hom để ươm với
đoạn hom từ 2-3 mắt ngủ là có kết quả cao nhất. Kết quả này đã được áp dụng vào
nhân giống di
ện rộng phục vụ cho sản xuất. Ngoài ra, công tác nghiên cứu nuôi cấy
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
o
C. Trong khoảng nhiệt độ này rất thích hợp cho sinh trưởng,
phát triển của dứa sợi. Tổng lượng mưa cả năm trên 700 mm và phân bổ thành 2
mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Trong năm có trên 100 ngày mưa và phân bố đều
trong các tháng mùa mưa. Với lượng mưa và sự phân bố như vậy cũng phù hợp cho
sinh trưởng và phát triển của cây dứa sợi.
Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trên đất xám khô hạn và đất cát biển,
đ
ây là những loại đất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng N và P từ nghèo đến trung
bình, đặc biệt là N. Đất cát biển có pH
KCl
7,7 thích hợp cho sinh trưởng của dứa
sợi, còn các vùng đất khác đất hơi chua pH
KCl
5,6-6,2. Kết quả nghiên cứu cho
thấy mặc dù đất nghèo dinh dưỡng, nhưng nếu bón đủ phân cây vẫn sinh trưởng và
phát triển tốt. Những đất chua cần bón thêm vôi.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đất có hàm lượng muối 155mg/100g đất thì dứa
sợi bị còi cọc kém phát triển. Trên nền đất thịt hàm lượng muối tổng số
502mg/100g đất, dứa sợi đều bị vàng úa, sinh trưởng kém và cuối cùng bị
chết.
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 22
khác nhau nhằm xác định mật độ thích hợp.
Bảng 1.5. Mật độ, khoảng cách trồng dứa sợi ở một số vùng Ninh Thu
ận
Vùng
Khoảng cách trồng
(m)
Mật độ
(nghìn cây /ha)
Loại đất
Khánh Nhơn
0,7 x 0, 4 x 1 câ y
0,5 x 0,3 x 1 “
35,7
66,0
Đất cát biển (cày bò)
Nông trường thơm
tàu -đµo
3,0 x 1, 0 x 1 câ y
3,3 Đất cát và đất xám (cày
máy)
Nha Hố
2,7 x 1, 0 x 1 câ y
2,5 x 1,0 x 1 “
1,8 x 1,0 x 1 “
2,0 x 1,0 x 1 “
3,7
4,0
5,5
Nghiên cứ
u kỹ thuật làm cỏ: Trong quá trình canh tác, làm cỏ cũng được xem là
biện pháp quan trọng làm tăng số lượng lá và năng suất sợi. Tuy nhiên do điều kiện
địa hình và đất đai khác nhau nên khó có thể đưa ra một quy trình cụ thể. Tiến hành
làm cỏ hay không còn căn cứ vào mức độ cỏ dại trên đồng ruộng. Có 3 phương
pháp làm cỏ là:
- Diệt cỏ bằng thuốc hóa học: Dùng Dalapon 11,2-22,4kg/ha.
- Làm cỏ bằng máy kết hợp v
ới xới xáo.
- Làm cỏ bằng tay.
Tại Nha Hố làm cỏ và phát cây bụi 2-3 laàn/năm. Ở nông trường và HTX từ
1-2 laàn/năm, thậm chí có nơi không cần làm cỏ do mật độ dứa cao, đất xấu, cỏ dại
không mọc được (như HTX Khánh nhơn).
Nghiên cứu xác định cây trồng xen: Dứa sợi là cây trồng hàng rộng, trong thời kỳ
kiến thiết cơ bản nên tr
ồng xen các loại cây trồng ngắn ngày để nâng hiệu quả sử
dụng đất, cải tạo đất và chống xói mòn. Do vậy, cùng với nghiên cứu về mật độ,
phân bón, Trung tâm Nghiên cứu cây Bông đã nghiên cứu xác định cây trồng xen
thích hợp. Kết quả cho thấy, các loại cây trồng xen thích hợp gồm có thuốc lá, đậu
đỗ, lạc và các cây phân xanh. Tại Nha Hố có trồng xen cây thuốc lá, đậu đỗ, lạc. Ở
Nông trường Thơm Tàu -
đào trồng xen ngô và đậu ván. Ở HTX Khánh Nhơn
Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu khai thác vùng đất đồi núi, đất bằng nghèo dinh dưỡng, khô hạn
để trồng dứa sợi phục vụ chế biến, xuất khẩu ở vùng Đông Bắc và duyên hải Miền Trung”
__________________________________________________________________________________
___________________________________________________________________________
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp 24
ệ sợi giảm do
trong quá trình sơ chế các sợi bị đứt nhiều. Nếu thu hoạch lá quá muộn thì ảnh
hưởng đến sinh trưởng của cây mẹ, các lá già khô dần và chết nhiều do đó làm
giảm năng suất cũng như phẩm chất xơ. Tại HTX Khánh Nhơn nông dân trồng dứa
sợi với mật độ quá dày, do đó khi thu lá chỉ để lại 5-6 lá/cây. Ở những nước trồng
dứ
a sợi nhiều và Trung tâm Nha Hố chỉ thu những lá nằm song song với mặt đất,
chừa lại 16-25 lá /cây tuỳ theo tình trạng sinh trưởng của cây và số lần cắt lá.
Nghiên cứu phương pháp tước sợi dứa: Bộ phận chính của cây dứa sợi mà con
người sử dụng là lá dứa để lấy sợi. Tuy nhiên nhiều tác giả công bố cho rằng: vấn
đề trồng dứa sẽ có kinh tế hay không cơ
bản là sử dụng sản phẩm phụ. Đó là chiết
suất dược liệu từ thịt lá và sử dụng phụ phẩm bã lá để chăn nuôi. Muốn vậy cần
phải tước sợi bằng máy. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có máy tước sợi dứa, vì vậy