0
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN
Tên dự án :
“HOÀN THIỆN HỆ THỐNG SẢN XUẤT GIỐNG HOA (LAN, HỒNG
MÔN, ĐỒNG TIỀN, LILY, CÚC) BẰNG NUÔI CẤY MÔ QUY MÔ
CÔNG NGHIỆPVÀ PHÁT TRIỂN VÙNG SẢN XUẤT HOA HÀNG
HOÁ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG” Cơ quan chủ trì dự án: Viện Nghiên cứu Rau quả
Chủ nhiệm dự án: TS. Đặng Văn Đông
7627
28/01/2010
Hà Nội, tháng 1 năm 2010
Điện thoại: CQ: 04.8765625 NR: 04.8766720 Mobile: 0913562265
7. Tổng vốn thực hiện dự án: 8.340,0 triệu đồng, trong đó:
+ Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học: 2.500,0 triệu đồng+ Khác : 5.840,0 triệu đồngKinh phí thu hồi: 1500,0 triệu đồng (60% kinh phí ngân sách SNKH)
7. Tên tổ chức tham gia chính
7.1. Tổ chức chịu trách nhiệm về công nghệ : Viện Nghiên cứu Rau quả
7.2. Tổ chức khác
a. Các tổ chức phối hợp hoàn thiện công nghệ
1. Trung tâm ứng dụng khoa học và sản xuất nông lâm nghiệp Quảng Ninh
Địa chỉ: Km 11 Yên Hưng – Quảng Ninh
b. Các tổ chức chính tiếp nhận và sử dụng sản phẩm của dự án 2
2. Trung tâm ứng dụng và chuyển giao CN – Sở KHCN Bắc Ninh
Địa chỉ: Số 2 đường Nguyễn Đăng Đạo – TP Bắc Ninh – tỉnh Bắc Ninh
3. Công ty TNHH Cửu Long
Địa chỉ: Xã Đình Bảng - huyện Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
4. HTX Dịch vụ Nông nghiệp Cát Lại
Xã Bình Nghĩa - huyện Bình Lục - Tỉnh Hà Nam.
5. HTX nông nghiệp Phù Vân
Địa chỉ: Xã Phù Vân – Phủ Lý – Hà Nam
6. Công ty Cổ phần xây dựng Vạn Xuân
Địa chỉ: Xã Việt Đoàn - huyện Tiên Du – t
ỉnh Bắc Ninh
cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng Hoa cây cảnh của toàn thế giới năm
1995 đạt 35 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân
năm là 20%); trong đó giá trị xuất khẩu đạ
t từ 8,5-10 tỷ USD/năm.
Những nước có nền công nghiệp Hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ,
Colombia, Kenia Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển, đưa cây hoa
lên thành một ngành kinh tế quan trọng là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,
Thái Lan, Singapo, Ixraen, Italia
Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên được 1 số nước rất chú trọng
đầu tư, đặc biệt là cho công tác nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu tiên tiến
nhất của các ngành nghề khác có liên quan như: công ngh
ệ sinh học, tin học, tự
động hoá, vật lý, hoá học, ngành công nghiệp làm nhà kính, nhà lưới, ngành
công nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh
Kết quả là mỗi năm trên thế giới đã tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và
giống hoa mới, đã xây dựng rất nhiều “nhà máy” sản xuất giống hoa và hoa
thương phẩm với hàng tỷ bông hoa chất lượng cao, cung cấp cho người tiêu
dùng, đồng thời đã thúc đẩy r
ất nhiều ngành nghề khác phát triển.
Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất, kinh
doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển cao (từ
12-15%) trong những năm tới. Tuy nhiên, do có một số lợi thế nên một số nước
đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Kenia, Ấn Độ sẽ vươn lên đạt
giá trị sản lượng và giá trị xuất khẩu cao, đồng thời công tác nghiên cứu sẽ
ti
ếp tục được quan tâm đầu tư để có thêm nhiều chủng loại hoa độc đáo, chất
lượng hoa cao hơn.
Ở Việt Nam, các giống hoa được trồng trước năm 1995, chủ yếu là các
giống có nguồn gốc trong nước (đào Bích, quất Văn Giang, cúc Đại Đoá, hồng
Đà Lạt, layơn trắng, layơn phấn hồng Hải Phòng ). Từ năm 2005 trở lại đây,
5
II. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU CÁC
LOẠI CÂY TRỒNG LÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1. Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
a, Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan trên thế giới
Trải qua nhiều thế kỷ, người ta chỉ biết gieo lan nảy mầm từ hạt [5]. Bác
sỹ, y tá người Anh John Haris và Weich đã biết đế
n vai trò của nấm Fungus
trong việc nảy mầm hạt lan ở điều kiện tự nhiên. Năm 1946, công trình nghiên
cứu của TS. Knudson (Mỹ) [7] đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan.
Nhờ vậy, người ta đã sản xuất được khối lượng cây lớn, đồng nhất trong thời
gian ngắn, bảo tồn, duy trì nguồn và chọn lọc được những giống sạch virus từ
các dòng được lai tạo, xây dựng các xí nghiệ
p sản xuất công nghiệp có sản
lượng lớn và giá thành hạ.
Mỗi năm ấn Độ sản xuất được 10 triệu cây hoa lan [3]. Nhật Bản cũng đã đầu tư
6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng c
ơ sở sản xuất với công suất 10 triệu
cây hoa phong lan mỗi năm. Hiện nay, Nhật là khách hàng lớn nhất của
Singapore với khả năng tiêu thụ 60% số cây phong lan của nước này [3].
Hiện tại, các nước sản xuất và kinh doanh xuất khẩu hoa phong lan chính
trên thế giới là Hà Lan, Singapore, Philipin (thị trường á, Âu, Mỹ), ngoài ra còn
nhiều nước nữa như: Pháp, Đức, Italia, Colombia là những nước kinh doanh
xuất khẩu hoa đáng kể trên thế giới. Tổng kim ngạ
ch xuất khẩu hoa phong lan
trên thế giới hàng năm đạt 21,1 tỷ USD [6]. Riêng về việc xuất khẩu lan cắt cành
trên thế giới những chủng loại được gọi là mặt hàng chính thì có tới > 95% có
xuất xứ từ các vùng nhiệt đới. Do vậy, từ năm 1967 các nước châu á như: Thái
Lan, Singapore, Indonesia đã bắt đầu phát triển nhanh sản xuất kinh doanh
xuất khẩu hoa phong lan một cách mạnh mẽ. Tính đến năm 2003, kim ngạch
xuất khẩu hoa phong lan c
ủa Hà Lan đạt 1,8 tỷ USD. Hoa phong lan ở Hà Lan
được trồng trong nhà kính với tổng diện tích là 3081,75 ha. Các nước trong khu
vực Đông Nam á cũng đang chạy đua phát triển ngành lan. Chính phủ Singapore
đặt kế hoạch vào năm 2010 đạt 100 triệu USD xuất khẩu. Thái Lan xây dựng
đầy đủ cơ sở hạ tầng và mời các nhà sản xuất vào trồng. Thủ tướng Malaysia
giao 300 ha đất của BAPng Johor cho các nhà trồng lan và yêu cầu ngành lan
phải mau chóng bắt kịp các nước phát triển. Cả
Đài Loan cũng đưa ra kế hoạch
đến năm 2005 sẽ biến đất nước thành một Hà Lan thứ 2. Đa số các cây lan trên
thị trường hiện nay là các giống lan lai của Cymbidium, Paphiopedium,
Phraenopsis, Oncidium, Dendrobium và Cattleya. Nhiều nhất là Dendrobium,
Pharaenopsis, Oncidium.
b, Tình hình sản xuất, phát triển hoa lan ở Việt Nam
Phong lan là loài hoa quý, không xa lạ gì với người Việt Nam. Thậm chí
lợi hơn cả Thái Lan với miền nam khí hậu gió mùa ổn định, nhưng giá trị xuất
khẩu hoa lan của Vi
ệt Nam còn khiêm tốn, từ 1998 - 2003 chỉ đạt khoảng
90,000 - 150,000 USD / năm [21].
Đối với thị trường hoa trong nước, sản lượng hoa phong lan cũng không
đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Các cơ sở sản xuất hoa lan chỉ đáp
ứng được 30 - 40% nhu cầu lan cắt cành còn lại phải nhập từ các nước khác. Lần
đầu tiên Phú Yên cung ứng 250.000 cây phong lan cho 1 doanh nghiệp tại thành
phố Hồ Chí Minh để xuất khẩu. Đây là lô phong lan đầu tiên được trung tâm
gi
ống và kỹ thuật cây trồng (sở NN & PTNT Phú Yên) nhân giống thành công
bằng kỹ thuật vô tính. Hiện Trung tâm đang áp dụng phương pháp nuôi cấy mô
để sản xuất hàng loạt cây trồng khác tại làng hoa Bình Kiến, trong đó có 11 loài
hoa đang được thị trường ưa chuộng. Sắp tới Trung tâm tiếp tục cung ứng
300.000 - 500.000 cây phong lan mỗi năm để xuất khẩu sang Canada, Đài
Loan Cũng như ở một số thành phố lớn trong cả nước, ở
Đà Nẵng phong trào
chơi và sử dụng các loại hoa lan từ cao cấp đến bình dân cũng ngày càng tăng và 8
ở mọi tầng lớp nhân dân. Hiện tại ở Đà Nẵng có 3 loại hình chủ yếu trồng, kinh
doanh và chơi các loại hoa lan.
Lĩnh vực kinh doanh lan tại Việt Nam mới thực sự bắt đầu được hơn
10 năm nay. Theo ông Đồng Văn Khiêm - Giám đốc Công ty Phong lan
Xuất khẩu Thành phố thì khó khăn lớn nhất là Nhà nước chưa có chính sách
phát triển ngành lan, chưa có một văn bản nào để khuyến khích, chính sách
thuế không rõ ràng
Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lan hiện còn qua uỷ thác, không tạo được sự
chủ động cho nhà sản xuất. CITES Việt Nam (cơ quan kiểm tra việc buôn bán
9
hạt khác. Việc làm cho hạt lan nảy mầm, phát triển thành cây con là một vấn đề
khó khăn trong thời kỳ đầu phát triển ngành lan [17].
Thực tế trên thế giới, việc nghiên cứu về cây phong lan được biết đến từ
năm 1731. Song đến năm 1844, Newman - một nhà vườn người Pháp mới làm
nảy mầm hạt lan bằng cách rắc hạt lên các cục đất quanh gốc cây lan to. Sự
thành công này đã lan rộng nhưng chưa có l
ời lý giải cụ thể. Từ khi con người
biết ứng dụng các thành tựu khoa học thì ngành trồng lan đã có những bước tiến
nhảy vọt. Năm 1904, Noel Bernard thực hiện phương pháp gieo hạt cộng sinh
với nấm để gây sự nảy mầm. Ông nhận thấy, các cây lan con nảy mầm trong
rừng đều bị nhiễm nấm. ông đã cô lập các nấm ở rễ cây lan con và cấy vào hạt
lan, bằng cách đó ông là ng
ười đầu tiên làm cho 100% hạt lan nảy mầm [14],
[18]. Nhưng cho đến khi phương pháp gieo hạt lan không cộng sinh với nấm
được thực hiện thì ngành trồng lan trên thế giới mới thực sự có bước chuyển
biến rõ rệt. Năm 1909, Hans Burgff đã làm nảy mầm được hạt của Laelio
cattleya trên môi trường dinh dưỡng gồm 0,33% đường saccarose trong điều
kiện hoàn toàn bóng tối [4]. Năm 1922, Lewis Knudso, một nhà khoa học ngời
mỹ lại thành công trong việc gieo hạt
ở môi trường thạch [20]. Ông cũng nhận
thấy rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả.
Dựa vào phương pháp nhân giống hữu tính, người ta có thể lai tạo để tạo
ra các con lai mang những đặc tính tốt của bố mẹ, tạo ra nhiều giống mới có
màu sắc độc đáo, hình dáng, kích thước phong phú Đa số các cây hoa lan
trên thị trường hiện nay là các giống cây lai của Cybidium, Paphiopedium,
Phalaenopsis hoặc Cattleya. Tuy vậ
y, hơn 1 thế kỷ trước đây, sự lai giống là
một điều không thể tưởng tượng ra. Giống hoa lai đầu tiên là sự lai giống
đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ngành hoa có giá trị này. Lee,- YH;
and Mowe (1983) [21] đã nuôi cấy đỉnh sinh trưởng giống phong lan Aranda trong
môi trường Vacine và Went. Mô tế bào thu được đã được xử lý colchicine ở các
nồng độ 0,05; 0,075; 0,1% trong 6 ngày cho kết quả tỷ lệ cao các mô bị chuyển
sang màu nâu. Theo các tác giả Duan,- J; cs (1996) [9], Eng,- PS; cs (1983) [10],
Kukulczanka,- K (1985) [11], Mamaril,- J (1997) [12], môi tr
ường có vai trò rất
quan trọng trong quá trình nuôi cấy, nó cung cấp chất dinh dưỡng đảm bảo cho sự
sinh trưởng của mô cấy. Môi trường dinh dưỡng thích hợp cho việc nuôi cấy mô
cây hoa lan là môi trường: MS (Marushige - Shoog, 1962), VW (Vacine - Went,
1949), KC (Knudson C), F (Fonnesbeck, 1972) [9]
b, Tình hình nghiên cứu cây hoa lan ở Việt Nam
Trước những năm 1990, ở Việt Nam, phương pháp nhân giống hoa lan
chủ yếu là những phương pháp cổ truyền như tách chiết, gieo hạt. Chỉ từ sau
1990, do áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuậ
t mới và sản xuất thì phương
pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô mới được phát triển mạnh mẽ.
* Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt
Đối với hoa lan, việc tự thụ phấn là rất khó khăn, thông thường trong thực
tế việc thụ phấn xảy ra nhờ côn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo bởi con người.
Tuy phương pháp nhân giống lan bằng gieo hạt không phải là mới mẻ song do 11
hạt lan rất khó nảy mầm nên phương pháp này cũng không được áp dụng phổ
biến ở Việt Nam. Phương pháp này chỉ sử dụng chủ yếu trong lai tạo nhằm tạo
ra những giống mới có nhiều đặc tính mong muốn của con người.
Với mong ước tạo ra những cây lan lai từ các cây tự nhiên của địa
phương, từ năm 1990, nhóm cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đ
n như: Dendrobium jacqueline Thomas,
Dendrobium theodore Takiguchi ta có thể đợi cây con mọc thêm 1 giả hành
mới thì việc nhân giống bảo đảm hơn [22].
12
* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
Hiện nay bằng công nghệ nuôi cấy in vitro, trong thời gian ngắn có thể
sản xuất một số lượng lớn các cây giống khoẻ, đồng đều và sạch bệnh. Trường
ĐHNN I là một trong những cơ sở chính nghiên cứu về nuôi cấy mô hoa nói
chung và cây hoa lan nói riêng. Theo PGS. TS. Nguyễn Quang Thạch và cs, cây
hoa lan dễ nhân trong ống nghiệm và có hệ số nhân giống cao. Môi trường chính
cho nuôi cấy lan là môi trường Knudson C. Cùng với trường ĐHNN I, Trung
tâm Hoa cây cảnh kết hợp vớ
i Bộ môn Nuôi cấy mô tế bào của Viện Di truyền
Nông Nghiệp đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh
trưởng đến quá trình nhân nhanh và khả năng ra rễ của chồi. Kết quả đã đưa ra
được quy trình nhân giống lan Hồ điệp bằng nuôi cấy mô tế bào.
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1. Nguồn gốc, vị trí phân loại củ
a cây hoa cúc
Cây hoa cúc có tên khoa học Chrysanthemum có nguồn gốc từ Trung
Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã
chứng minh rằng từ đời Khổng Tử người ta đã làm lễ thắng lợi hoa vàng (hoa
cúc) và hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc từ đó (Đặng Văn
Đông, Đinh Thế Lộc, 2004) [2].
Theo Zhenhua, Shoahe, hoa cúc được trồng ở Trung Quốc cách đây 3000
n
- Cúc đông: Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên hầu hết các giống cúc
đều chịu lạnh và trồng vào vụ đông là chủ yếu.
- Cúc hè: Một số giống chịu được nhiệt độ cao, trồng được ở vụ hè sinh
trưởng, phát triển tốt.
2.2.2. Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới và trong nước.
a, Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới.
Lịch sử nghề trồng hoa cây cảnh trên thế giới có từ rấ
t lâu đời. Trước thế
kỷ 19 con người chơi hoa chủ yếu thông qua cây cảnh, cây thế, cây tự nhiên (có
hoa). Từ thế kỷ 20 trở lại đây, người ta mới chơi hoa theo đúng nghĩa của nó, đó
là chơi hoa cắt, hoa bông với nhiều kiểu dáng đa dạng phong phú đầy ý nghĩa.
Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đã phát triển mạnh và trở thành một
ngành thương mại cao. Sản xuất hoa đã mang lạ
i lợi ích to lớn cho nền kinh tế
của các nước trồng hoa trên thế giới.
Năm 1995 giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt 20 tỷ USD, đến năm
1997 tăng lên 27 tỷ USD. Ba nước sản xuất hoa lớn chiếm khoảng 50% sản
lượng hoa của thế giới đó là: Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD, Hà Lan 3,558 tỷ
USD, Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD. [2]
Sản xuất hoa của thế giới sẽ ti
ếp tục tăng mạnh mẽ nhất là ở các nước
đang phát triển như châu Á, châu Phi, Mỹ La Tinh. Hướng sản xuất hoa là tăng năng
suất hoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa. Mục tiêu sản xuất hoa cần
hướng tới là sản xuất ra giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp.
Trong các loại hoa thông dụng, cây hoa cúc thuộc loại cây hoa lâu đời,
được ưa chuộng và trồng rộng rãi nhất trên thế giới. Cách đây hàng th
ế kỷ người
dân Trung Quốc, Nhật Bản đã trồng cúc trên vườn của họ. Đến nay hoa cây
cành cúc được sản xuất mỗi năm tuy vậy Pháp vẫn nhập cúc ở Hà Lan từ 13,8
triệu cành vào năm 1991 đến 81 triệu cành vào năm 1995 với giá một bông từ 42
- 45 cent Hà Lan. Ở Anh cúc
được trồng ngoài đồng vào những tháng mùa hè và
quanh năm có khoảng 186 ha cúc được trồng vào năm 1996, hàng năm Anh phải
nhập từ 160 - 182,2 triệu cành từ đảo Canary, Hà Lan, Israel, Tây Ban Nha, Bỉ,
Ý. Đặc biệt ở Mỹ, hoa cúc được sử dụng với 2 dạng, cúc chùm và cúc đơn
khoảng 93,7 triệu cành được sản xuất năm 1995, và phải nhập 585,395 triệu
cành chủ yếu ở Colombia và Ecuador. Ở châu Á, mặc dù Thái Lan là một trong
những nước xuất khẩu hoa Lan lớn nhấ
t thế giới nhưng hàng năm vẫn phải nhập 15
một số lượng lớn các loại hoa cắt khác chủ yếu là hoa ôn đới, năm 1995 riêng
hoa cúc đã phải nhập từ Malaixia là 8,04 triệu baht. Còn theo số liệu thống kê về
việc nhập và xuất hoa cắt ở Philipin hằng năm, nước này phải nhập từ Hà Lan,
Úc, Malaixia, Singapo chiếm khoảng 36,98% trong tổng số hoa cắt phải nhập và
ngay đến Hà Lan nước dẫn đầu về xuất khẩu hoa cúc trên thế giới, như
ng vào
tháng mùa đông cũng phải nhập từ 13,2 -19,4 triệu cành cúc (1991 -1995) từ
Israel, Nam Mỹ, Zimbabue, trong đó tỷ lệ nhập hoa màu trắng là 33 - 36 %,
vàng 22 - 24 %, hồng 12 -14%, tím 13%, đỏ 1%, còn lại là các màu khác. Hà
Lan chỉ là nhà cung cấp vào những tháng mùa hè còn mùa đông lạnh trong điều
kiện tuyết phủ, năng suất và chất lượng hoa cúc giảm nhiều [2]. Đây cũng là một
trong những cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển xuất khẩu hoa
hiện nay, mà trong điề
u kiện Việt Nam cây hoa cúc lại sinh trưởng phát triển rất
tốt vào mùa đông. Nếu ta có định hướng phát triển cụ thể đầu tư thích hợp trang
thiết bị sản xuất cũng như công nghệ tiên tiến thì việc xuất khẩu sang các nước
Bả
o Lộc, Đài loan ở Di Linh, Chánh Lâm ở Đức Trọng và Hafrrarm ở Đà Lạt rất
chú trọng đến việc sản xuất hoa cúc. Riêng công ty Hasfarrm với 100% vốn
nước ngoài chuyên trồng hoa cắt đặc biệt là hoa cúc chùm trong nhà kính, nhà
che với giống và phương tiện kĩ thuật ở Hà Lan, đây cũng là nơi cung cấp 60%
sản lượng hoa cho thành phố Hồ Chí Minh và cho các tỉnh phía Bắc chủ yếu là
Hà Nội và Hải Phòng.
Thành Phố Hồ Chí Minh là thị trườ
ng tiêu thụ hoa lớn ở Việt Nam nhu
cầu hoa cắt trong ngày từ 25 - 30 nghìn cành, trong khi đó SaĐéc và quận Gò
Vấp là những vùng chuyên canh hoa với diện tích lớn chỉ cung cấp được 10 -15
nghìn cành/ ngày. Hiện nay thành phố vẫn phải nhập các loại hoa cắt trong đó có
hoa cúc từ Hà Lan, Đoài Loan, Thái Lan.[3]
Cùng với thành phố Hồ Chí Mình, Hà Nội cũng là vùng sản xuất và tiêu
thụ hoa lớn của Việt Nam, ngoài các điều kiện thuận lợi nguồn gen phong phú,
đa dạng có th
ể trồng được các cây ôn đới, nhiệt đới, á nhiệt đới lao động dồi
dào, dân trí cao, sức tiêu dùng hoa ngày càng tăng lên, được nhà nước đầu tư,
khuyến khích phát triển. Nơi sản xuất hoa chính của Hà Nội là các vùng trồng
hoa chính và truyền thống như Ngọc Hà, Tây Hồ, Nhật Tân, Nghi Tàm, nhưng
do quá trình đô thị hoá mạnh diện tích trồng hoa đang bị thu hẹp nặng tuy vậy
nhu cầu vể hoa dường như không giảm nên đã xuất hi
ện những vùng trồng hoa
mới như Vĩnh Tuy, Tây Tựu, Phú Thượng, Mê Linh.
Cây hoa cúc đã mang lại nhiều thành công vì nó rất phù hợp với điều kiện
khí hậu, điều kiện sản xuất và thị hiếu của người tiêu dùng, hơn nữa cũng dễ
thâm canh, nhân giống, dễ trồng việc thu nhập trên một đơn vị diện tích là khá
cao, so sánh với việc sản xuất hai vụ thì hiệu quả trồng cúc t
ăng 7 - 8 lần, so với
rau mầu gấp 2,5 - 3 lần, nếu so sánh với các cây hoa khác thì trồng hoa hồng chỉ
sự thành công nhất. Theo số liệu điều tra của trung tâm nghiên cứu hoa cây cảnh
Viện di truyền nông nghiệp, trong năm 1995 diện tích hoa cúc còn ở mức độ 300
ha tập trung chủ yếu ở
các vùng trồng hoa ở Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh
chỉ riêng Hà Nội hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu cành hoa cúc cắt, cúc chậu
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước thu nhập hàng trăm triệu đồng trên
ha gieo trồng một vụ [8].
Tại sao hoa cúc lại được trồng nhiều và mang lại thành công cao như vậy?
là vì cây hoa cúc rất phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu ở Hà Nội nói riêng
và cả nước nói chung. Cúc dễ tr
ồng, dễ nhân giống bằng nhiều biện pháp khác
nhau: nhân vô tính, nuôi cấy mô, giâm cành. Từ một vài cây ban đầu chỉ sau 6
tháng đến 1 năm có thể cho rất nhiều cây giống đủ trồng cho hàng chục, hàng
trăm ha. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số công ty nước ngoài vào thuê đất lập
doanh nghiệp hoặc liên doanh hợp tác sản xuât hoa và họ đầu tư vào hoa cúc rất
lớn đây là tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển của ngành sản xuất hoa nói
chung ở Việt Nam. 18
2.2.3. Tình hình nghiên cứu nhân nhanh cây hoa cúc bằng nuôi cấy mô tế
bào trên thế giới và Việt Nam
a, Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoa cúc là loài hoa cắt có tính thời vụ phổ biến và là một trong những
loài hoa căt được tiêu thụ mạnh. Chính vì vậy, hoa cúc cũng được nghiên cứu
ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy in vitro nhiều nhất trong công tác giống.
Sử dụng công nghệ nhân giống in vitro để sản xuất cây con giống là một
trong nhiều nhân tố tạo nên thành công củ
a ngành sản xuất cúc ở một số nước
trên thế giới. Ngoài việc sử dụng chồi và đỉnh nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng
dưỡng Trigiano đã kế
t luận rằng khi đoạn thân cúc cao 1 - 2 cm và chồi cây phát 19
triển trong môi trường nuôi cấy Bencilademine, chúng hình thành 2 - 3 chồi so
với mẫu bản và không hình thành rễ bất định, còn ở trong môi trường 0,1 - 0,3
mg/ lít Indolebutyric acid hình thành 1 -2 chồi và có rễ bất định.
Để hoàn thành quy trình nuôi cây mô trên cây hoa cúc thì việc nghiên cứu
giai đoạn cuối cùng là nuôi cây In vitro ra ngoài sản xuất và có chế độ chăm
sóc hợp lí cũng rất quan trọng. Năm 1990 Robert va Smith đã nghiên cứu
bảo vệ rễ bằng chất đệm Cellulose sorbarods trong môi trường nuôi cấy
dạng lỏng làm giả
m bớt thiệt hại trong quá trình đưa cây ra ngoài và cho 1
lít môi trường ra rễ dạng lỏng 0,5 - 4 mg Paclobutrazol thì giảm được độ héo
của cây, khi cho ra ngoài sản xuất do làm thân ngắn hơn, rễ to nhiều hơn và
tăng diệp lục trên một diện tích lá.
Burchi và các cộng sự (1995) đã nghiên cứu sự biểu hiện của gen GUS ở
chồi nách của các giống cúc được chuyển gen bằng xung điện với dòng điện 0,2
- 1 mmA trong 3 - 10 phút. Kết quả như sau: 50% s
ố chồi được xử lý đã sống
sót và 50% của số này đã có biểu hiện mang gen GUS [15].
b, Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy mô tế bào trong nhân
giống cây hoa cúc đã được áp dụng nhằm nhân nhanh giống hoa cúc và đặc
biệt là các giống nhập nội phục vụ cho sản xuất. Trong những năm gần đây,
các cơ quan cùng một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến cây hoa
cúc trên nhiề
u lĩnh vực nhưng chủ yếu là kỹ thuật nhân giống bằng công
nghệ nuôi cấy mô tế bào.
Hà Lan như sau: nguồn mẫu nuôi cấy là đỉ
nh sinh trưởng, mắt ngủ và mô lá,
ngoài ra cũng có thể sử dụng đoạn thân, lá đài, cánh hoa, nhị hoa,… làm vật liệu
nuôi cấy. Việc khử trùng mẫu cấy được tiến hành bằng Hgcl2 0,1% trong 5 – 10
phút hoặc Ca(OCl)2 5-7% trong 15 – 20 phút. Sau khi khử trùng mẫu được cấy
lên môi trường cơ bản MS chứa 1-2mg/l Cytokinin (Kinetin, BAP,…) và 0,5-1,5
mg/l auxin (IBA, NAA,…). Để tạo rễ cho chồi cúc có thể lấy các chồi đơn lẻ
hoặc các đoạn thân chứa mầm nách vào môi trường MS chứa 0,3 – 0,5g/l than
ho
ạt tính và 0,1-0,5mg/l NAA hoặc trên môi trường MS không bổ sung chất
điều hoà sinh trưởng hay phụ gia nào khác. Tuy nhiên, mỗi giống cúc khác nhau
đòi hỏi các chất điều tiết sinh trưởng có nồng độ là khác nhau. Do đó, cần xây
dựng cho mỗi giống cúc một quy trình riêng.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh (2004), Nghiên cứu quy
trình công nghệ nhân nhanh giống cúc CN20, có kết luận: các giá thể khác nhau
có ảnh hưởng quyết định đến tỷ lệ sống của cây con khi đưa ra ngoài ống
nghiệm, giá th
ể cát: trấu hun, hoặc cát thích hợp cho cây cúc CN20 giai đoạn
vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 88,3%, và sau 20 ngày có thể đưa cây ra ngoài ruộng
sản xuất [6].
Các tác giả Trần Khắc Hạnh, Trần Thị Lệ, Nguyễn Thị Kim Lý
(11/2004), Trường Đại học Nông – Lâm Huế và Viện Di truyền Nông nghiệp
kết luận giá thể tốt nhất cho cây cúc CN01 ra ngôi là đất: trấu hun tỷ lệ 1:1 hoặc
Cát + trấu hun tỷ lệ 1:1, cho tỷ lệ
sống tương ứng là 98,33%, và 99% [4]. 21
Các tác giả Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thị Kim Lý (12/2004) đã nghiên
cứu ảnh hưởng của giá thể và dinh dưỡng cho cây hoa cúc sau khi nhân giống,
2.3.2.Giá trị thương mại của cây hoa đồng tiền
Với đặc điểm màu sắc tươi sáng, phong phú, đa dạng với đủ các loại màu,
trên một hoa có thể có một màu đơn hoặ
c nhiều màu xen kẽ, hoa to, cứng, nên
hoa đồng tiền là loại lý tưởng để làm hoa bó, lẵng hoa và cắm hoa nghệ
thuật…Ngoài ra đồng tiền cũng có thể được trồng trong chậu để chơi cả chậu
trong suốt một thời gian dài, đặt trong phòng làm việc, phòng khách rất phù hợp. 22
Hoa đồng tiền là loại hoa có sản lượng và giá trị cao. Ở điều kiện thích
hợp có thể ra hoa quanh năm. Tỷ lệ cành cắt và tỷ lệ hoa thương phẩm đều cao.
Kỹ thuật trồng trọt và chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một lần có thể cho
thu hoạch liên tục từ 4 – 5 năm [1]
Hiện nay, ở Việt Nam trong các loài hoa đã được chú ý phát triển, thì hoa
đồng tiền kép mớ
i nhập nội còn gọi là đồng tiền Nam Phi nổi lên như một cây
cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Từ một sào đồng tiền giống mới, chăm sóc đúng
kỹ thuật có thể cho thu nhập gần 50 triệu đồng/sào
Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004), trồng hoa đồng tiền mang
lại giá trị thu nhập cao nhất trong các loài hoa thông dụng hiện nay. Trồng một
sào đồng tiền, chăm sóc theo đ
úng yêu cầu kỹ thuật thì một năm thu được
60.000 bông/sào (mật độ 2000 cây/sào). Với giá bán buôn tại vườn là 700 - 1500
đồng/ bông, trung bình 900 đồng/bông, tổng thu sẽ là 54 triệu đồng/ sào /năm.
Như vậy, nếu thực hiện canh tác đúng kỹ thuật với mức giá bán khiêm tốn thì
ngay năm đầu trồng hoa đồng tiền đã thu hồi toàn bộ vốn bỏ ra là
29.700.000đồng/sào, đồng thời còn lãi sấp xỉ 24 triệu đồng/sào.
Năm 1993, hoa đồ
ng tiền đứng thứ 7 trong số 10 loại hoa cắt có giá trị
được giữ trong phòng nuôi ở nhiệt độ 27
0
C, thời gian chiếu sáng 12 -16
giờ/ngày, cường độ chiếu sáng là 1000 lux. Những chồi tách sẽ ra rễ sau khi
được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 10mg/l IAA. Wozniak và cộng sự
cho rằng bổ sung kinetin vào môi trường nuôi cấy sẽ làm tăng cả số lượng và
chất lượng chồi. Số lượng và chất lượng rễ cũng như sức đề kháng của cây tăng
lên khi cho thêm 2,6 mg/l ABA vào môi trường ra rễ [12].
Năm 1982, khi nghiên cứu ảnh hưởng của chấ
t điều tiết sinh trưởng tới sự
hình thành chồi và rễ của đồng tiền trong phòng nuôi cấy, Pierik và cộng sự đã
nhận thấy: Môi trường có nồng độ citokinin cao và auxin thấp thì sẽ hình thành
chồi, còn môi trường có IAA, IBA thuận lợi cho sự hình thành rễ.[13]
Năm 1985, Hempel và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin,
BAP và 2iP đến quá trình nhân giống invitro đối với giống Marleeen và cho
thấy: 23,23µM Kinetin thích hợp cho nhân chồi và 5,5µM BAP cho số rễ tối
đa.
Khi bổ sung 9,84µM IBAvào môi trường sẽ làm tăng số lượng rễ và tăng sức đề
kháng của cây[6].
Pinto JEBP lại cho rằng môi trường tốt nhất cho tái sinh cây là MS có bổ
sung 3 - 9 mg/lBA, môi trường nhân nhanh chồi là 1/2MS + 2,27mg/lBA, còn
môi trường tạo rế tốt nhất là không có BA[5].
b, Tình hình nghiên cứu và sản xuất ở Việt Nam
Cây hoa đồng tiền ở Việt Nam đã được trồng từ rất lâu đời, song chủ yếu là
những giống hoa đồng tiền
đơn cho nên các kết quả nghiên cứu về giống hoa này
còn hạn chế. Từ những năm 1950 trở lại đây, với sự xuất hiện của nhiều giống hoa
đồng tiền nhập nội đã làm thay đổi cơ cấu trồng đồng tiền ở nhiều vùng trồng hoa
và nhận được những sự quan tâm của các nhà khoa học trong nước.
Năm 1996, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã nghiên cứu ph
Theo Lê Kim Hoàn, môi trường tạo callus MS+0,1 NAA+0,25 mg/l TDZ;
- Môi trường nhân chồi (nhân nhanh): MS+2mg/l Ki + 0,01mg/l NAA +
0,5mg/l BAP;
- Môi trường tạo cây con hoàn chỉnh: 1/2MS + 0,1mg/l IAA;
- Nên tạo rễ exvitro đối với hoa đồng tiền kép sẽ thu được lượng rễ nhiều
hơn, khoẻ hơn và đặc biệt giá thành cho 1 cây con rẻ hơn so với cho ra rễ invitro.
Liều lượng xử lý ra rễ thích hợp đối với Đồng tiền kép là 1000 ppm IBA [2]
Những nghiên cứu trên đ
ã bước đầu hoàn thiện được quy trình nhân giống
cây hoa đồng tiền bằng phương pháp nuôi cấy mô. Tuy nhiên, việc sử dụng
những hoá chất đắt tiền như TDZ chỉ thích hợp với điều kiện thí nghiệm hoặc
mô hình sản xuất nhỏ. Với quy mô lớn, sản xuất công nghiệp sẽ làm cho sản
phẩm mất khả năng canh tranh về giá.