HÀNH LANG KINH TẾ VIỆT TRUNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
HÀNH LANG KINH TẾ VIỆT TRUNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
TỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên
Lớp
Khóa
Giáo viên hướng dẫn
: Nguyễn Thị Thu Huyền
: Pháp 3
: 42
: TS. Bùi Thị Lý
Hà Nội, tháng 11 / 2007
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
L I M UỜ ỞĐẦ 6
CH NG I: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRI NƯƠ Ể
HÀNH LANG KINH T VI T – TRUNGẾ Ệ 9
I. M t s v n lý lu n v H nh lang kinh tộ ố ấ đề ậ ề à ế 9
1. Khái ni m v h nh lang kinh tệ ề à ế 9
2. Tính t t y u c a vi c hình th nh H nh lang kinh tấ ế ủ ệ à à ế 10
3. Vai trò c a H nh lang kinh t i v i ho t ng th ng m i trong b i c nhủ à ếđố ớ ạ độ ươ ạ ố ả
to n c u hóaà ầ 12
II. S hình th nh v phát tri n H nh lang kinh t Vi t – Trungự à à ể à ế ệ 15
1. S hình th nh H nh lang kinh t Vi t Trungự à à ế ệ 15
2. M c tiêu c a vi c hình th nh H nh lang kinh t Vi t - Trungụ ủ ệ à à ế ệ 15
3. Nh ng nhân t thúc y vi c hình th nh H nh lang kinh t Vi t Trungữ ố đẩ ệ à à ế ệ 16
4. N i dung v tình hình tri n khai h p tácộ à ể ợ 25

II. M t s gi i pháp ch y uộ ố ả ủ ế 75
1. Nhóm gi i pháp v môả ĩ 75
1.1. T o h nh lang pháp lý cho ho t ng xu t kh u h ng hóa c a Vi t Namạ à ạ độ ấ ẩ à ủ ệ
trên H nh lang kinh t Vi t - Trungà ế ệ 75
1.2. y m nh h p tác u t g n v i th ng m iĐẩ ạ ợ đầ ư ắ ớ ươ ạ 80
1.3. Chú tr ng công tác xúc ti n th ng m iọ ế ươ ạ 81
1.4. T ng c ng công tác ch ng buôn l u v gian l n th ng m iă ườ ố ậ à ậ ươ ạ 83
1.5. Các gi i pháp khácả 86
2. Nhóm gi i pháp vi môả 88
2.1. y m nh ho t ng buôn bán chính ng ch v ch ng h n trong ho tĐẩ ạ ạ độ ạ à ủ độ ơ ạ
ng kinh doanhđộ 88
2.2. a d ng hóa các ph ng th c ho t ng th ng m iĐ ạ ươ ứ ạ độ ươ ạ 92
2.4. Nâng cao s c c nh tranh c a h ng hoá, d ch v trong trao i gi a haiứ ạ ủ à ị ụ đổ ữ
bên 95
2.5. Xây d ng kênh phân ph i cho h ng xu t kh uự ố à ấ ẩ 96
2.6. i m i nh n th c v liên k t l i t o l i th c nh tranh t ng l cĐổ ớ ậ ứ à ế ạ để ạ ợ ế ạ ổ ự 97
K T LU NẾ Ậ 99
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 101
PH L C 1Ụ Ụ 103
DANH M C CÁC M T HÀNG XU T NH P KH U CH Y UỤ Ặ Ấ Ậ Ẩ Ủ Ế 103
GI A VI T NAM V I T NH VÂN NAM TH I K 2003 - 2005Ữ Ệ Ớ Ỉ Ờ Ỳ 103
PH L C 2Ụ Ụ 106
CÁC M T HÀNG XU T NH P KH U CH Y U GI AẶ Ấ Ậ Ẩ Ủ Ế Ữ 106
VI T NAM V I T NH QU NG TÂY TH I K 2003 - 2005Ệ Ớ Ỉ Ả Ờ Ỳ 106
PH L C 3Ụ Ụ 110
CH NG TRÌNH THU HO CH S M S C TH C HI N KHÔNGƯƠ Ạ Ớ Ẽ ĐƯỢ Ự Ệ
MU N H N NGÀY 1/1/2004 NH SAU:Ộ Ơ Ư 110
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
3

vực là xây dựng các mô hình hợp tác kinh tế khu vực ở các cấp độ khác nhau
trên phạm vi toàn cầu, việc xây dựng rộng rãi khu mậu dịch tự do là một biểu
hiện quan trọng đó. Hiện nay khu vực mậu dịch tự do có ảnh hưởng nhất trên
phạm vi toàn cầu là khu vực mậu dịch tự do EU, Bắc Mỹ và khu vực mậu
dịch tự do Trung Quốc – ASEAN. Đồng thời hợp tác kinh tế tiểu vùng cũng
phát triển nhanh chóng, tại Châu Á và khu vực Đông Nam Á, hợp tác kinh tế
ở mọi cấp độ không ngừng xuất hiện, ví dụ như hợp tác kinh tế tiểu vùng sông
Mêkông và hợp tác kinh tế khu vực Đông Nam Á mà các nước ASEAN và 3
nước Trung, Nhật, Hàn đang ấp ủ thực hiện… Toàn cầu hóa kinh tế, nhất thể
hóa kinh tế khu vực đã thúc đẩy các nước trên thế giới và trong các khu vực
cùng hợp tác, cùng phụ thuộc vào nhau và cùng hội nhập. Mối quan hệ kinh tế
giữa các khu vực, các quốc gia ngày càng mật thiết. Trong bối cảnh đó, xây
dựng Hành lang kinh tế Việt – Trung là điều tất yếu, thuận theo xu thế phát
triển của kinh tế thế giới.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, có quan hệ hữu
nghị truyền thống và hợp tác lâu đời. Cả hai quốc gia đều có sự quan tâm đặc
biệt tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại đáp ứng lợi ích của nhân dân hai
nước. Sự phát triển bền vững của quan hệ Trung Quốc – Việt Nam và quan hệ
Trung Quốc – ASEAN đã tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên triển khai hợp
tác hữu nghị, cùng nhau xây dựng Hành lang kinh tế Việt – Trung. Xây dựng
Hành lang kinh tế Việt – Trung là nhận thức chung quan trọng do Lãnh đạo
hai nước Việt Nam – Trung Quốc đạt được, nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phồn
vinh của khu vực biên giới của hai nước, từ đó thúc đẩy sự hợp tác kinh tế
thương mại của hai bên không ngừng phát triển.
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
6
Khóa luận tốt nghiệp
Phát triển hoạt động ngoại thương trên khu vực Hành lang kinh tế Việt –
Trung diễn ra trong bối cảnh các nước trong khu vực đang tăng cường hợp tác

3/K42F
8
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ VIỆT – TRUNG
I. Một số vấn đề lý luận về Hành lang kinh tế
1. Khái niệm về hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế (tên tiếng Anh: Economic corrider) là một tuyến nối
liền về mặt địa lý tự nhiên các vùng lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia
nhằm mục đích liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để khai thác có hiệu quả lợi thế so
sánh của các khu vực địa – kinh tế nằm trên cùng một dải theo trục giao thông
thuận lợi nhất đối với sự lưu thông hàng hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng
bên trong, cũng như các vùng cận kề với hành lang này.
Tuyến liên kết này được hình thành trên cơ sở hệ thống kết cấu hạ tầng
đa dạng có khả năng tạo ra sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, làm thay đổi
căn bản diện mạo kinh tế của một vùng nhất định thuộc một hoặc nhiều quốc
gia mà hành lang kinh tế đi qua, và góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế
của các quốc gia đó.
Trên thực tế, thuật ngữ ‘hành lang kinh tế” được dùng chủ yếu để chỉ
một khu vực rộng lớn trải dài hai bên một tuyến giao thông huyết mạch
(đường cao tốc, đường sắt, đường thủy …) đã có hoặc chuẩn bị được xây
dựng. Tuyến đường trục này cho phép giao thông thuận tiện đến các điểm
đầu, điểm cuối và bên trong hành lang kinh tế đó, có vai trò đặc biệt quan
trọng để liên kết toàn khu vực và phát triển kinh tế dọc theo hành lang này.
Xét theo tính chất và mức độ hợp tác, liên kết kinh tế thì Hành lang
kinh tế thuộc một trong những loại hình thức hợp tác khu vực, nhưng theo cơ
chế ‘phi chính thức’, trong đó các vùng, địa phương thuộc các quốc gia khác
nhau cùng thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư trong một khu vực địa lý
gần kề được xác định. Thông thường, hợp tác khu vực này hay dựa trên các
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp

Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
10
Khóa luận tốt nghiệp
thành các mối liên kết kinh tế tạo ra các vùng tăng trưởng kinh tế (hay tam
giác kinh tế) trên cơ sở khai thác các thế mạnh tổng hợp của một khu vực gồm
các địa phương có những điều kiện phát triển kinh tế có thể bổ sung cho nhau,
tạo ra vùng tăng trưởng kinh tế cao, làm nòng cốt để thúc đẩy sự phát triển cả
các vùng lân cận hay một vùng, miền của một nước.
Khác với liên kết kinh tế quốc tế và khu vực (thường dựa trên các
nguyên tắc thống nhất do các bên tham gia cam kết thực hiện), các liên kết
tiểu vùng thường gắn với việc phát triển các khu vực tăng trưởng hay hành
lang kinh tế thông qua các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Có nhiều
loại hành lang kinh tế khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm địa lý và kinh tế –
xã hội của từng vùng, từng khu vực tạo thành hành lang kinh tế. Tuy nhiên,
trong mọi trường hợp, ở mọi dự án hành lang kinh tế, sự phân chia lãnh thổ
theo địa giới hành chính sẽ ít quan trọng hơn và tinh thần hợp tác với một
mục đích chung là yếu tố quan trọng, chiếm ưu thế và đóng vai trò thúc đẩy
sự phát triển của cả vùng thuộc hành lang kinh tế.
Sự phát triển của nhiều hình thức liên kết kinh tế cũng như các dự án
phát triển các tuyến hành lang kinh tế là một yêu cầu khách quan, chịu sự tác
động của các yếu tố sau đây:
- Trước hết quá trình liên kết kinh tế dưới mọi hình thức đều do tác
động của quá trình tòan cầu hóa kinh tế. Tự do hóa thương mại với việc dỡ bỏ
các rào cản thương mại, thuận lợi hóa đầu tư, khai thông các luồng vốn sẽ
giúp các quốc gia xây dựng các mối liên kết kinh tế để phát huy cao độ lợi thế
so sánh của mình để cùng nhau phát triển. Quá trình này cũng tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thực hiện các dự án phát triển hành lang kinh tế ở những
khu vực kém phát triển nhờ có được những điều kiện quốc tế thuận lợi cho
việc xây dựng kết cấu hạ tầng như giao thông, mạng lưới viễn thông, hệ thống

của các vùng nhất định, có thể là một hoặc một số lĩnh vực kinh tế nào đó mà
việc xây dựng hành lang tạo điều kiện cho chúng phát triển như: du lịch, công
nghiệp, thương mại,… Tuy nhiên dù tập trung vào mục đích phát triển của
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
12
Khóa luận tốt nghiệp
lĩnh vực nào đó của nền kinh tế thì vai trò của hành lang là tạo điều kiện phát
triển một vùng nhất định và nhiệm vụ căn bản của nó là tạo ra kết cấu hạ tầng.
Chính vì vậy hành lang kinh tế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trao
đổi hàng hóa, giao lưu kinh tế trong vùng cũng như giữa các vùng trên hành
lang kinh tế với các vùng khác và quốc tế.
- Việc xây dựng các tuyến hành lang tạo ra các mạch giao thông trên bộ
và trên cơ sở đó hình thành các cụm dân cư – cơ sở hình thành thị trường trao
đổi hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế hàng hóa. Và cũng chính các tuyến
giao thông trên hành lang sẽ liên kết các cụm dân cư tạo thành những khu vực
thị trường rộng lớn, thúc đẩy thương mại phát triển.
- Hành lang kinh tế tạo ra mối liên kết kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất
định với các vùng khác, do vậy tạo điều kiện cho các vùng có hành lang kinh
tế đi qua mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế thương mại.
- Phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ là một công việc quan trọng của
hành lang kinh tế, do vậy tạo điều kiện để giảm chi phí vận chuyển, đẩy
nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ do đó có tác dụng nâng cao sức
cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ và hiệu quả trao đổi thương mại.
- Hành lang kinh tế tạo dựng môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu
tư, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ, đẩy mạnh phân công lao động xã
hội. Sự phát triển trên hành lang làm rút ngắn khoảng cách của vùng trên hành
lang và các vùng lân cận khác. Điều này sẽ tạo điều kiện cho quá trình tự do
hóa thương mại, thúc đẩy trao đổi hàng hóa trên phạm vi lãnh thổ lớn hơn.
Thông thường, những dự án tạo lập hành lang kinh tế chủ yếu dựa vào

• Tạo điều kiện hình thành các cụm công nghiệp nhờ vào hiệu quả
kinh tế do quy mô, các liên kết về công nghệ từ khâu khai thác, chế biến
đến mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
• Tạo ra cơ sở hạ tầng quan trọng cho các hoạt động kinh tế, thu hút
đầu tư mới và tăng tính hiệu quả các hoạt động đầu tư hiện có trong vùng
thông qua hệ thống chính sách phù hợp, cơ hội hình thành các công viên
công nghệ, các khu vực thương mại tự do…
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
14
Khóa luận tốt nghiệp
• Tạo việc làm thông qua sự chuyển dịch năng động lao động giữa
các vùng, cơ hội chuyên môn hóa và đào tạo kỹ năng lao động.
• Tạo ra các liên kết về kinh tế và xã hội, phát triển các cộng đồng
địa phương theo một mục tiêu chung mà vẫn giữu nguyên bản sắc của
từng cộng đồng dân cư.
II. Sự hình thành và phát triển Hành lang kinh tế Việt – Trung
1. Sự hình thành Hành lang kinh tế Việt Trung
Khái niệm “Hành lang kinh tế” thuộc hợp tác tiểu vùng sông Mêkông mở
rộng (GMS) được Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đưa ra tại Hội nghị
Bộ trưởng GMS lần thứ 8 tại Manila tháng 10 – 1998, trong đó có Hành lang
kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng giữa Việt Nam và Trung
Quốc. Đến tháng 5/2004, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức của Thủ
tướng Việt Nam tới Trung Quốc, Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải và Thủ
tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo lại đạt được nhất trí mới về triển khai đồng bộ
Hai hành lang kinh tế Việt – Trung bao gồm Hành lang kinh tế Nam Ninh –
Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và Hành lang kinh tế Côn
Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Thỏa thuận mới này
được nhấn mạnh lại trong “Biên bản ghi nhớ về triển khai hợp tác Hai hành
lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung” được ký vào ngày 16 tháng 11 năm

ký 49 hiệp định và 25 văn kiện khác ở cấp Nhà nước, đặt cơ sở pháp lý cho
quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên đã khai thông đường hành
không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu
hàng hóa và hành khách giữa hai nước. Trao đổi đoàn ở trung ương và địa
phương ngày càng tăng, hằng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh
đạo các Bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng, góp phần tăng cường
hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai nước.
Trong chuyến thăm Trung Quốc của nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu
02-1999, lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm 16 chữ phát
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
16
Khóa luận tốt nghiệp
triển quan hệ hai nước trong thế kỷ XXI là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Trong dịp chủ tịch Trần Đức
Lương thăm Trung Quốc tháng 12-2000, hai bên đã ký Tuyên bố chung về
hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hóa phương châm 16 chữ đó thành
những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ giữa hai nước trên tất cả các lĩnh
vực. Hai bên cũng nhất trí xây dựng quan hệ hai nước theo tinh thần 4 tốt:
“láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Quan hệ hợp tác giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, quốc phòng,
an ninh của hai nước được tăng cường thêm một bước với việc ký các thỏa
thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12 - 2002), hai Bộ Công an (09 -
2003), hai Bộ Quốc phòng (10 - 2003). Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ hai nước
được tổ chức thường xuyên với nội dung phong phú, thiết thực.
Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 10 – 2005, Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Hồ Cẩm Đào đã cùng Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tới dự và phát biểu
tại cuộc giao lưu thanh niên Việt – Trung lần thứ 6 tổ chức tại Hà Nội. Một số
hội thảo lý luận về kinh nghiệm phát triển đất nước, xây dựng CNXH, xây
dựng Đảng được hai bên coi trọng và tổ chức đều đặn.

hiệu đường sắt đoạn Vinh – thành phố Hồ Chí Minh; trong số 4 dự án về điện
năng, đáng chú ý là Hợp đồng về việc Trung Quốc tham gia xây dựng một số
nhà máy điện và bán điện cho 6 tỉnh miền Bắc Việt Nam.
2
Trong những năm qua, quan hệ trao đổi hợp tác giữa Việt Nam với
Trung Quốc trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa – thể thao được đẩy
mạnh. Hàng năm, Trung Quốc tiếp nhận một số lượng đáng kể các học sinh,
thực tập sinh và các đoàn thể thao của Việt Nam sang nghiên cứu, học tập và
tập huấn tại Trung Quốc, đồng thời cử nhiều cán bộ, huấn luyện viên sang
giúp Việt Nam trong công tác huấn luyện các môn thể thao. Hai bên trao đổi
các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hóa, thể thao,
góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
1
Báo cáo thương mại Việt Nam – Trung quốc 2006
2
Báo cáo quan hệ kinh tế thương mại tháng 11/2006
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
18
Khóa luận tốt nghiệp
Các địa phương của hai bên cũng tăng cường quan hệ hợp tác trực tiếp
với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực (trao đổi đoàn khảo sát, học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo,
triển lãm …), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của địa
phương, đặc biệt là giữa hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc và
các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam. Tiềm năng phát triển quan hệ Việt
– Trung là rất lớn, với sự cố gắng chung của cả hai bên, mối quan hệ đó sẽ
không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp hơn trong thế kỷ XXI.
3.2. Cam kết chính trị của hai nước ngày càng cao về quyết tâm đưa
quan hệ Việt Nam – Trung Quốc lên tầm cao mới

quan hệ hữu nghị Việt - Trung là tài sản quý báu chung của nhân dân hai
nước, cần cùng nhau ra sức giữ gìn và phát huy. Với tinh thần đó, hai bên
khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin
cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và
xây dựng CNXH ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở
khu vực và thế giới.
Hai là, trên cơ sở tin cậy lẫn nhau với tầm nhìn và tư tưởng cùng hợp tác,
cùng phát triển và cùng phồn thịnh, hai bên nhất trí hợp tác mạnh mẽ hơn nữa
về kinh tế, thương mại, đầu tư, trong các lĩnh vực như khai thác và chế biến
khoáng sản, điện, lọc dầu, cơ khí luyện kim và xây dựng cơ sở hạ tầng…
Lãnh đạo Trung Quốc khẳng định sẽ khuyến khích các công ty lớn, có uy tín
của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam để đảm bảo hiệu quả đầu tư và tìm các
biện pháp góp phần giảm nhập siêu của Việt Nam trong thương mại hai bên.
Tháng 5 – 2004, trong chuyến thăm Trung Quốc, Thủ tướng Việt Nam
Phan Văn khải đã đưa ý tưởng xây dựng Hành lang kinh tế Việt – Trung, điều
này được phía Trung Quốc tích cực hưởng ứng. Tháng 10 – 2004, khi Thủ
tướng Ôn Gia Bảo thăm Việt Nam, lãnh đạo hai nước đã đạt được nhận thức
chung, đồng ý thành lập tổ chuyên gia trong khuôn khổ Ủy ban hợp tác kinh
tế mậu dịch chính phủ hai nước, nghiên cứu vấn đề xây dựng “Hai hành lang,
một vành đai”. Từ đó, việc xây dựng “Hai hành lang, một vành đai” đã được
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
20
Khóa luận tốt nghiệp
nâng lên thành “chiến lược hợp tác quốc tế Trung – Việt”. Hợp tác Hành lang
kinh tế Việt – Trung đã bao trùm lên cả khu vực Vân Nam, Quảng Tây của
Trung Quốc và khu vực miền Bắc của Việt Nam. Mô hình hợp tác này là sự
chọn lựa chiến lược của hai nước nhằm ứng phó với tiến trình toàn cầu hóa
kinh tế và nhất thể hóa khu vực. Mục tiêu của nó là sự gần gũi về địa lý, văn
hóa, sự bổ sung lẫn nhau về tài nguyên giữa hai nước để thực hiện mục tiêu

một “lô cốt đầu cầu” trong quan hệ của các nước Đông Nam Á với Trung
Quốc. Nói về lợi ích kinh tế, trong quan hệ Trung Quốc – ASEAN, Việt Nam
là nước có thể có được lợi ích đầu tiên, bất kể là thực hiện sản xuất trong
nước, hay mậu dịch chuyển khẩu đều có lợi cho Việt – Nam. Đây thực sự là
một ưu thế lớn nhất mà không một nước nào trong ASEAN có thể có được.
Mọi người đều biết, Hồng Kông sở dĩ có được ưu thế phát triển mạnh mẽ
là do nằm giữa “điểm huyệt” của Trung Quốc vươn ra thế giới bên ngoài, trở
thành cây cầu nối Trung Quốc với thế giới bên ngoài. Vị trí của Việt Nam, rõ
ràng có nhiều điểm tương tự với Hồng Kông. Do phía Bắc Việt Nam tiếp
nhận một lượng lớn hàng của Trung Quốc, sau đó chuyển về tiêu thụ tại phía
Nam và Đông Nam Á, còn ở phía Nam, Việt Nam có thể tiếp nhận nguyên
liệu thô của các nước Đông Nam Á, sau đó chuyển lên phía Bắc và bán sang
Trung Quốc. Như vậy, với vị trí địa lý thuận lợi trên sẽ tạo điều kiện thúc đẩy
phát triển hoạt động thương mại của cả Việt Nam và Trung Quốc.
3.4 Tiềm lực kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng lớn. đặc
biệt là Trung Quốc, đủ sức tham gia các dự án quốc tế lớn
Với hơn 1,3 tỷ người, Trung Quốc chiếm ngôi vị hàng đầu thế giới về
tổng dân số. Không chỉ có vậy, Trung Quốc đã và đang khẳng định là cường
quốc kinh tế của thế giới. Từ năm 2005, Trung Quốc trở thành nên kinh tế thứ
4 của thế giới, đứng sau Mỹ, Nhật Bản và Đức. Không phải ngẫu nhiên mà có
được kết quả vĩ đại như thế. Cả một chặng đường hơn 25 năm liên tục từ thế
kỷ XX đến thế kỷ XXI, tổng sản phẩm trong nước (GDP) không ngừng tăng
trưởng. Cả thế giới trong gần 30 năm qua, chỉ có duy nhất Trung Quốc đạt
được thành tựu đó. Giống như con tàu siêu tốc, Trung Quốc đang tiến nhanh
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
22
Khóa luận tốt nghiệp
và mạnh trên con đường chinh phục thế giới với mục tiêu: phấn đấu đến năm
2020 đứng thứ 2 và năm 2040 chiếm ngôi vị thứ nhất thế giới về GDP.

Khóa luận tốt nghiệp
Dù quan niệm đó là một mối đe dọa hay là một thời cơ, ngày nay chẳng
có quốc gia nào trên thế giới có thể tự cho phép mình bỏ qua sự hiện hữu của
Trung Quốc và tìm cách phát triển quan hệ với Trung Quốc.
Theo dự đoán của Ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ thì trong vòng 30
năm tới, nền kinh tế Trung Quốc sẽ lớn gấp 3 lần nền kinh tế Mỹ.
Báo “The Economist” ước tính là trong vòng nửa thế kỷ tới phát triển
kinh tế của Trung Quốc đóng góp vào nền kinh tế toàn cầu một lượng của cải
vật chất ở mức độ tương đương với khám phá ra thêm 4 Châu Mỹ mới.
Các chỉ số thống kê kinh tế và những sự kiện chính trị trong những năm
gần đây cho phép người ta có thể đánh giá là thế kỷ XXI vừa mới bắt đầu sẽ
là “Thế kỷ Trung Quốc”; cũng như trong quá khứ, thế kỷ XX là “Thế kỷ Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ”, và trước đó, thế kỷ XIX là thế kỷ của “ Vương Quốc
Anh”.
Kinh tế tăng trưởng liên tục đưa đất nước Trung Quốc trở thành thị
trường lớn của thế giới, mang lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và trở thành
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của thế giới.
Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội to lớn. Kinh
tế tăng trưởng cao trong nhiều năm (đứng thứ 2 sau Trung Quốc) và sẽ thoát
ra khỏi nhóm nước đang phát triển thu nhập thấp vào năm 2010 để trở thành
nước đang phát triển thu nhập trung bình. Thế và lực của Việt Nam đang
được nâng cao một bước đáng kể.
Báo cáo Phát triển Con người năm 2006 Chương trình phát triển Liên
hợp quốc (UNDP) xếp Việt Nam đứng thứ 109 trong tổng số 177 quốc gia về
chỉ số Phát triển Con người (HDI). Chỉ số này được tính dựa trên các tiêu chí
liên quan đến tuổi thọ, thành tựu giáo dục và thu nhập. GDP tính theo đầu
người ở Việt Nam tăng từ 2490 USD năm 2005 lên 2745 năm 2006 tính theo
tỷ giá sức mua tương đương (PPP). Chỉ số HDI của Việt Nam đạt mức trung
bình cùng với Trung Quốc (đứng thứ 81) và Nga (đứng thứ 65).
Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp

Nguyễn Thị Thu Huyền Lớp Pháp
3/K42F
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status