Nghiên cứu giải pháp đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp đê trên nền đất yếu từ quảng ninh đến quảng nam nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa - Pdf 13

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM

BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ TỪ XA THUỘC ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẮP ĐÊ BẰNG VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐẮP TRÊN
NỀN ĐẤT YẾU TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM

Mã số: 05 Thuộc chương trình: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ XÂ
Y
DỰNG ĐÊ BIỂN VÀ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Nguyễn Quốc Dũng
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam


trồng cỏ để bảo vệ mái là một hướng giải quyết mới cho vấn đề đê biển Việt Nam
hiện nay. Đây một nội dung nghiên cứu dài hơi, cần phải giải quyết được các vấn đề
về giống, khả năng ch
ịu mặn, chịu hạn và các điều kiện khí hậu khắc nghiệt khác,
khả năng tham gia chống xói mòn bề mặt , đồng thời mối không ăn hoặc làm tổ
được trong bộ rễ của nó.
7.1. GIỚI THIỆU CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG SÓNG
Khi bãi biển bị xâm thực mạnh bởi sóng và dòng chảy, đê biển ngoài bảo vệ
trực tiếp bằng kè gia cố mái đê cần bảo vệ kết h
ợp bằng các giải pháp sau:
- Rừng cây ngập mặn trồng trên vùng bãi trước đê;
- Hệ thống mỏ hàn ngăn cát;
- Hệ thống đê giảm sóng;
- Hệ thống công trình kết hợp giữa mỏ hàn và đê giảm sóng.
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

7.2. RỪNG NGẬP MẶN
7.2.1. Thế nào là rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là những cây và bụi nằm trong vùng triều được ngập nước
theo chu kỳ thủy triều. Khác với cây rừng trên đất liền và cây công nghiệp chỉ sống
ở nơi có nước ngọt, cây ngập mặn có khả năng thích nghi cao, cho phép chúng tồn
tại ở những môi trường thay đổi thất thường. Chúng có thể sống trong vùng nước
ngậ
p mặn trong khi hầu hết các loại cây khác không thể tồn tại được.
Rừng ngập mặn thường rất phổ biến ở các bờ biển nhiệt đới và vùng cửa
sông chịu ảnh hưởng của thủy triều (trong đó có Việt Nam). Chúng hình thành nên
hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, nơi nuôi dưỡng nhiều loại sinh vật biển. Một
số loài cây ngập mặn nhân giống bằng hạt. Những hạ

Ngoài ra, rừng cây ngập mặn còn được coi là hàng rào xanh chống sạt lở đê
và chống xói lở bờ biển, bờ sông. Đồng thời, nhờ bộ rễ của chúng, đặc biệt là hệ
thống rễ trên mặt đất có tác d
ụng làm tăng khả năng lắng đọng phù xa, nhờ vậy mà
bãi biển được bồi cao dần lên, hình thành các miền đất mới có thể quai đê lấn biển.
7.2.3. Điều kiện ứng dụng rừng ngập mặn
- Khí hậu
Khí hậu nước ta phù hợp cho nhiều loại cây ngập mặn phát triển tốt. Tuy
nhiên, miền Bắc có khí hậu mùa đông thấp hơn so với miền Nam nên chọn loại cây
có khả
năng chịu được khí hậu lạnh để phát triển.
- Lượng mưa
Nước mưa rất cần cho quá trình sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn,
đặc biệt trong thời kỳ ra hoa kết quả. Nước mưa có tác dụng pha loãng nồng độ
muối trong đất, hạ nhiệt độ môi trường, nhất là trong những ngày nắng nóng.
- Thủy triều
Cây ngập mặn chỉ phát triển ở những nơ
i có nước thủy triều lên, xuống hàng
ngày. Những nơi đắp bờ làm đầm nuôi tôm, cá, cua , nước triều không lưu thông
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

tốt, ngập úng lâu ngày cây ngập mặn sẽ chết. Vì vậy, vùng trồng cây phải nằm
ngoài đầm nuôi hải sản.
- Độ mặn của đất và nước
Dù sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước mặn, nhưng độ mặn quá
cao hoặc quá thấp sẽ hạn chế rất nhiều khả năng phát triển của cây.
Đối với các loài cây như đước, đâng, vẹt, trang, độ mặn thích hợp cho cây
trung bình từ 1,5 ÷ 2,5℅

Đất phù sa chứa nhiều mùn hữu cơ và khoáng do nước triều dâng mang vào
làm thức ăn cho cây để rừng ngập mặn phát triể
n.
Đối với đất ít phù sa, thành phần hạt cát nhiều cây ngập mặn vẫn có thể sống
nhưng chậm lớn, cây thấp bé nhưng cành nhiều.
7.2.2. Thiết kế rừng cây ngập mặn chống sóng
7.2.2.1. Các loại cây ngập mặn
Một số loại cây ngập mặn sau có thể được trồng cho vùng bờ biển từ Quảng
Ninh đến Quảng Nam:
- Cây sú
Tên khoa học: Aegiceras comiculatun
Giống cây bụi, cao từ 0,5 ÷ 3,0m. Nhiều cành, sinh trưởng
ở vùng bãi lầy.
Thích nghi với các độ mặn khác nhau, trồng ở cả ba miền Bắc, Trung Nam.
Hình thức nhân giống: bằng quả. Cắm trực tiếp cuống quả xuống bùn.
- Cây mắm biển
Tên khoa học: Avicennia marina
Cây bụi, cao từ 0,5 ÷ 1,5m ( đất ít phù xa), 0,5 ÷ 1,5m ( đất bùn)

Mọc nhiều ở các bãi mới bồi ở cửa sông miền Bắc.
Hình thức nhân giống: cắm quả xuống bùn hoặc làm bầu ươm rồi cắm.
- Cây vẹt
Tên khoa học: 1.Bruguiera gumriorhiza ( vẹt dù, vẹt rễ lồi )
2. Bruguiera uylindrica ( vẹt trụ, vẹt khoang )
3. Bruguiera parviflora ( vẹt tách )
4. Bruguiera sexan-gula ( vẹt đen, bông hạt )
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa


Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

- Cây dừa nước
Tên khoa học: Nypa jruticans
Sống ở vùng đất bồi tụ, theo triền sông nước lợ, nước lưu thông. Cây này ở
vùng Quảng Nam, Nam Trung Bộ, và Nam Bộ.
Hình thức trồng: trực tiếp ấn quả xuống bùn hoặc ươm cây trong bầu, sau 2
tháng đem trồng.
- Cây bần
Tên khoa học: 1. Sonnertia alba (bần trắng, bần đắng)
2. Sonnertia caseolaris (bần chua, cây lậu)
3. Sonnertia ovata (bần ổi, bần hôi)
Cây cao 4 ÷ 15m, thích sống ở vùng nước bùn dày nước lợ c
ửa sông.
Loại 2 có cả ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, khả năng tái sinh và độ sinh trưởng
nhanh. Loại 1 sống ở miền Nam, loại 3 sống ở Vũng Tàu trở vào.
Hình thức trồng: gieo ươm hoặc bứng cây.
- Cây xu
Tên khoa học: 1. Xylocarpus granatum (xu ổi, su ổi)
2. Xylocarpus molucensis (xu sung)
Cây cao 10 ÷ 15m, thường mọc ở nơi đất bùn cát đã nâng cao, chỉ ngập khi
triều trung bình đến triều cao.
Loại 1 mọc ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Loại 2 chỉ
mọc từ Nam Trung Bộ
trở ra.
Nhân giống: Ươm hạt trong bầu, sau 8 ÷ 10 tháng, bứng cây non đem trồng.

7.2.2.2. Qui cách rừng ngập mặn
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

7.3. CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH NGĂN CÁT GIẢM SÓNG
7.3.1. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH BẢO VỆ
7.3.1.1. Kè mỏ hàn
Mỏ hàn là một loại công trình được xây dựng như một gờ chắn nhô ra khỏi
bờ, có tác dụng:
- Ngăn chặn dòng bùn cát ven bờ, giữ gìn bùn cát lại gây bồi tại vùng bãi bị
xâm thực, mở rộng và nâng cao thềm bãi, củng cố đê, bờ.
- Điều chỉnh đường bờ bi
ển, làm cho phương của dòng gần bờ thích ứng với
phương truyền sóng, giảm nhỏ lượng bùn cát trôi.
- Che chắn cho bờ khi bị sóng xiên góc truyền tới, tạo ra vùng nước yên tĩnh,
làm cho bùn cát trôi bồi lắng ở vùng này.
- Giảm và hướng dòng chảy ven bờ đi ra vùng xa bờ.
Để hiểu rõ hơn về chức năng của mỏ hàn, xét một bờ biển đang bị xâm thực,
phải dùng hệ thống mỏ hàn để b

Lúc đó bố trí đê dọc cách bờ một khoảng cách nhất định, trục đê thường song song
với bờ. Ta gọi đó là đê giảm sóng.
Đê giảm sóng có chức năng:
- Che chắn sóng cho vùng sau tường, giảm yếu tố tác dụng của sóng vào
vùng bờ bãi, chống xâm thực bờ bãi;
- L
ắng đọng bùn cát trôi vùng phía sau tường, hình thành nên dải bồi tích
giữa tường bờ, do đó làm giảm dòng chảy ven bờ;
- Đê giảm sóng còn được sử dụng như một đê tạm có tác dụng che chắn cho
vùng phía sau đê để phát triển rừng cây ngập mặn ở giai đoạn đầu phát triển.
7.3.1.3. Hệ thống phức hợp ngăn cát - giảm sóng
Hệ thống mỏ hàn chủ yếu có tác dụng bồ
i lắng bùn cát mà không có tác dụng
nhiều trong việc chắn sóng có phương vuông góc với bờ. Khi đó, bùn cát có thể bị
lôi ra khỏi bờ. Nếu chỉ sử dụng đê chắn sóng, cũng không ngăn được bùn cát dọc
bờ. Vì thế, trong điều kiện thủy hải văn phức tạp, cần kết hợp công trình ngang bờ
và công trình dọc bờ, phối hợp hiệu quả chắn cát dọc bờ và giảm sóng, chắ
n cát
ngang bờ.
Hệ thống công trình phức hợp ngăn cát - giảm sóng có chức năng chính:
- Giảm năng lượng sóng khi sóng tiến vào bờ;
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

- Tạo vùng nước lặng cho tàu thuyền neo đậu;
- Gây bồi lắng, giảm dòng chảy ven bờ.

7.3.2. THIẾT KẾ CÁC LOẠI CÔNG TRÌNH BẢO VỆ
7.3.2.1. Kè mỏ hàn

+ Ứn dụng
Mỏ hàn gỗ sử dụng ở vùng nước nông; hoặc khi không có nguồn cung cấp đá
dồi dào; giá thành rẻ khi so sánh với các phương án khác.
- Mỏ hàn đá
+ Ưu nhược điểm
Độ bền cao; chịu được tác động của sóng, gió, nhiệt độ, môi trường mặn…;
kết cấu tổng thể của mỏ hàn bằng đá (đá hộc, đá tảng, rọ đá) thuộc loạ
i mềm dẻo,
linh hoạt, cho phép chuyển dịch cùng với biến dạng nền mà không gây ra hư hỏng
và phá hoại kết cấu mỏ hàn; dễ sửa chữa, tôn cao, mở rộng; dễ thi công.
Tuy nhiên, với kết cấu đá rời, nếu tại một nơi nào đó các viên đá bị sóng và
dòng chảy tác động làm chuyển dịch ra khỏi mỏ hàn sẽ làm ảnh hưởng đến ổn định
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

của các viên đá lân cận. Sự phá hoại mỏ hàn có thể bắt đầu từ sự mất ổn định của
các viên đá cá thể này. Đối với kết cấu rọ đá, ổn định của mỏ hàn còn phải phụ
thuộc vào độ bền của lưới thép bọc rọ đá.

Hình 7.7. Mỏ hàn sử dụng đá hộc lát khan
+ Ứng dụng
Vùng xây dựng có nguồn cung cấp đá rồi rào và phong phú.
- Mỏ hàn bê tông hoặc bê tông cốt thép
+ Ưu nhược điểm
Cho phép đúc tại chỗ những tấm và khối bê tông có kích thước lớn, đủ đảm
bảo ổn định dưới tác động của sóng và dòng chảy.
Tuy nhiên, ximăng sử dụng để đúc các cấu kiện phải là ximăng bền sunfat
hoặc sử dụng phụ gia chố
ng xâm thực mặn để đảm bảo tuổi thọ cho các cấu kiện.

giảm khả năng chống chịu sóng lớn của mỏ hàn.

Hình 7.9. Mỏ hàn sử dụng ống buy, bên trong thả đá hộc

Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

+ Ứng dụng
Vùng xây dựng có nguồn cung cấp cát, đá tương đối phong phú.

c. Các thông số thiết kế chính kè mỏ hàn
- Tuyến bố trí
Khi sử dụng mỏ hàn để bảo vệ bờ biển, trước hết cần hoạch định đường bờ
mới cho đoạn bờ cần bảo vệ. Đường bờ mới này cần trơn thuận, nối tiếp tốt với
đường b
ờ đoạn không có mỏ hàn. Để đạt hiệu quả tốt, chiều dài của mỏ hàn không
được quá ngắn, cần vươn ra tới dải sóng vỡ và vùng có dòng ven mạnh.
- Phương mỏ hàn
Phương lý tưởng cho mỏ hàn là phương vừa có tác dụng ngăn chặn bùn cát
ven bờ, vừa có tác dụng che chắn sóng cho bờ.
Thông thường, mỏ hàn được bố trí theo phương vuông góc với đường bờ
(hình 7.10) vì những lý do sau:
+ Ngoại trừ vùng bờ bi
ển đặc biệt có hướng sóng không đổi, còn thông
thường sóng có nhiều hướng nên không chọn được hướng tối ưu.
+ Để đạt được tới một độ sâu nhất định, hướng đê vuông góc với bờ là kinh
tế nhất.
+ Khi đê mỏ hàn đặt xiên với bờ, lực sóng tác dụng vào đê sẽ lớn, kết cấu đê
sẽ phải kiên cố và phức tạp hơn.

θ
β
α

Hình 7.11. Quan hệ giữa trục mỏ hàn và hướng sóng.
Khi θ = 30
0
÷ 35
0
thì:
Nếu α = 110
0
, dễ bồi lắng giữa các mỏ hàn
Nếu α = 90
0
, mũi và gốc mỏ hàn dễ bị xói
Khi θ = 60
0
÷ 90
0
thì:
Nếu α = 110
0
, đường bờ bị xói, giữa các mỏ hàn khó bồi lắng
Nếu α = 90
0
, tương đối tốt.
Các mỏ hàn với mục đích bảo vệ bãi khỏi bị xâm thực của sóng, thường bố
trí xiên góc với phương truyền sóng. Khi trục mỏ hàn song song với phương truyền
sóng, mỏ hàn thẳng không thể che chắn cho bãi bờ, lúc dó, mỏ hàn dạng chữ T, chữ

Nếu mỏ hàn chỉ
để bảo vệ bờ thì khoảng cách bố trí có thể thưa hơn so với
mỏ hàn tạo bãi bồi. Hình 7.13: Sơ đồ bồi lắng giữa các mỏ hàn trong trường hợp θ = 30
0
÷ 35
0

Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xaHình 7.14: Sơ đồ bồi lắng giữa các mỏ hàn trong trường hợp sóng vuông góc với bờ

Hình 7.13 và Hình 7.14 là sơ đồ về sự bồi lắng giữa các mỏ hàn đối với các
khoảng cách khác nhau trong trường hợp chỉ có dòng ven do sóng, không có dòng
triều.
Từ sơ đồ trên ta thấy, khi góc giữa hướng sóng và đường bờ biển θ = 30
0
÷
35
0
, khoảng cách bằng 3 lần chiều dài mỏ hàn cho tác dụng gây bồi lớn nhất, bằng 2
lần thì hiệu quả gây bồi kém hơn, bằng 4 lần thì sóng xô trực tiếp vào bờ gây sạt lở.
Ngược lại, khi hướng sóng gần vuông góc với đường bờ, không có dòng ven
bờ, dòng hồi lưu ở gần mặt đáy có phương ngược với phương truyền sóng, do đó rất
khó gây bồi ở xung quanh đường bờ. Trong tình trạng

H
s
– Chiều cao sóng thiết kế (m).
Lưu ý
1. Tần suất thiết kế của mực nước được xác định theo cấp đê;
2.Cần phải cộng thêm chiều cao dự phòng lún cho đê vào công thức nêu trên.
3. Độ dốc dọc của đê mỏ hàn lấy i
đ
= 0 ÷ i
b
, trong đó, i
b
là độ dốc mặt bãi
theo phương vuông góc với đường bờ.
4. Đối với mỏ hàn có nhiệm vụ chính là gây bồi để bảo vệ bãi biển, thì cao
trình của mũi mỏ hàn cần cao hơn so với trường hợp mỏ hàn có nhiệm vụ chủ yếu
để bảo vệ bờ biển.
- Chiều rộng đỉnh đê mỏ hàn
Chiều rộng đỉnh đê mỏ hàn lấy theo điề
u kiện ổn định, điều kiện thi công, và
điều kiện cấu tạo.
- Mặt cắt dọc mỏ hàn
Một số kết cấu mặt cắt dọc mỏ hàn xem hình 7.15.

Hình 7.15. Mặt cắt dọc mỏ hàn biển.
a. Mỏ hàn bảo vệ bờ; b. Mỏ hàn tạo bãi bồi; c. Mỏ hàn bảo vệ bờ cửa sông Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam

dài sóng đối với vùng đất cát, và lớn hơn ít nhất 0,75 lần chiều dài sóng đối với
vùng đấ
t cát bột.
2. Khi nền mỏ hàn tốt, chỉ cần gia cố đáy ở vùng mũi mỏ hàn.
3. Đối với mỏ hàn gây bồi bờ biển, có thể không cần gia cố đáy.
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa

4. Ở vùng cửa sông có dòng triều mạnh, vùng mũi mỏ hàn luôn hình thành
hố xói cục bộ, ảnh hưởng đến ổn định của mũi mỏ hàn. Trong trường hợp dự báo
cho thấy hố xói có thể phát triển sâu ở phía sau mũi mỏ hàn, cần tăng cường bảo vệ
mũi mỏ hàn và chống xói cho nền dưới đầu mỏ hàn. Có thể dùng biện pháp giếng
chìm để bảo vệ ổn định cho vùng mũi m
ỏ hàn. Giếng chìm cần đặt sâu xuống dưới
đáy hố xói dự báo, phía ngoài đổ đá hộc hỗ trợ, xem hình 7.20.

Hình 7.20. Bảo vệ mũi mỏ hàn bằng giếng chìm và thảm rọ đá

Đối với những vùng biển có sóng rất lớn, để bảo vệ cho khối lõi của mỏ hàn
cần phải dùng đến đá tảng hòn lớn (hình 7.21, 7.22), hoặc sử dụng các cục bê tông
kích thước lớn và hình dạng phức tạp kiểu Tetrapod, Dolos, Quadripod, Tribar để
đảm bảo ổn định kết cấu lớp bảo vệ, tăng độ nhám tiêu hao năng lượng sóng.

Hình 7.21. Bảo vệ lõi thân kè bằng đá tảng hòn lớn
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu địa phương và đắp trên nền đất yếu
từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
Báo cáo chuyên đề 24: Nghiên cứu, phân tích đánh giá các giải pháp bảo vệ từ xa
mặt cắt ngang gần như đồng đều và có hai phía chịu tải trọng khác nhau là phía biển
và phía bờ.
Đê giảm sóng có thể là đê nhô (cao trình đỉnh đê cao hơn mặt nước) hoặc đê
ngầm (cao trình đỉnh đê thấp hơn mực nước); có thể là
đê dài liên tục (chạy suốt
chiều dài dọc đoạn bờ cần bảo vệ) hoặc đê đứt khúc (từng khúc ngắn đặt cách nhau
trên cùng một tuyến, quãng đứt giữa hai khúc gọi là cửa đê. Đây là nơi để trao đổi
bùn cát ngoài và trong đê).
( vẽ hình 7-14-LPH – P241)

Hình 7.18. Cấu tạo đê giảm sóng b. Vật liệu dùng trong đê giảm sóng
Đê giảm sóng chủ yếu sử dụng vật liệu đá với các kích thước hạt khác nhau
cho các bộ phận khác nhau của đê.
c. Các thông số thiết kế chính đê giảm sóng
- Vị trí đặt đê giảm sóng
Vị trí đặt đê giảm sóng phụ thuộc vào mục đích của việc khai thác, sử dụng
đối với vùng bãi cần được bảo vệ
.
Nhìn chung, đê đặt càng gần bờ càng kinh tế, nhưng về hiệu quả kỹ thuật thì
phải xét đến các vấn đề sau:
+ Khi xây dựng đê giảm sóng quá gần bờ, phía trước đê sẽ bị xói mạnh, đê sẽ
bị lún sụt.
+ Khi xây dựng đê giảm sóng quá xa bờ, sóng vỡ đợt đầu xảy ra ở vị trí đê, ở
sau đê sóng có thể phục hồi làm giảm hiệu qu
ả công trình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status