LỜI MỞ ĐẦU
Tín dụng, đặc biệt là tín dụng doanh nghiệp, là hoạt động sinh lời lớn
nhất song cũng đem lại rủi ro cao nhất cho NHTM. Khi rủi ro này xảy ra có
thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng, nhiều khoản tài trợ
mà tổn thất có thể chiếm phần lớn vốn chủ, đẩy ngân hàng đến phá sản, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Do vậy ngân hàng phải tiến hành
phân tích tín dụng các doanh nghiệp vay vốn để giảm thiểu rủi ro có thể
xảy ra. Chất lượng của các khoản vay phụ thuộc nhiều vào hoạt động phân
tích tín dụng, phân tích tín dụng đầy đủ sẽ giảm thiểu được rủi ro trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phân tích tín dụng có chất lượng cao,
quyết định cho vay của ngân hàng được bảo đảm và ngược lại, chất lượng
phân tích tín dụng có chất lượng thấp thì quyết định cho vay sẽ gặp rủi ro
và tổn thất có thể xảy ra cho ngân hàng. Hiện nay, công tác phân tích tín
dụng nói chung và phân tích tín dụng doanh nghiệp nói riêng đã được Ngân
hàng Công thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân quan tâm nghiên cứu
và triển khai thực hiện. Tuy nhiên, công tác phân tích tín dụng doanh
nghiệp này còn nhiều bất cập và chưa tiến gần đến tiêu chuẩn quốc tế khiến
chất lượng phân tích tín dụng doanh nghiệp của NHTM chưa cao. Vì vậy,
đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tín dụng doanh nghiệp
của NHTM Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu. Đề án nghiên cứu thực
trạng và những hạn chế của chất lượng hoạt động phân tích tín dụng doanh
nghiệp của Ngân hàng Công thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân từ
đó tìm ra những giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng phân tích tín dụng
doanh nghiệp của NHTM Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng phân tích tín dụng
doanh nghiệp
Đề tài được nghiên cứu thông qua sử dụng các phương pháp nghiên
cứu lý thuyết kết hợp với thực tế, so sánh, phân tích và tổng hợp tài liệu.
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng phân tích tín dụng doanh nghiệp
của NHTM.
- Giai đoạn nhận hồ sơ đề nghị vay vốn của khách hàng
- Giai đoạn phân tích tín dụng
- Giai đoạn quyết định tín dụng
- Giai đoạn giải ngân
- Giai đoạn giám sát và thanh lý hợp đồng tín dụng
Trong đó phân tích tín dụng là phân tích khả năng sử dụng vốn vay và
hoàn trả nợ của khách hàng. Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm hiểu các
tình huống có thể dẫn đến rủi ro và tìm ra biện pháp để kiểm soát rủi ro đó.
Về cơ bản, qui trình tín dụng của các NHTM có các bước với nội dung
giống nhau nhưng tùy theo từng ngân hàng và địa bàn kinh doanh mà ngân
hàng cũng có những qui định khác nhau cho phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của mình, trong đó phân tích tín dụng là một nội sung quan trọng
trong quy trình tín dụng của NHTM.
1.1.2.Phân tích tín dụng của NHTM
1.1.2.1.Khái niệm, mục tiêu, yêu cầu và căn cứ đê phân tích tín dụng:
Doanh nghiệp là một chủ thể tồn tại trong môi trường xã hội luôn
vận động, biến đổi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu
tác động bởi nhiều yếu tố. Do vậy, có vô số nguyên nhân khác nhau dẫn
đến việc doanh nghiệp không thể chi trả được nợ vay khi đến hạn. Nguyên
nhân có thể là các yếu tố mang tính khách quan, hệ thống như: bão lũ, hạn
hán, động đất hay thay đổi môi trường pháp lý, hệ thống chính trị…
Nguyên nhân cũng có thể là những yếu tố mang tính chủ quan của doanh
nghiệp như: hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, người quản lý thiếu kinh
nghiêm, năng lực…Khi những rủi ro này xảy ra nó có thể gây tổn thất làm
giảm thu nhập, thậm chí có thể đẩy ngân hàng đến phá sản. Vì vậy, để đưa
ra quyết định có chấp nhận cho doanh nghiệp vay vốn hay không, ngân
hàng phải dự đoán và ước lượng được rủi ro này thông qua công tác phân
tích tín dụng.
Phân tích tín dụng là quá trình đánh giá toàn diện về nhu cầu vay vốn
đảm bảo tính sinh lời cho ngân hàng.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là sử dụng một tập hợp các khái
niêm, phương pháp và công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các
thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh
nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp. Xét về mục đích phân tích, mục đích của phân tích tín dụng
doanh nghiệp là khác nhau với những đối tượng sử dụng khác nhau: Nhà
quản lý sẽ phân tích để có cái nhìn tổng quát về doanh nghiệp, thực trạng,
điểm yếu, điểm mạnh để có những chính sách điều chỉnh phù hợp trong
tương lai; Nhà đầu tư quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp…
Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng phân tích tín dụng để biết về khả
năng trả nợ của doanh nghiệp, những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của
doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới khả năng chi trả nợ gốc và lãi của doanh
nghiệp khi tới hạn. Về phương pháp thực hiện và nguồn thông tin sử dụng,
Phân tích tài chính doanh nghiệp được tiến hành phổ biến bằng hai phương
pháp là: Phương pháp tỷ số và phương pháp Dupont, phân tích các chỉ tiêu
tài chính và vì vậy nguồn thông tin sử dụng chủ yếu là báo cáo tài chính
của doanh nghiệp; Phân tích tín dụng doanh nghiệp do đòi hỏi tính chính
xác, khách quan, đầy đủ, kịp thời nên phần lớn đã được xây dựng thành các
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng với hệ thống nhiều chỉ
tiêu tài chính và phi tài chính, vì vậy mà thông tin cần phải thu thập từ rất
nhiều nguồn khác nhau.
1.1.2.2.Phương pháp phân tích tín dụng
Có nhiều phương pháp mà ngân hàng có thể sử dụng để tiến hành
phân tích tín dụng:
Phương pháp so sánh:
Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo tính so sánh được giữa
các chỉ tiêu, nghĩa là phải thống nhất về không gian, thời gian, nội dung,
tính chất và đơn vị thanh toán… trong khi so sánh cần chọn một gốc thời
gian để so sánh (chính là quan hệ chuẩn năm gốc trong cùng một chỉ tiêu)
tích tín dụng doanh nghiệp một cách chính xác.
Phương pháp chấm điểm:
Đây là phương pháp hiện đang được nhiều ngân hàng sử dụng và xây
dựng thành hệ thống chuẩn hóa. Phương pháp này tạo sự thuận lời về tính
thống nhất và thời gian cho phân tích tín dụng. Để sử dụng phương pháp
này, yêu cầu trước tiên là tổ chức tín dụng phải xây dụng được hệ thống
thang các chỉ tiêu và thang điểm cho các chỉ tiêu đó. Trên cơ sở những
thông tin có được, chấm điểm và xếp loại tín dụng cho doanh nghiệp theo
mức đã định của ngân hàng, từ mức đó sẽ cho biêt doanh nghiệp có đủ điều
kiện vay vốn hay không và ngân hàng có quyết định cho doanh nghiệp vay
vốn hay không. Làm thế nào để xây dụng được một hệ thống chấm điểm tín
dụng một các hợp lý và chính xác là câu hoi mà ngân hàng luôn phải tự đặt
ra khi sử dụng phương pháp này. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế chính trị
trong môi trường mà doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh luôn biến đổi làm cho mức độ phản ánh chất lượng tín dụng doanh
nghiệp của cá chỉ tiêu cũng thay đổi theo. Vì vậy, để có một hệ thống chấm
điểm tín dụng hợp lý và chính xác, ngân hàng cần thường xuyên theo dõi,
hoàn thiện hệ thống này.
1.1.2.3.Qui trình phân tích tín dụng
Để chuẩn hóa quá trính tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với
khách hàng, các ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Đó
chính là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan trong
ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.
Bước 1: Phân tích trước khi cấp tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của phân tích tín
dụng. Nội dung chủ yếu của bước này là thu thập và xử lỳ thông tin liên
quan đến khách hàng bao gồm: năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả
năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu của tài sản và các
điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay.
Phương pháp chủ yếu để thu thập thông tin và xử lý thông tin là:
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hét gốc và lãi. Các
khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng
an toàn. Tuy nhiên trong một số trường hợp cung có các khoản tín dụng
không hoàn trả được hoặc không hoàn trả đúng hạn, ngân hàng cần phấn
tích, tìm hiều nguyên nhân để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra quyết định
liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng.
Trường hợp khách hàng có tình lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ thì ngân
hàng áp dụng phương án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được
để thu hồi khoản nợ, bao gồm phong tỏa và bán tài sản thế chấp, tước đoạt
các khoản tiền gửi…
Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính nhưng vẫn quyết
định tìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án
khai thác, bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
1.1.2.4.Nội dung phân tích tín dụng
Mỗi bước trong quy trình phân tích tín dụng đều có nội dung phân
tích riêng, nhưng nhìn chung được chia thành hai nội dung phân tích chính
là: phân tích các yếu tố phi tài chính và phân tích các yếu tố tài chính của
doanh nghiệp.
a. Phân tích yếu tố phi tài chính:
• Tư cách pháp lý của doanh nghiệp
Trong bất kỳ khoản tín dụng nào, yếu tố đầu tiên các ngân hàng quan
tâm là khách hàng của họ có đủ tư cách pháp lý để tham gia ký kết các hợp
đồng khác không. Đối với doanh nghiệp xin vay vốn, ngân hàng sẽ xem xét
các điều lệ và luật pháp quy định về việc thành lập công ty là hợp pháp và
ai có thẩm quyền thay mặt công ty vay. Thẩm định tư cách pháp lý của
khách hàng không phải là bước quan trọng nhất, nhưng là bước không thể
thiếu và là tiền đề để tạo ra những bước phân tích tiếp theo. Xác định rõ tư
cách pháp lý của khách hàng chính là tạo điều kiện tiền đề cho công tác
phân tích tín dụng tiếp theo của ngân hàng.
• Uy tín của doanh nghiệp
thường nằm ngoài sự kiểm soát của hai bên. Có thể một món vay hội đủ tất
cả các yếu tố để đánh giá khách hàng đủ điều kiện vay, việc cho vay dường
như có thể tốt trên giấy tờ, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng trả nợ
nhưng giá trị của khả năng đó có thể bị giảm sút do những biến động bất
ngờ chưa được tính đến của điều kiện kinh tế như doanh nghiệp bị giảm
doanh thu, thu nhập do thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc do ảnh hưởng của lãi
suất cao do sức ép của lạm phát. Vì vây, xem xét điều kiện kinh tế và dự
đoán sự thay đổi của các điều kiện này là rất cần thiết trong công việc phân
tích tín dụng.
Để đánh giá những điều kiện của cả ngành và nên kinh tế, hầu hết các
ngân hàng đều lưu trữ các dữ liệu thông tin từ các báo cáo, tạp chí, nghiên
cứu về ngành mà ngân hàng phục vụ chủ yếu. Phân tích tình hình kinh tế,
xem xét triển vọng của ngành; uy tín, thương hiệu của khách hàng hay sản
phẩm của khách hàng; vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp; rào cản gia nhập
thị trường đối với các doanh nghiệp mới, và chính sách của Nhà nước đối
với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp có thuận lợi không; xem xét
chu kỳ kinh doanh của ngành, sự nhạy cảm của doanh nghiệp và ngành với
sự thay đổi công nghệ; xem xét thị phần của doanh nghiệp.
b. Phân tích các yếu tố tài chính:
Phân tích các yếu tố tài chính được tiến hành thông qua việc phân tích
báo cáo tài chính của doanh nghiệp xin vay vốn. Các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp là nguồn thông tin tín dụng quan trọng nhất mà cán bộ tín
dụng cần có. Báo cáo tài chính được sử dụng trong phân tích bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo kết quả kinh doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Thuyết minh báo cáo tài chính.
Ngân hàng sử dụng báo cáo tài chính để xác định nhu cầu vay vốn của
khách hàng, đánh giá khả năng trả nợ, ước lượng mức độ rủi ro có thể
mang lại khi người vay không hoàn trả và đưa ra quyết định cho vay hay
Tài sản cố định: Gồm nhà cửa, sân bãi, trang thiết bị, phương tiện
vận chuyển, thiết bị văn phòng... thường là đối tượng tài trợ trung và dài
hạn.
Tài sản cố định vô hình: các tài sản vô hình như: sự tín nhiệm, thương
hiệu, danh tiếng, bản quyền, bằng sang chế… được các ngân hàng chấp
nhận với giá trị thấp. Do đặc tính khó định giá và giá trị phụ thuộc vào sự
biến động của nhiều yếu tố nên các ngân hàng quan tâm chủ yếu đến tài sản
hữu hình hơn. Tuy nhiên, trong xu hướng hiện nay việc cho vay với sự đảm
bảo bằng tài sản vô hình ngày càng được phổ biến thì tài sản vô hình cũng
có được sự quan tâm xem xét kỹ lưỡng hơn từ ngân hàng.
Đánh giá các khoản nợ và vốn chủ sở hữu:
Nợ của người vay có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Về thời gian: Gồm nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn) và nợ trung và dài hạn (vay
trung và dài hạn. Nhìn chung, các khoản vay ngắn hạn thường dùng tài trợ
cho tài sản lưu động, còn các khoản vay trung và dài hạn dùng tài trợ cho
tài sản cố định. Do đó, tính tương quan giữa chúng là đối tượng phân tích
của ngân hàng. Nếu khoản cho vay của ngân hàng phải trả trong năm thì
các khoản nợ đến hạn và ngân quỹ trong năm của khách hàng là hai yếu tố
chính tạo nên quyết định của ngân hàng. Ngân hàng cũng quan tâm tới nợ
quá hạn và các nguyên nhân.
Ngân hàng quan tâm tới tất cả các chủ nợ của khách hàng: Có thể là các
khoản nợ cũ, các khoản nợ của các ngân hàng khác, nợ người cung cấp, nợ
người lao động. Vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ luôn được
nghiên cứu kĩ lưỡng. Nếu ngân hàng giành vị trí quan trọng nhất, nó dễ
dàng thu được nợ hơn là các vị trí khác.
Ngân hàng cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm và nợ khác.
Các tài sản đã làm đảm bảo cho khoản vay cũ cần phải được tính lại theo
giá thị trường và bị loại trừ; nếu chúng được lấy làm tài sản đảm bảo cho
khoản vay mới thì cần tính toán giá trị dôi thừa so với tiền vay cũ.
Vốn chủ sở hữu là khoản mục được các ngân hàng đặc biệt chú trọng
được cấu thành từ hai số có bản chất khác nhau, do đó, tìm kiếm các số liệu
có mối tương quan với nhau là rất cần thiết. Hơn nữa các tỷ lệ này lấy từ
các báo cáo tài chính phản ánh tình hình đã và đang xảy ra, do đó, các tỷ lệ
này không phải lúc nào cũng là những chỉ dẫn cho các quyết định của ngân
hàng.
Các loại tỷ lệ: Những tỷ lệ đo thanh khoản, tỷ lệ đo khả năng sinh lời, tỷ
lệ khả năng tài trợ bằng vốn tự có, tỷ lệ đo rủi ro.
Nhóm tỷ lệ thanh khoản: Đo khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp
ứng trách nhiệm tài chính ngắn hạn. Dựa vào đó ngân hàng tìm kiếm khả
năng thanh toán các trái khoán khi đến hạn của người vay. Nhìn chung các
tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh toán của người vay có thể càng tốt.
Tỷ lệ khả năng
thanh toán hiện hành
=
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà ngân hàng phân tích các tỷ lệ thích hợp.
Nếu cho vay trong thời gian ngắn 2-3 tháng, ngân hàng cần chú ý đến tỷ lệ
Tỷ lệ khả năng
thanh toán nhanh
=
Tiền và các khoản tương đương tiền+ đầu tư tài
chính ngắn hạn+ các khoản phải thu ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
thanh toán nhanh; còn cho vay 9-12 tháng ngân hàng cần chú ý đến tỷ lệ
khả năng thanh toán hiện hành.
Nhóm tỷ lệ sinh lời: Đo khả năng tạo lợi nhuận của doanh nghiệp. Khả
năng sinh lời của doanh nghiệp quyết định khả năng hoàn trả vốn và lãi
ngân hàng.
1. Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm (PM) (%)= TNST/DT
nhiều trường hợp điều chỉnh RR trong mọi trường hợp. Danh sách sau trình
bày cách tiếp cận rủi ro của người vay:
Sản xuất: Doanh nghiệp có bao nhiêu nguồn cung cấp nguyên vật liệu?
Tác động trong thay đổi chi phí là gì? Cái gì là yếu tố chi phí quan trọng
nhất? Lao động? Vốn? Có thay đổi nhanh trong kĩ thuậ? Chi phí là bao
nhiêu? Tính phụ thuộc vào các doanh nghiệp khác như thế nào? Tác động
của nghiên cứu và phát triển? Tác động của thay đổi cơ cấu chi phí là gì?
RR tác động tới việc sử dụng trang thiết bị là gì?
Tiếp thị : Các nhân tố tác động tới việc bán hàng? Cầu co giãn với giá?
Thu nhập là co dãn? Sản phẩm thay thế là gì ? Nhập khẩu có lớn không?
Chiến lược cạnh tranh là gì? Những gì cản trở việc đối thủ khác gia nhập
vào ngành? Thay đổi trong nhu cầu của khách? Người bán có quyền lực
hơn người mua? Rủi ro thua lỗ của khách hàng chính là gì?
Nhân sự: Cái gì làm năng suất lao động tăng? Cái gì khuyến khích
người lao động? Rủi ro của đình công? Sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào
những cá nhân đặc biệt?
Tài chính : Sức chịu đựng của doanh nghiệp đối với lãi suất? Có bao
nhiêu cách huy động tiền? Sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào một dự án?
Việc đa dạng các nguồn thu?
Chính sách của Chính phủ: Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thể
tác động tới khách hàng như thế nào? Chính sách kinh tế? Bảo vệ nhập
khẩu? Trợ cấp xuất khẩu? Hợp đồng với Nhà nước? Giấy phép đối với sản
phẩm mới?
Phân tích về dảm bảo tín dụng:
Trong hoạt động tín dụng, để thu hồi được nợ, các ngân hàng phải xem
xét đến uy tín và năng lực của khách hàng. Để thu hồi được nợ ngân hàng
phải xem xét đến uy tín và năng lực của khách hàng để áp dụng hình thức
đảm bảo tín dụng và đây được coi là điều kiện vần thiết trong quan hệ tín
dụng. Các biện pháp đảm bảo tiền vay nhằm giảm bớt tổn thất cho ngân
hàng, mặt khác nó cũng là động lực cho khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả
của ngân hàng.
1.2.2.Chỉ tiêu đánh giá chất lượng phân tích tín dụng
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định lượng:
Các chỉ tiêu về nợ xấu:
Nếu chất lượng phân tích tín dụng không tốt, tức là việc phân tích, đánh
giá về khách hàng và khả năng trả nợ của khách hàng không chính xác sẽ
dẫn đến những quyết định cho vay không chính xác (cho vay đối với khách
hàng không có khả năng thanh toán nợ và lãi vay khi đến hạn, xác định thời
hạn trả nợ không phù hợp với chu kỳ kinh doanh và chu kỳ dòng tiền của
khách hàng…) từ đó dẫn đến hậu quả là khả năng các khoản nợ trở thành
nợ xấu cao.
Tình hình nợ xấu được xem xét trên các chỉ tiêu:
1. Dư nợ xấu: dư nợ xấu càng lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng của
ngân hàng càng kém, đồng thời cũng phản ánh chất lượng phân tích
tín dụng không tốt và ngược lại.
2. Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ: tỷ lệ này càng cao, chứng tỏ chất lượng
tín dụng của ngân hàng càng kém, đồng thời cũng phản ánh chất
lượng phân tích tín dụng không tốt và ngược lại.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng thể hiện mức độ mở rộng cho vay của ngân
hàng. Việc mở rộng cho vay chỉ có thể thực hiện được khi các khâu trong
quy trình tín dụng được thực hiện tốt, trong đó có khâu phân tích tín dụng.
Phân tích tín dụng được thực hiện tốt, việc phân tích đánh giá khách hàng
nhanh chóng và chính xác, do đó việc phán quyết tín dụng sẽ nhanh chóng
và đúng đắn, giúp ngân hàng có thể mở rộng cho vay. Và ngược lại, chất
lượng phân tích tín dụng không tốt dẫn đến thời gian phân tích tín dụng
chậm lại, không thể xử lý nhiều khoản vay, do vậy không thể mở rộng tín
dụng. Đồng thời phân tích đánh giá khách hàng sơ sài hoặc đánh giá không
đúng, không đảm bảo chất lượng, dẫn đến việc phê duyệt tín dụng bị chậm
lại, dẫn đến ngân hàng không thể mở rộng tín dụng.
Tính chính xác
Cơ sở để tiến hành phân tích tín dụng là dựa vào nguồn thông tin mà
doanh nghiệp cung cấp trong bộ hồ sơ vay vốn, thông tin ngân hàng khai
thác được và thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng Nhân hàng Nhà
nước. Để phân tích tín dụng mang tính chính xác thì ngân hàng phải thu
thập và xử lý hiệu quả các thông tin thu thập được và các thông tin này
mang tính hiện thực cao hơn. Muốn có nguồn thông tin này, cán bộ tín
dụng phải đi thực tế, giám sát và tìm hiểu nhiều thông tin có liên quan,
không thể chỉ dựa vào một nguồn thông tin chủ quan từ phía doanh nghiệp.
Khi đã thu thập đầy đủ thông tin, cán bộ tín dụng sử dụng các công
cụ và phương pháp để tiến hành phân tích. Quá trình phân tích cần tuân thủ
theo quy trình và đảm bảo đúng các nguyên tắc tài chính, có như vậy mới
đảm bảo tính chính xác. Phân tích chính xác cũng thể hiện đúng được tình
hình tài chính, năng lực và khả năng tài trợ của doanh nghiệp. Phân tích tín
dụng đối với một doanh nghiệp là chính xác, hiệu quả hay chất lượng phân
tích tín dụng là tốt chỉ có thể kết luận sau khi kết thúc hợp đồng tín dụng,
doanh nghiệp đã trả toàn bộ nợ gốc và lãi vay ngân hàng đúng hạn.
Tính hoàn thiện
Quá trình phân tích tín dụng cần phải xem xét trên tất cả các yếu tố liên
quan đến doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có phương án kinh doanh riêng
bao gồm tổng hòa các mối quan hệ xung quanh. Do đó, bên cạnh các yếu
tốt quan trọng như tài chính, đảm bảo tín dụng, cần phải xét tới tất cả các
yếu tố như con người, các chính sách định hướng của Chính phủ đối với
các ngành, các lĩnh vực mà doanh nghiệp đang có dự định đầu tư... Xem
xét vấn đề một cách toàn diện, cán bộ tín dụng có thể lường trước được các
rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp, với khoản vay và từ đó có thế
tính toán hiệu quả việc cho vay. Tính toàn diện là yêu cầu cần phải thể
hiện trong nội dung phân tích, nó chính là biểu hiện đảm bảo cho phân tích
tín dụng đạt ở mức chất lượng nào.
Tính khách quan
hạn chế được sự đánh giá chủ quan và hạn chế rủi ro đạo đức nghề nghiệp,
đồng thời có thể thực hiện việc chuyên môn hóa tín dụng. Do vậy mà chất
lượng phân tích tín dụng dược nâng cao hơn. Vây, cách thức tổ chức thực
hiện phân tích tín dụng cũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phân tích tín
dụng của ngân hàng.
Chất lượng nguồn thông tin xử dụng để phân tích tín dụng
Mức độ chính xác của thông tin thu thập được trong quá trình phân tích
ảnh hưởng tới mức độ chính xác của quá trình phân tích tín dụng, ảnh
hưởng tới chất lượng phân tích tín dụng. Ngân hàng luôn cần quan tâm đến:
nguồn thông tin và chất lượng của nguồn thông tin. Thông tin có thể thu
thập được ở rất nhiều nguồn, nhưng thông tin ở mỗi nguồn có chất lượng
khác nhau và luôn cần được đánh giá thẩm định.
Thông tin từ chính các khách hàng vay vôn: Thông thường khi khách
hàng đề nghị vay vồn, ngân hàng sẽ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các hồ
sơ: hồ sơ pháp lý, hồ sơ về tình hình tài chính, hồ sơ về phương án vay vồn,
hồ sơ đảm bảo tín dụng…đây là nguồn thông tin quan trong song khó xác
định độ tin cậy của nguồn thông tin này, bởi các doanh nghiệp muốn vay
vốn nên luôn đưa ra các mặt tốt của mình và thường mang tính chủ quan.
Vì vây, các cán bộ tín dụng cần sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp và căn
cứ vào quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng để đánh giá đúng đắn chất
lượng thông tin.
Thông tin lưu trữ tại ngân hàng: nguồn thông tin này rất đáng tin cậy vì
nó là những sự việc đã được thực hiện và ngân hàng trực tiếp là người ghi
chép và lưu trữ, tuy nhiên nguồn thông tin này không phải luôn được cập
nhật và có tính đa dạng cao.
Ngoài ra còn có thể thu thập thông tin từ các nguồn khác như: phương
tiện thông tin đại chúng, từ các cơ quan chức năng, từ bạn hàng, đối thủ
kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn…
Ngân hàng càng thu thập được nhiều thông tin về khách hàng thì kết quả
đánh giá, phân tích tín dụng càng chính xác. Tuy nhiên điều quan trọng là