ii LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường
Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ, đặc biệt là quý Thầy Cô khoa Công
Nghệ Thực Phẩm đã tạo điều kiện học tập và tận tình giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm làm việc quí báu trong suốt
bốn năm học tại trường.
Tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Văn Nguyện
đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp
đỡ để tôi hoàn thành đề tài được giao một cách tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị quản lý phòng Thí
Nghiệm dinh dưỡng và hoá sinh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp .
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn các bạn sinh viên trong
khoa và gia đình đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi rất nhiều trong
thời gian thực hiện luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất đến quý thầy cô
cùng các bạn sinh viên và gia đình.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 08/2010
SVTH
Phạm Thanh Thảo
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo
- N (Ammonia không ion hoá): < 0,02 ppm
Cá mú là loài có tập tính ăn thịt. Thức ăn bao gồm cá con, mực, giáp xác và thƣờng ăn thịt
lẫn nhau ở giai đoạn cá con. Một đặc điểm khá lý thú là có sự chuyển đổi giới tính ở nhóm cá
này, nên nhóm cá này gọi là lƣỡng tính. Khi còn nhỏ chúng là cá cái nhƣng khi đạt đến kích cỡ và
tuổi nhất định thì chuyển thành cá đực. Cá có kích cỡ dài 45 - 50cm trở lại là những cá cái và khi
trên 74cm và nặng trên 11kg trở thành cá đực. Hiện tƣợng lƣỡng tính thƣờng thấy ở những con cá
kích cỡ 66 - 72cm. Cá mú có thể đẻ quanh năm nhƣng thƣờng tập trung vào những tháng lạnh có
nhiệt độ thấp, vì vậy tuỳ vào từng vùng khác nhau, mùa vụ xuất hiện cá giống cũng khác nhau.
Sức sinh sản của loài cá này khá cao, mỗi con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng
trong mỗi lần sinh sản.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 2
1.1.2 Tình hình nuôi cá mú ở Việt Nam [4]
Ở Việt Nam, nghề nuôi cá mú chính thức phát triển vào năm 1988 khi các doanh nhân Trung
Quốc đến Nha Trang đặt vấn đề mua bán cá mú sống. Nghề này đã phát triển mạnh từ Bắc vào
Nam nhƣng tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa và gần đây là
Vũng Tàu.
Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 6800 lồng nuôi cá biển, trong đó đến 80% là lồng nuôi cá mú
và khoảng 500 ha ao đìa nuôi cá mú với sản lƣợng ƣớc tính khoảng 3000 tấn, trong đó nuôi lồng
chiếm 2/3 sản lƣợng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, có khoảng 11 giống và 48 loài thuộc
họ cá mú ở Việt Nam. Một số loài cá mú đƣợc nuôi nhiều hiện nay bao gồm: cá mú chấm nâu
(Epinephelus malabaricus), cá mú chấm cam (E. coioides), cá mú cọp (E. fuscoguttatus), cá mú
chuột (Cromileptes altivelis)…
Hiện nay, nghề nuôi cá mú có tiềm năng lớn để phát triển ở nƣớc ta và sẽ có cơ hội để phát
STT
Loài
Tỷ lệ protein trong khẩu phần, %
1
Cá hồi Atlantic
40 - 45
2
Cá da trơn
32 - 36
3
Cá trắm cỏ
41 - 43
4
Cá hồi vân (Rainbow trout)
40 - 45
5
Cá bớp
42 - 45
6
Cá chẽm
45 - 55
7
Cá mú
chanos)
Cá hồi Đại
Tây Dƣơng
(Salmo salar)
Arginine
4,1
3,5
3,4 - 3,88
5,6
4,1 - 5,1
Histidine
-
1,4
1,49 - 1,95
2,0
-
Isoleucine
-
2,2
-
4,0
-
Leucine
-
4,2
-
5,1
-
Lysine
4,8
4,1
-
5,2
-
Axit amin chứa lƣu huỳnh rất quan trọng đối với cá, vì methonine có nhiều trong protein
động vật nên nếu khẩu phần có quá ít protein động vật, sự sinh trƣởng của cá sẽ giảm mạnh. Ở
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 5
các loài cá mú thì nhu cầu axit amin chƣa đƣợc xác định rõ, gần đây chỉ có lysine đƣợc xác định
nhu cầu là khoảng 2,83% lƣợng thức ăn hay 5,56% mức protein thức ăn.
Thiếu methionine sẽ làm giảm sinh trƣởng, viêm cata thuỷ tinh thể mắt, đục thuỷ tinh thể,
tuy nhiên nếu thừa methionine thì cũng gây ức chế sự sinh trƣởng của cá.
1.2.1.3 Nhu cầu về lipid của cá [2, 5, 6, 9]
Lipid là nhóm chất quan trọng của các màng sinh học, nguồn cung cấp năng lƣợng, nguồn
cung cấp vitamin hòa tan trong mỡ: vitamin A, D, E, K. Cá không thể trực tiếp dùng lipid mà
phải phân cắt thành acid béo để hấp phụ.
Hai acid béo linolenic và linoleic là hai acid béo thiết yếu (EFA: Essential Fatty Acid) do các
tiền chất này không có trong cơ thể mà hoàn toàn phải lấy từ thức ăn. Các acid linolenic và acid
linoleic đƣợc gọi là HUFA (highly unsaturated fatty acid) và những acid béo trong hai họ trên có
chuỗi carbon dài trên 20 nhƣ 20:3-n3; 22:4-n3; 20:2-n6; 22:3-n6 đƣợc gọi là PUFA.
Các acid béo họ n3 (n3-HUFA) có vai trò quan trọng đối với các loài thuỷ sản.
Khẩu phần chứa nồng độ tối ƣu n3-HUFA trong 3 tuần sẽ làm cho chất lƣợng sinh sản,
bao gồm tỷ lệ đẻ, độ nở và chất lƣợng ấu trùng đƣợc cải thiện rõ rệt.
Khẩu phần thừa n3-HUFA có ảnh hƣởng xấu đến khả năng sinh sản của tôm và cá. Tuy
nhiên nếu thiếu thì tỉ lệ chết cũng sẽ tăng cao.
Khi còn nhỏ, cá có nhu cầu acid béo thiết yếu cao hơn lúc trƣởng thành nên cần bổ sung
thêm mỡ cá hay dầu gan cá trong thức ăn. Tuy nhiên nếu thức ăn quá thừa acid béo có thể dẫn
7 - 11
4
Cá măng biển
7 - 10
5
Cá bớp
5 - 6
6
Cá mú
12 - 14
Tuy nhiên, lipid rất dễ bị oxy hóa và sinh ra các độc tố ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng, vì thế
không nên sử dụng quá nhiều trong thức ăn. Khi cá sử dụng thức ăn có acid béo bị oxy hóa, cá dễ
bị các bệnh nhƣ xuất huyết, lƣợng hồng cầu giảm, và có triệu chứng thiếu máu, trƣơng bụng,
phồng gan, giảm ăn, mòn vây và teo cơ, và tăng tỉ lệ chết ở cá.
1.2.1.4 Nhu cầu carbohydrate của cá [2, 7]
Carbohydrate là nguồn cung cấp năng lƣợng rẻ tiền cho cá và các loài thuỷ sản. Ở các loài cá
thì carbohydrate tồn tại chủ yếu ở dạng glycogen và chuyển hóa thành lipid đƣợc dự trữ trong cơ
thể.
Khẩu phần có carbohydrate tăng thì sự phân giải lipid và protein để cung cấp năng lƣợng
giảm khi đó năng lƣợng chủ yếu do carbohydrate cung cấp, nên carbohydrate đƣợc xem là nguồn
cung cấp năng lƣợng trƣớc tiên thay cho protein và lipid. Trong công nghệ chế biến thức ăn cho
các loài thuỷ sản thì các nhà sản xuất luôn sử dụng các nguồn nguyên liệu chứa carbohydrate ở
mức tối đa có thể để giảm giá thành cho sản phẩm.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 7
Carbohydrate gồm rất nhiều thành phần khác nhau, đƣợc chia thành hai loại chính là chất xơ
và dẫn xuất không đạm (tinh bột, đƣờng, sắc tố ).
hoá tinh bột qua nấu chín, ép viên hay ép đùn để tăng tỉ lệ tiêu hoá tinh bột.
Xơ thô
Chất xơ gần nhƣ không đƣợc tiêu hóa mặc dù một số báo cáo cho rằng hệ vi khuẩn đƣờng
ruột của một số loài cá có khả năng thủy phân cellulose trong chất xơ. Chất xơ có tác dụng làm
tăng tốc độ thức ăn đi qua đƣờng tiêu hóa nên có tác dụng làm tăng lƣợng thức ăn cá ăn vào.
Chất xơ trong thức ăn sẽ làm giảm khả năng kết dính khi ép viên thức ăn, nếu khẩu phần có
chứa nhiều chất xơ thì sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa của cá đối với thức ăn. Thông thƣờng đối
với thức ăn cá, tỉ lệ chất xơ trong thức ăn đƣợc đề nghị không quá 8 - 10%.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 8
1.2.1.5 Nhu cầu vitamin của cá [2]
Vitamin là một nhóm chất hữu cơ mà động vật yêu cầu với số lƣợng rất ít so với các chất
dinh dƣỡng khác nhƣng cần thiết cho sự sinh trƣởng và duy trì cuộc sống của chúng.
Vitamin chiếm 1 - 2% trong thức ăn nhƣng có vai trò quyết định trong trao đổi chất và là
chất xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể cá.
Các loài thuỷ sản nói chung và cá nói riêng, không có hay có khả năng tổng hợp rất ít
vitamin nên việc cung cấp vitamin trong thức ăn là rất cần thiết, đặc biệt là vitamin C.
Thiếu vitamin dẫn đến sinh trƣởng chậm, tỉ lệ sống thấp, khả năng chịu đựng với biến động
môi trƣờng kém và dễ bị bệnh nhƣ xuất huyết, dị hình, nứt sọ ở cá…
Những nghiên cứu về nhu cầu vitamin hầu hết thực hiện trên cá hồi và những kết quả nghiên
cứu này đƣợc chấp nhận cho những loài cá khác.
1.2.1.6 Nhu cầu về khoáng của cá [2]
Vai trò của chất khoáng là:
Thành phần cấu tạo của cơ thể: Ca, P, Mg tham gia cấu tạo khung cơ thể.
Duy trì chức năng sinh lý bình thƣờng và xúc tác cho phản ứng sinh hoá.
Tham gia vào cấu tạo máu nhƣ Fe (hemoglobin), Cu (hemocyanin)
Thức ăn công nghiệp là một hỗn hợp thức ăn bao gồm một số nguyên liệu đã qua chế biến và
phối trộn theo công thức của nhà chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của thuỷ sản.
Nguyên liệu dùng cho chế biến loại thức ăn này hầu hết ở dạng nguyên liệu khô, thức ăn công
nghiệp có những đặc điểm sau:
Thuận tiện cho việc sử dụng, bảo quản, lƣu thông và phân phối.
Sản xuất chủ động, không phụ thuộc vào mùa vụ của nguyên liệu.
Có thể sản xuất tập trung và có thể sử dụng thiết bị có công suất lớn, kỹ thuật cao. Do
đó sẽ giảm đƣợc chi phí sản xuất.
Thức ăn công nghiệp thƣờng ở dạng viên, khô nên rất thuận tiện cho việc sử dụng và bảo
quản. Dựa vào khối lƣợng riêng xốp của viên thức ăn, chúng ta cũng có thể phân ra thành các
dạng thức ăn viên nhƣ: loại thức ăn viên nổi, thức ăn viên chìm hay chìm chậm
Thức ăn viên nổi: là loại có khối lƣợng riêng xốp nhỏ, đƣờng kính của viên thức ăn có
thể thay đổi từ 1.5 - 10mm. Mức độ chuyển hoá thức ăn cao trong quá trình tiêu thụ, có
thể quản lý và theo dõi trong quá trình cho ăn, ít xảy ra hiện tƣợng ô nhiễm môi trƣờng
nuôi.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 10
Thức ăn viên chìm: là loại có khối lƣợng riêng xốp lớn, đƣờng kính của viên thức ăn
có thể thay đổi từ 1.5 – 4mm. Thức ăn chìm là loại thức ăn thƣờng đƣợc tính đến cho
loài thủy sản ăn đáy. Vấn đề chính của viên thức ăn là có thể giữ đƣợc lâu trong nƣớc
quá trình để cá có thể tiêu thụ hết. Loại thức ăn này đƣợc sử dụng trong công nghiệp
nuôi cá hồi, cá mú, tôm….
Trong nghề nuôi cá thì thức ăn thƣờng chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí ( trên 50% ). Do đó
thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lƣợng, hiệu quả của nghề nuôi cá. Khi cho cá ăn
thì ta nên cung cấp đủ lƣợng và chất để cho cá có thể phát triển tốt, đạt hiệu suất nuôi cao.
Thức ăn cho cá cần phải có sự cân đối về dinh dƣỡng, có sự hƣớng dẫn của khoa học. Việc
sử dụng thức ăn tƣơi sống, thức ăn nhanh tan trong nƣớc, thức ăn kém chất lƣợng là một trong
việc sử dụng bột cá trong thức ăn mà chỉ có vấn đề về giá cả.
Bột cá đƣợc chia làm hai loại: bột cá lạt và bột cá mặn. Trong chế biến thức ăn cho động vật
thủy sản chỉ sử dụng bột cá lạt (hàm lƣợng muối <5%). Bột cá thƣờng đƣợc làm từ cá trích, cá
mòi và cá cơm. Chất lƣợng của bột cá phụ thuộc vào loại nguyên liệu, độ tƣơi của nguyên liệu,
phƣơng thức chế biến và bảo quản. Có hai phƣơng pháp chế biến bột cá:
Chế biến ẩm: cá tƣơi đem hầm hơi, sau đó đè ép tách nƣớc và dầu, bã đƣợc sấy khô
rồi nghiền thành bột, làm bền bột bằng các chất chống oxy hóa, dịch nƣớc chiết đem
cô đặc rồi cho thêm vào bột để bổ sung vitamin và protein hòa tan.
Chế biến khô: cá sau khi đƣợc nấu chín (hoặc hầm chín) rồi làm khô. Bột cá cũng có
thể chế biến theo phƣơng pháp chiết bằng dung môi. Bột cá chế biến theo phƣơng
pháp này rất giàu protein.
Bột xƣơng thịt
Là phụ phẩm từ các lò mổ công nghiệp. Thành phần hoá học của bột thịt xƣơng có sự biến
đổi rất lớn, phụ thuộc vào chất lƣợng của nguyên liệu thô ban đầu. Thành phần của bột thịt xƣơng
trong một nhà máy thì ổn định nhƣng giữa các nhà máy với nhau thì có sự khác biệt rõ ràng. Hàm
Hình 1.3: Bột cá
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 12
lƣợng dinh dƣỡng thay đổi tuỳ theo nguồn phụ phẩm, trong đó hàm lƣợng protein dao động từ 30
- 60%, lipid từ 8 - 11%, Ca từ 4,5 - 5% và P từ 8 - 10%.
Các axit amin thiết yếu của bột thịt xƣơng rất giới hạn. Khi so sánh với trứng thì bột xƣơng
thịt thiếu isoleucine, methionine + cystine. Thêm vào đó thành phần của axit amin khác nhau đối
với mỗi loại bột thịt bởi vì đặc tính protein của mỗi loại khác nhau. Hàm lƣợng khoáng của bột
thịt xƣơng có sự khác biệt lớn. Khi hàm lƣợng tro tăng thì hàm lƣợng khoáng cũng gia tăng,
Acid amin
Bánh dầu đậu nành
(%)
Bánh dầu đậu nành
nguyên hạt (%)
Đậu nành nguyên béo
(%)
Arginine
6.94
7.38
7.44
Histidine
2.64
2.58
2.58
Isoleucine
5.01
5.15
5.31
Leucine
7.54
7.76
7.08
Lysine
6.28
6.45
6.30
Methionine
1.38
1.46
liệu này là:
Hàm lƣợng tinh bột và xơ cao
Hàm lƣợng protein thấp (<20%)
Hàm lƣợng lipid thấp (2 - 5%) ngoại trừ cám (10 - 15%)
Cám gạo
Cám gạo là nguyên liệu đƣợc sử dụng phổ biến nhất để làm thức ăn tự chế trong nuôi trồng
thuỷ sản vì có giá trị năng lƣợng tƣơng đối cao, chất xơ và dẫn xuất không đạm thấp nên thích
hợp làm chất độn. Cám gạo chứa lớp cám cùng với phôi của hạt gạo, cùng với cám mịn ít bột.
Cám gạo (bao gồm cả phôi) có chứa lƣợng dầu không bão hoà ở mức cao từ 12 - 15%. Lƣợng
dầu này rất nhanh hƣ hỏng sẽ chuyển thành acid béo tự do. Vì thế cám gạo chƣa trích dầu rất mau
hƣ, nhƣng nếu dầu đƣợc trích thì cám có thể lƣu trữ lâu hơn. Tình trạng hƣ hỏng này có thể đƣợc
ngăn chặn bằng cách cho chất bảo quản chống oxi hoá vào.
Hàm lƣợng béo trong cám sạch là 13,7%, và gia tăng đến 43% khi lƣu trữ tại 23
0
C trong 3
tháng. Hàm lƣợng xơ cao trong nguyên liệu là trở ngại lớn của việc sử dụng nguyên liệu này.
Cám gạo có hàm lƣợng phosphor phytate cao từ 3,0 - 5,0%. Cám gạo trích ly và chƣa trích ly có
hàm lƣợng mangan và sắt cao, và giàu vitamin nhóm B. Trong thành phần lipid của cám giàu
lecithin, vitamin E, K và khoảng 50% acid béo không no chủ yếu là oleic và iso - linoleic nên dễ
bị oxy hóa làm cám gạo bị ôi khét. Cám gạo còn là môi trƣờng hoạt động của vi sinh vật nên cám
gạo dễ bị chua, mốc, vón cục trong thời gian ngắn. Trong cám gạo có nhiều xơ nên dễ ảnh hƣởng
đến độ kết dính của viên thức ăn.
Hình 1.5: Cám gạo
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 15
Bột mì
̉
cu
̉
a tôm, cá nhanh hơn, mau thu hoa
̣
ch.
Một số nghiên cứu về thức ăn cá mú có sử dụng dầu cá trong thành phần công thức chế biến
thì hàm lƣợng dầu cá bổ sung từ 3 – 4% có tác dụng cải thiện tốc độ tăng trƣởng cho cá.
1.2.3.5 Nguồn thức ăn bổ sung [2]
Chất bổ sung là những chất thêm vào thành phần thức ăn nhƣ: chất bổ sung tăng sức sinh
trƣởng, chất kết dính, chất dẫn dụ, chất tạo màu, chất bảo quản Tỉ lệ chất bổ sung trong thức ăn
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 16
rất ít nhƣng có nhiều tác dụng nhƣ: cân đối nhu cầu của cá, khích thích cá sinh trƣởng và phát
dục, giúp tăng chất lƣợng cá, phòng bệnh cho cá, đồng thời giảm tỉ lệ hƣ hỏng của thức ăn.
Bao gồm thức ăn bổ sung dinh dƣỡng và bổ sung phi dinh dƣỡng.
Thức ăn bổ sung dinh dƣỡng: thức ăn bổ sung vitamin, vi khoáng, axit amin tổng hợp,
enzyme Thƣờng sản xuất dƣới dạng premix chứa hoạt chất và chất mang:
- Hoạt chất có thể là axit amin, vitamin, vi lƣợng.
- Chất mang: thƣờng là trấu.
Thức ăn bổ sung phi dinh dƣỡng: gồm chất chống oxy hoá, chất tạo màu, tạo mùi,
enzyme, chất dẫn dụ, chất kết dính
Chất chống oxy hoá: thƣờng sử dụng Ethoxyquin (1,2 dihydro-6 cthoxy-2,2,4
trimethyl quinoline) với liều 150 ppm; BHT (Butylated hydroxy toluene) với liều 200
ppm, BHA (Butylated hydroxy anisole) với liều 200 ppm.
Chất chống nấm: potassium sorbate, polypropilene glycol, aluminium silicat… ngăn
ngừa sự phát triển của một số nấm mốc sản sinh mycotoxin.
Nhóm có nguồn gốc thực vật: tinh bột (10 - 25%), gum, hemicellulose, carboxymethyl
cellulose CMC (1 - 3%).
Nhóm có nguồn gốc động vật: gelatine, collagen, chitosan.
Nhóm có nguồn gốc vô cơ: bentonite
Nhóm có nguồn gốc tảo biển: agar (1 - 2%), alginate, carrageenan…
Các chất tổng hợp nhƣ Ure Formaldehyde (UF).
Hàm lƣợng chất kết dính sử dụng trong thức ăn phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu chế
biến thức ăn và thiết bị chế biến. Khi sử dụng các thiết bị thủ công thì chất kết dính sẽ sử dụng
nhiều hơn so với thiết bị ép viên hiện đại.
1.2.4 Sản xuất thức ăn cho cá [2]
Các điều cần biết khi sản xuất thức ăn cho thuỷ sản nói chung và cho cá nói riêng:
Nhu cầu dinh dƣỡng của đối tƣợng nuôi
Phù hợp với tập tính ăn của vật nuôi
Thành phần dinh dƣỡng, chất lƣợng và khả năng cung ứng của các nguyên liệu
Khả năng tiêu hoá của vật nuôi đối với nguyên liệu sử dụng
Mức độ chấp nhận của thị trƣờng
Khả năng sẵn có hoặc khả năng cung ứng nguyên liệu
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SVTH: Phạm Thanh Thảo 18
Thức ăn cho cá phải dùng trong nƣớc nên thƣờng phải ở dạng viên, độ bền trong nƣớc tuỳ
thuộc vào tập tính ăn của thuỷ sản. Vì thế công nghệ sản xuất thức ăn phải giải quyết đƣợc hai
khâu quan trong là: tạo dạng viên và khả năng kết dính các nguyên liệu trong thức ăn để viên
thức ăn không tan trong nƣớc ở một khoảng thời gian nhất định, giúp cá kịp ăn hết, tránh lãng phí
và tránh ô nhiễm môi trƣờng.
Quy trình chế biến thức ăn viên cho cá gồm 1 số công đoạn cơ bản sau:
Nguyên liệu xay nghiền thanh trùng trộn tạo viên sấy/ làm nguội sàng, phân
loại áo dầu đóng bao bảo quản.
- Viên thức ăn cho cá mú sử dụng để nghiên cứu đƣợc làm từ các nguyên liệu sau:
Cám gạo: sử dụng cám gạo đƣợc mua từ công ty Bá Phúc (Vĩnh Long) với các chỉ số
chất lƣợng đƣợc trình bày theo bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1: Chỉ số chất lƣợng của nguyên liệu cám gạo đƣợc sử dụng
STT
Chỉ tiêu
Hàm lƣợng, %
1
Protein
10
2
Ẩm
9,5
3
Lipid
6,4
4
Xơ
12
5
NEF*
62.1
*NEF ( nitrogen free extract): dẫn xuất không đạm
Dầu cá: sử dụng dầu cá đƣợc nhập khẩu từ Chi Lê với các chỉ số chất lƣợng đƣợc trình
bày theo bảng 2.2 sau:
Bảng 2.2: Chỉ số chất lƣợng của nguyên liệu dầu cá đƣợc sử dụng
STT
Chỉ tiêu
Hàm lƣợng, %
1
Muối
2,4
5
Tro
12,5
Bột xƣơng thịt: sử dụng bột xƣơng thịt nhập khẩu với các chỉ số chất lƣợng đƣợc trình
bày theo bảng 2.4 sau:
Bảng 2.4: Chỉ số chất lƣợng của nguyên liệu bột xƣơng thịt đƣợc sử dụng
STT
Chỉ tiêu
Hàm lƣợng, %
1
Protein
46,1
2
Ẩm
8,8
3
Lipid
11,6
4
Tro
32
5
Cát, sạn
1,5
Bột mì: sử dụng bột mì Bình An với chỉ số chất lƣợng đƣợc trình bày theo bảng 2.5 sau:
Bảng 2.5: Chỉ số chất lƣợng của nguyên liệu bột mì đƣợc sử dụng
10,5
3
Xơ
3,48
4
Lipid
2,5
5
Tro
5,92
6
Cát, sạn
2,5
- Ngoài ra còn sử dụng thêm premix khoáng, vitamin để cung cấp thêm hàm lƣợng khoáng và
vitamin trong viên thức ăn cho cá mú.
- Tất cả các nguyên liệu sử dụng phải không bị hƣ hỏng và phải đảm bảo chất lƣợng cho từng
loại nguyên liệu.
- Tất cả các nguyên liệu dùng trong thí nghiệm đƣợc cung cấp từ phòng thí nghiệm dinh
dƣỡng của viện nuôi trồng thuỷ sản II.
2.1.3 Dụng cụ
2.1.3.1 Dụng cụ tạo viên thức ăn
Máy tạo viên
- Sử dụng máy tạo viên GIANT FOOD TJ12-B (Italia), khuôn ép có đƣờng kính là 5mm.
Hình 2.1: Máy tạo viên TJ12-B
CHƢƠNG 2: NGUYÊN LIÊU & PP NGHIÊN CỨU SVTH: Phạm Thanh Thảo
22
Thang đo: 0-100%, độ chính xác: 0,02%
Độ phân giải: độ ẩm 0,01%
Nhiệt độ sấy đến 200
0
C
- Nguyên tắc hoạt động: đo độ ẩm dựa trên nguyên tắc sấy bằng tia hồng ngoại (sấy bức xạ).
Các dòng tia nhiệt không chỉ truyền trên bề mặt nguyên liệu mà còn thấm sâu vào các mao quản,
trƣờng hợp này các tia nhiệt hầu nhƣ đƣợc hấp thụ hoàn toàn do nhiều lần phản xạ từ thành
nguyên liệu. Từ đây cho phép ta có thể truyền cho một đơn vị bề mặt nguyên liệu một lƣợng
nhiệt nhiều hơn so với truyền nhiệt bằng đối lƣu hay tiếp xúc. Do đó, quá trình sấy sẽ đƣợc rút
ngắn đáng kể và cho kết quả về đo độ ẩm nhanh hơn phƣơng pháp sấy trong tủ sấy đên khối
lƣợng không đổi.
Cân điện tử: sử dụng cân điện tử có độ chính xác đến 2 số lẻ.
Máy xay thô: sử dụng máy xay sinh tố
Rây inox 0,5mm
Khay và thau inox
2.1.3.2 Dụng cụ nghiên cứu
Thƣớc kẹp: - Sử dụng thƣớc kẹp bằng thép không gỉ hiệu Calipers có độ chính xác 0,05 mm, chiều dài đầu
kẹp 40mm
Ống đong 100ml
Hình 2.4: Thước kẹp Calipers
CHƢƠNG 2: NGUYÊN LIÊU & PP NGHIÊN CỨU SVTH: Phạm Thanh Thảo
24
Cân điện tử
Cốc thuỷ tinh 100ml và đũa thuỷ tinh.
- Các máy móc, thiết bị dùng trong nghiên cứu thuộc phòng thí nghiệm của Trung tâm công