NGUYỄN NGỌC PHỤC - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) 69
ẢNH HƯỞNG CỦA DẠNG THỨC ĂN (LỎNG VÀ KHÔ) VÀ KIỂU CHUỒNG (KÍN
VÀ HỞ) ĐẾN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN THỊT
Nguyễn Ngọc Phục
1
, Nguyễn Quế Côi
1
, Phan Xuân Hảo
2
Nguyễn Hữu Xa
1
,
Lê Văn Sáng
1
, Nguyễn Thị Bình
1
và Trần Thị Huyền
1
1
Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương,
2
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Phục, Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Tel: 0983.052.811; Fax: (04) 38.3741.0025; E-mail: [email protected]
ABSTRACT
chuồng nuôi (chuồng kín và chuồng hở) đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn
thương phẩm trong chăn nuôi công nghiệp.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Gia súc và sơ đồ bố trí thí nghiệm
465 lợn thương phẩm, sau cai sữa (23 - 25 ngày tuổi), là con lai từ lợn VCN22 và đực cuối
cùng Maxter 14 (France Hybrid) được bố trí vào thí nghiệm như Bảng 1.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 33. Tháng 12/2011 70
Thí nghiệm tiến hành làm 4 mùa Xuân, Hè, Thu, Đông.
Chuồng trại thí nghiệm
Chuồng kín, có tường bao quanh và cửa sổ có tấm kính chiếu sáng. Hệ thống quạt hút và phun
nước (cooling pad) đặt ở đầu chuồng. Chuồng cai sữa có sàn nhựa đặt trên nền cách mặt đất
0,4m, có máng ăn và vòi uống tự động. Chuồng nuôi vỗ béo (VB) lợn thịt có ô 15 m
2
, nuôi
với mật độ 0,75m
2
/con. Hệ thống quạt chạy liên tục để thông gió, tuy nhiên, hệ thống phun
nước làm mát chỉ họat động vào mùa nóng. Chuồng lợn VB có nền chuồng xi-măng, rãnh
nước rộng 0,5m sâu 15cm dọc theo cuối mỗi ô chuồng cho lợn tắm và thải phân. Nước thải
được xả ngày một lần, vòi uống tự động. Chuồng hở có sàn nền và hệ thống cung cấp thức ăn
nước uống tương tự chuồng kín mô tả ở trên. Điểm khác là thông gió tự nhiên do hai bên hành
lang có bạt che kéo lên hạ xuống dễ dàng.
Thức ăn và nuôi dưỡng
Thức ăn cho lợn thí nghiệm là thức ăn viên có thành phần dinh dưỡng trình bày tại Bảng 2.
Lô TAK: TA cho vào máng ăn không pha trộn nước, lợn ăn khô từ ngày cai sữa đến kết thúc
TA, mùa, và tương tác chuồng với mùa. Các tương tác khác chuồng với TA, chuồng với mùa,
TA với mùa, chuồng với TA với mùa không sai khác đối với tất cả các tính trạng (P>0,05)
nên loại khỏi mô hình. Các giá trị trung bình được so sánh bằng phương pháp Turky trên phần
mềm Minitab 15. (2007). Kết quả trình bày gồm các giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất
(LSM) và sai số chuẩn (SEM).
Bảng 2. Khẩu phần thức ăn cho lợn thí nghiệm
L
ợn sau cai sữa
(5-25 kg)
L
ợn vỗ béo
(25-xuất chuồng)
Tên nguyên liệu
Khối lượng (kg) Khối lượng (kg)
Ngô 399,80 387,80
Tấm gạo tẻ 150,00 158,90
Cám mỳ 225,30 200,00
Khô đậu tương 148,80 173,60
Bột cá 60% Pr 20,00 30,00
Bột thịt xương 50% Pr 30,00 20,00
Premix Vitamin-khoáng 2,50 2,50
Lysine 4,10 2,60
Methionine 1,00 1,00
Threonine 1,90 1,30
Chất chống mốc 1,10 1,00
Chất chống ôxy hóa 0,20 0,20
Bột đá trắng 7,60 5,60
DCP 3,50 10,90
Muối ăn 4,20 5,00
hưởng bởi yếu tố mùa (P<0,01 và P<0,05), trong khi đó hai chỉ tiêu này ở giai đoạn SCS
không chịu tác động này (P>0,05). Khi nghiên cứu ảnh hưởng tương tác giữa các yếu tố có chỉ
tiêu TTBQ giai đoạn VB chịu tác động bởi tương tác giữa kiểu chuồng nuôi và mùa vụ
(P<0,01), còn lại các yếu tố khác đều không có tác động tương tác đối với tất cả các chỉ tiêu
còn lại (P>0,05).
Bảng 3. Mức ảnh hưởng các yếu tố đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Các ảnh hưởng tương tác
Các chỉ tiêu
Kiểu
chuồng
D
ạng
TA
Mùa
Chuồng
x TA
Chuồng x
Mùa
Mùa
x TA
Chuồng x
TA x Mùa
Tốc độ sinh trưởng
Khối lượng 60 ngày tuổi (kg/con)
*** *** ** NS NS NS NS
3,23% (P<0,001). Tốc độ TTBQ của lợn con sau cai sữa trong chuồng kín cao hơn chuồng hở
6,05% (386,22 g/ngày so với 364,17 g/ngày, P<0,001). Ở giai đoạn VB, lợn thương phẩm
cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố chuồng trại trong đó lợn nuôi chuồng kín có
TTBQ (837,25 g/ngày) cao hơn lợn nuôi chuồng hở (787,69 g/ngày), tương ứng 6,29 %
(P<0,001).
Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn giai đoạn VB cũng khác nhau tuỳ theo kiểu chuồng trại.
Lợn nuôi chuồng kín có lượng thức ăn thu nhận/ngày cao hơn chuồng hở 0,11 kg (5,23%), đạt
mức tiêu tốn thức ăn/ kg tăng trọng cũng thấp hơn 0,14kg (5,11%). Tuy nhiên, tác động này
không thấy xảy ra đối với lợn con giai đoạn SCS và có thể do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của
chuồng hở nuôi lợn con sau cai sữa được kiểm soát tốt do có trang bị bạt che, đèn sưởi và sàn
nhựa.
Các tác giả khác nghiên cứu về ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng của lợn con giai
đoạn SCS cho thấy lợn con nuôi trong chuồng kín sinh trưởng tốt hơn so với nuôi chuồng hở.
Theo Larson và cs. (2003), trong điều kiện chuồng kín lợn con giai đoạn SCS lớn nhanh và
đạt mức TTBQ/ngày cao hơn 3% so với lô đối chứng nuôi trong chuồng hở. Đặc biệt, mức
tăng cao hơn chủ yếu diễn ra trong tuần đầu và tuần thứ hai SCS với mức tăng của lô nuôi
chuồng kín cao hơn tương ứng 29,82% và 19,82%. Như vậy kết quả về TTBQ/ngày trong thí
nghiệm của chúng tôi tương tự như kết quả trên, và có thể khẳng định chuồng kín có tác dụng
tích cực đối với sinh trưởng của lợn con, đặc biệt trong 2 tuần đầu sau cai sữa.
Bảng 4. Ảnh hưởng của kiểu chuồng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Các chỉ tiêu
Chuồng kín
(n=227)
Chuồng hở
(n=238)
SEM
Tốc độ sinh trưởng
TTTA giai đoạn SCS (kg/kg) 1,50 1,51 0,04
TTTA giai đoạn VB (kg/kg) * 2,58
a
2,73
b
0,04
Các giá trị cùng dòng không mang cùng chữ cái khác nhau có ý nghĩa; ***: P<0,001; *: P<0,05
Mức tiêu thụ và sử dụng thức ăn của lợn con SCS trong nghiên cứu của Larson và cs. (2003)
tăng lên trong điều kiện chuồng kín, trong đó lượng TATN của lô chuồng kín tăng 23% trong
hai tuần đầu và 7% trong cả 5 tuần thí nghiệm do điều kiện chuồng kín phù hợp và thuận lợi
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 33. Tháng 12/2011 74
hơn cho lợn con SCS so với chuồng hở. Tuy nhiên, trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi
không thấy có sự khác nhau giữa hai kiểu chuồng có thể do chuồng hở được che chắn kỹ, có
lò sưởi và chăm sóc đặc biệt nên điều kiện tiểu khí hậu không khác nhiều so với chuồng kín,
đặc biệt những ngày đầu SCS
Mùa vụ là yếu tố quan trọng tác động đến chăn nuôi lợn, đặc biệt lợn con. Kết quả thí nghiệm
của chúng tôi cho thấy mùa vụ có ảnh hưởng đến sinh trưởng tương tự như các thí nghiệm
khác. Trong thí nghiệm của Larson và cs. (2003), mùa vụ có ảnh hưởng rất lớn đến TTBQ và
TATN của lợn con SCS và phụ thuộc vào kiểu chuồng nuôi. Trong mùa đông và mùa xuân
lợn nuôi ở chuồng hở ăn ít hơn 6-9% và chậm lớn hơn 5-7% so với chuồng kín, trong khi lợn
ở hai chuồng nuôi mùa hè có tốc độ lớn nhanh như nhau. Trong thí nghiệm của các tác giả này
tại Canada, mùa hè không khác nghiệt và tương tự như mùa thu của Việt Nam. Như vậy, trong
điều kiện thời tiết thuận lợi, lợn con SCS có khả năng sinh trưởng tốt nhất.
Đối với giai đoạn VB, các nghiên cứu cho thấy kiểu chuồng trại có ảnh hưởng lớn đến khả
năng sử dụng TA cũng như tốc độ tăng trọng của lợn VB. Kết quả của chúng tôi cho thấy ảnh
dạng thức ăn vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của lợn thương phẩm nhưng với
NGUYỄN NGỌC PHỤC - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) 75
mức độ thấp hơn so với giai đoạn sau cai sữa. Lô TAL đạt TTBQ cao hơn lô TAK khoảng
1,88% (804,76 so với 820,17 g/ngày, P<0,01).
Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm trình bày tại Bảng 5. Ở giai đoạn SCS, lượng
TATN và TTTA của hai lô đều không có sự sai khác đáng kể (P>0,05). Trái lại, ở giai đoạn
VB, TAL đã làm tăng rõ rệt lượng TATN hàng ngày từ 2,09 kg/ngày lên 2,30 kg/ngày, tương
ứng 11,33% (P<0,001), đồng thời giảm đáng kể (5,05%) lượng TTTA cho tăng trọng (2,72
kg/kg so với 2,59 kg/kg, P<0,01) so với TAK.
Đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa, các kết quả nghiên cứu khác cho biết TAL làm tăng
mức TATN cũng như TTBQ. Trong kết quả của Jensen và Mikkelsen (1998) lợn con SCS
nuôi bằng TAL có TTBQ cao hơn 12,3% so với TAK. Tương tự, Partridge và cs. (1992) và
Lawlor và cs. (2002) cũng cho kết quả TAL làm tăng lượng TATN đối với lợn con SCS.
Ngoài ra, thức ăn lỏng lên men còn tăng khả năng tăng trọng đến 13,4% so với thức ăn dạng
lỏng không lên men (Jensen và Mikkelsen, 1998). Trong thí nghiệm của Han và cs. (2006),
mức TTBQ/ngày của lợn con sau cai sữa nuôi TAL đạt từ 4,8% - 9,7%, cao hơn so với lợn
nuôi bằng TAK, tuỳ theo thời gian sử dụng TAL 10 hay 20 ngày liên tục sau cai sữa. Kết quả
nghiên cứu của Kim và cs. (2001) cũng cho thấy nuôi lợn con trong 2 tuần đầu sau cai sữa
bằng thức ăn dạng lỏng đạt mức TTBQ/ngày và tăng trọng/tiêu tốn TA cao hơn so với nhóm
nuôi bằng thức ăn khô (tương ứng 44% và 22%).
Bảng 5. Ảnh hưởng của dạng thức ăn đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Các chỉ tiêu
TA khô
(n=231)
TA lỏng
a
820,17
b
3,56
Sử dụng thức ăn
TATN giai đoạn SCS (kg/ngày) 0,54 0,49 0,02
TATN giai đoạn VB (kg/ngày) *** 2,09
a
2,30
b
0,04
TTTA giai đoạn SCS (kg/kg) 1,53 1,48 0,04
TTTA giai đoạn VB (kg/kg) * 2,72
a
2,59
b
0,04
Các giá trị cùng dòng không mang cùng chữ cái khác nhau có ý nghĩa; ***: P<0,001; **: P<0,01; *: P<0,05
Như vậy kết quả của thí nghiệm của chúng tôi có mức TTBQ phù hợp với kết quả của các tác
giả trên và khẳng định TAL làm tăng tốc độ sinh trưởng ở lợn con sau cai sữa, mặc dù mức độ
cải thiện TTBQ của lợn trong thí nghiệm này còn thấp hơn so với các nghiên cứu trên. Trái
lại, thí nghiệm của Lawlor và cs. (2002) lại cho thấy TAL làm giảm TTBQ/ngày tới 15% so
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 33. Tháng 12/2011 76
Trái lại với các kết quả trên, Lawlor và cs. (2002) cho biết khối lượng lợn VB đến kết thúc
của lô TAL thấp hơn 1,97% và lượng TATN cũng thấp hơn 2,15% so với lô TAK nhưng
TTBQ và TTTA lại không bị ảnh hưởng bởi dạng thức ăn. Trong thí nghiệm tương tự khác
(Lawlor và CS, 2002) cũng không thấy có ảnh hưởng của dạng TAL và TAK đến TATN,
TTTA và TTBQ.
Ảnh hưởng của mùa
Ảnh hưởng của mùa đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thương phẩm được
trình tại Bảng 6. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của mùa vụ đến khối lượng
lợn 60 ngày tuổi. Lợn nuôi mùa thu (22,31kg) có khối lượng cao hơn (P<0,01) mùa hè (21,55
kg) và mùa xuân (21,27 kg), trong khi đó khối lượng lợn mùa đông (21,65kg) không có sự sai
khác so với các mùa khác trong năm (P>0,05).
Tương tự, khối lượng tăng giai đoạn SCS cao nhất trong mùa thu (16,07kg, P<0,01), đồng
thời mức TTBQ/ngày mùa thu (392,24 g/ngày) cũng cao (P<0,001) hơn mùa hè (375,78
g/ngày) và mùa đông (350,12 g/ngày) và tương đương (P>0,05) mùa xuân (382,44 g/ngày).
TTBQ trong mùa đông ở mức thấp nhất (350,12 g/ngày, P<0,001) so với các mùa còn lại, mặc
NGUYỄN NGỌC PHỤC - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) 77
dù khối lượng kết thúc giai đoạn và mức tăng trọng của mùa đông tương đương các mùa khác.
Nguyên nhân là do thời gian nuôi mùa đông giai đoạn này dài nhất (44 ngày) nhằm để lợn con
khoẻ hơn khi chuyển chuồng, trong khi thời gian nuôi vào mùa hè và mùa xuân ngắn hơn (39-
42 ngày).
Ở giai đoạn VB, mùa vụ cũng tiếp tục ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của lợn, trong đó
TTBQ của lợn nuôi mùa thu đạt mức cao nhất (837,45g/ngày), mùa đông -thấp nhất (792,67
g/ngày) với mức P<0,001. TTBQ ở mùa xuân và mùa hè tương đương nhau (803,63 và 816,13
g/ngày, P>0,05), thấp hơn mùa thu và cao hơn mùa đông (P<0,001).
Bảng 6. Ảnh hưởng mùa vụ đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
22,31
b
21,65
ab
0,20
Khối lượng kết thúc (kg/con) 95,67
97,07
97,11
97,21
0,44
Khối lượng tăng SCS (kg/con) ** 15,30
a
15,03
a
16,07
b
15,41
ab
837,45
b
792,67
c
5,08
Sử dụng thức ăn TATN giai đoạn SCS (kg/ngày) 0,49
0,47
0,56
0,53
0,03
TATN giai đoạn VB (kg/ngày) ** 2,28
ab
2,12
ac
2,32
Về hiệu quả sử dụng thức ăn, ở giai đoạn SCS thí nghiệm không thấy ảnh hưởng của mùa vụ
đến TATN cũng như TTTA (P>0,05). Cả bốn mùa, lợn con giai đoạn SCS có lượng TATN
dao động trong khoảng 0,47-0,53 kg/ngày và mức TNTĂ trong khoảng 1,47-1,53 kg/kg.
Ở giai đoạn vỗ béo, ảnh hưởng của mùa vụ thể hiện rõ rệt ở lượng TATN. Trong mùa thu lợn
ăn nhiều thức ăn hơn so với mùa hè và mùa đông (2,32kg/con/ngày so với 2,12 kg/con/ngày
và 2,05kg/con/ngày, P<0,001) nhưng tương đương với mùa xuân (2,28). Lượng TATN của
mùa xuân có xu hướng cao hơn mùa hè (2,28 và 2,12 kg/ngày). Ngoài ra, TATN của mùa hè
và mùa đông tương đương nhau.
Đối với mức TTTA, lợn nuôi trong mùa thu có xu hướng có mức TTTA thấp nhất (2,54
kg/kg), tuy nhiên không có sự sai khác (P>0,05) khi so với mùa đông (2,8 kg/kg) và chưa đủ
độ tin cậy có ý nghĩa khi so sánh với mùa xuân (2,62 kg/kg và 2,65 kg/kg, P>0,05). Mức độ
giảm về TTTA của mùa thu so với các mùa khác như vậy dao động 0,08-0,26 kg/kg tăng
trọng.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 33. Tháng 12/2011 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Dạng thức ăn lỏng có tác động tích cực đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn sau
cai sữa cũng như vỗ béo: lợn con sau cai sữa và lợn vỗ béo nuôi bằng TAL đều có tăng trọng
bình quân/ngày cao hơn, tương ứng 5,54% và 1,88%, và lợn vỗ béo có hệ số chuyển hoá thức
ăn thấp hơn 5,05% so với lợn nuôi bằng TAK.
Chuồng kín ảnh hưởng tốt hơn đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của lợn thương phẩm so với
nuôi chuồng hở, trong đó lợn con sau cai sữa có mức tăng trọng bình quân/ngày cao hơn
6,05%, lợn vỗ béo có tăng trọng bình quân/ngày cao hơn 6,29% và hệ số chuyển hoá thức ăn
thấp hơn 5,44%.
Mùa ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn, trong đó lợn nuôi mùa
Hurst, D., L. Clarke & I. J. Lean (2008). Effect of liquid feeding at different water-to-feed ratios on the growth
performance of growing-finishing pigs. Animal. 2: 1297-1302.
NGUYỄN NGỌC PHỤC - Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) 79
Jensen, B. B., & L. L. Mikkelsen (1998). Feeding liquid diets to pigs. In: P.C. Garnsworthy and J. Wiseman (ed.)
Recent Advances in Animal Nutrition. Nottingham University Press, Nottingham, UK.
Kim, J.H., Heo, K.N., Odle, J., Han, I.K., & R.J. Harrell (2001). Liquid diets accelerate the growth of early-
weaned pigs and the effects are maintained to market weight. J. Anim. Sci. 79: 427-434.
Lally, J. & W. Edwards (1999). Performance Differences between Natural-Ventilated and Tunnel-Ventilated
Finishing Facilities.
www.ipic.iastate.edu/reports/99swinereports/asl-1688.pdf (Truy cập 27/12/09).
Larson, M.E., M.S. Honeyman & J.D. Harmon (2003). Performance and behavior of early weaned pigs in hoop
structures. Applied Engineering in Agriculture. 19: 591-599.
Lawlor, P.G., P.B. Lynch, G.E. Gardiner, P.J. Caffrey & J.V. O’doherty (2002). Effect of liquid feeding weaned
pigs on growth performance to harvest. J. Anim Sci. 80: 1725-1735.
Lebret, B., M.C. Meunier-Salaun, A. Foury, P. Mormede, E. Dransfield & J.Y. Dourmad (2006). Influence of
rearing conditions on performance, behavioral, and physiological responses of pigs to preslaughter
handling, carcass traits, and meat quality. J. Anim Sci. 84: 2436-2447.
Mikkelsen, L.L. & B.B. Jensen (2000). Effect of fermented liquid feed on the activity and composition of the
microbiota in the gut of pigs. Pig News Info. 21:59-66.
Partridge, G.G., J. Fisher, H. Gregory & S.G. Prior (1992). Automated wet feeding of weaner pigs versus
conventional dry diet feeding:effects on growth rate and food consumption. Anim. Prod. 54: 484
(Abstr.).
Pluske, J.R., I.H. Williams & F.X. Aherne (1996). Maintenance of villous height and crypt depth in piglets by
providing continuous nutrition after weaning. Anim. Sci. 62: 131-144.
Sather, A.P., S.D.M. Jones, A.L. Schaefer, J. Colyn & W.M. Roberston (1997). Feedlot performance, carcass