NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU và mật độ NUÔI lên tốc độ SINH TRƯỞNG, tỷ lệ SỐNG của cá lóc BÔNG (channa micropeltes cuvier, 1831) NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI đặt TRONG AO đất tại BUÔN MA THUỘT, tỉn - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC
NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes Cuvier, 1831)
NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG - 2010 i
LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính tác
giả đã trực tiếp thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng công bố trong bất cứ công trình
khoa học nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được tác giả cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được trích rõ nguồn gốc.

Tác giả Nguyễn Văn Thảo
khóa 48 đã có những hỗ trợ quý báu cho tác giả trong suốt thời gian thực hiện
nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị em và các bạn học viên lớp CHNT2009-
SUDA đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và trong thời gian
thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tác giả hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp. iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
Chương I. TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản 3
1.1.1. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam 3
1.1.3. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Đắk Lắk 4

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.2. Bố trí thí nghiệm 27
2.2.1. Thí nghiệm I 27
2.2.2. Thí nghiệm II 28
2.3. Phương pháp chế biến thức ăn 29
2.3.1. Xay, nghiền nguyên liệu 29
2.3.2. Cân nguyên liệu 29
2.3.3. Chế biến thức ăn 29
2.4. Quản lý hệ thống thí nghiệm 29
2.5. Các công thức để xác định thông số thí nghiệm 30
2.6. Phương pháp thu thập số liệu 31
2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32
Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Các số liệu về môi trường trong thí nghiệm 33
3.1.1. Nhiệt độ 33 v
3.1.2. Oxy hòa tan 34
3.1.3. pH nước 34
3.2. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo
thời gian 35
3.2.1. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời
gian 35
3.2.2. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự phân đàn của cá lóc bông theo thời
gian 41
3.2.3. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 43
3.3. Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời
gian 45
3.3.1. Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời gian 45

FCR : Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio).
KL : Khối lượng.
L
t
-gain : Tỷ lệ gia tăng về chiều dài cá (Length gain).
LSD : So sánh cặp giữa các nhóm có thể không bằng nhau (Least
Significant Difference).
NT1 : Nghiệm thức 1.
NT2 : Nghiệm thức 2.
NT3 : Nghiệm thức 3.
W
t
-gain : Tỷ lệ gia tăng về khối lượng cá (Weight gain).

vii
viii

Bảng 3.13. Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm
ảnh hưởng thức ăn (cm) 50
Bảng 3.14. Hệ số phân đàn của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng
thức ăn (%) 52
Bảng 3.15. Tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (%) 54
Bảng 3.16. Hệ số chuyển hóa thức ăn cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 56
Bảng 3.17. Hệ số chuyển hóa thức ăn cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn 56


lượng, chiều dài cá lóc bông 46
Hình 3.12. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên khối lượng cá lóc bông theo thời gian 48
Hình 3.13. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên sự tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông
theo thời gian 49
Hình 3.14. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên chiều dài cá lóc bông theo thời gian 50 x
Hình 3.15. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên sự tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông
theo thời gian 50
Hình 3.16. Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về chiều dài theo thời gian 52
Hình 3.17. Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về khối lượng theo thời gian 53
Hình 3.18. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 541
MỞ ĐẦU
Cá lóc bông là loài cá giữ, phàm ăn, có khả năng chống chịu bệnh tốt, là loài
có giá trị kinh tế, được nuôi nhiều ở các nước Đông Nam và Nam Châu Á [34]. Cá
có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi
trường, chất lượng thịt thơm ngon. Cá lóc bông có thể nuôi thích hợp trong giai,
trong ao, trong bể lót bạt và nuôi trong lồng bè đạt năng suất cao. Ngoài ra, cá lóc
bông còn là loài được ưa chuộng của những người câu cá thể thao.
Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi
khác nhau như: nuôi trong ao đất, lồng bè (Thái Lan, Hồng Kông …), nuôi ghép với
cá rô phi, cá chép … (Đài Loan) [5]. Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thủy sản là một
trong những ngành kinh tế thế mạnh, góp phần lớn trong việc cải thiện đời sống và
nâng cao thu nhập người dân. Nghề nuôi cá lóc nói chung, cá lóc bông nói riêng ngày
càng phát triển ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) như An Giang, Đồng
Tháp … Ở Đắk Lắk, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh làm tăng đáng kể

Ý nghĩa của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Xác định nhu cầu dinh dưỡng, loại thức ăn, công thức
cho ăn và mật độ nuôi phù hợp để tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông.
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp người nuôi lựa chọn loại thức ăn, công thức cho
ăn và mật độ phù hợp để nuôi thương phẩm cá lóc bông bằng giai đặt trong ao đất
tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Mục tiêu của đề tài:
Tìm ra các chế độ dinh dưỡng, loại thức ăn, công thức cho ăn và mật độ nuôi
phù hợp nhất cho sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông nuôi thương phẩm
bằng giai đặt trong ao đất.
Nội dung đề tài:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (thức ăn viên hỗn
hợp hiệu Cá Vàng; thức ăn chế biến; thức ăn cá tạp) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá lóc bông nuôi bằng giai
.
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của của mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá lóc bông nuôi bằng giai. 3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản
1.1.1. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian qua. Năm
2006, nuôi trồng thủy sản đóng góp 47% nguồn thực phẩm thủy sản của thế giới,

Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 1.312.537 ha, trong đó có 36.950 ha đất sông
suối, mặt nước chuyên dùng có khả năng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản nước
ngọt. Diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thuỷ sản năm 2009 đạt 6.745 ha, tổng
sản lượng đạt 8.530 tấn, tăng 6% so với năm 2008, trong đó sản lượng nuôi trồng
đạt 6.965 tấn, sản lượng khai thác đạt 1.482 tấn [13], [15].
Nhìn chung, ở Đắk Lắk chủ yếu các loài cá truyền thống (khoảng 6.189 ha,
chiếm 98% tổng diện tích nuôi trên toàn tỉnh), cá rô phi chỉ đạt 11 ha, chiếm 0,2% và
nhóm đặc sản như ếch, ba ba, lươn, cá lóc, rô đồng, cá lăng nha … khoảng 118 ha,
chiếm 1,9%. Trong đó, nhóm cá truyền thống được nuôi rất phổ biến ở hồ chứa; đối
với nhóm cá rô phi và thủy đặc sản nuôi chủ yếu ở các ao hồ nhỏ, vùng ruộng trũng.
Giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua tăng từ 88,6 tỷ đồng
(2003) lên đến 177,2 tỷ đồng (2009), tốc độ tăng bình quân năm 13,2%/năm [13].
1.2. Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Lắk
1.2.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Lắk là một trong năm tỉnh khu vực Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh
Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía
Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa và phía Tây giáp vương quốc Campuchia.
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính. Có hệ thống giao thông huyết mạch của
quốc gia và của vùng Tây Nguyên như: tuyến Quốc lộ 14 nối liền thành phố Hồ Chí
Minh với các tỉnh Tây Nguyên; quốc lộ 26 nối tỉnh Khánh Hòa và quốc lộ 27 nối tỉnh
Lâm Đồng; sân bay Buôn Ma Thuột phụ vụ các chuyến bay trong nước.
1.2.2. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu mang đặc trưng của 2 kiểu khí hậu: nhiệt đới ẩm và gió Tây Nam
khô nóng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [16]. 5
Nhiệt độ không khí: Trung bình từ 23 - 24
o

Ngành phụ : Verterbrata
Lớp : Actinopterygii
Bộ : Perciformes
Họ : Channidae
Giống : Channa
Loài : Channa micropeltes (Cuvier, 1831) 6

Hình 1.1: Cá lóc bông [20]
Hiện nay, họ cá Channidae được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu do giá
trị kinh tế cao, thịt ngon, dễ nuôi. Theo FAO (2004) thì họ channidae gồm có 2
giống: giống Parachanna và giống channa.
Một số loài có kích thước khá lớn, thịt ngon, tăng trưởng nhanh, được nuôi
nhiều nước trong khu vực Đông Nam châu Á (Pillay, 1990) [7], có thể dài đến
180cm, nặng trên 30kg, đôi khi chúng rất hung dữ, tấn công gây hiểm họa cho con
người, khi tiếp cận với con của chúng (Kottelat và ctv, 1993), ví dụ như các loài:
Channa marulius, Channa micropeltes (cá lóc bông).
Về đặc tính phân bố cho thấy đa phần các loài sống trong các thủy vực nước
ngọt nội địa, một số loài có khả năng sống ở thủy vực nước lợ. Các loại hình thủy
Hình 1.2. Bản đồ phân bố cá lóc bông trên thế giới [22]
Theo các tài liệu nghiên cứu hiện nay trên thế giới có 30 loài cá lóc đã được
mô tả; Giống channa có 27 loài, giống parachanna có 3 loài [5]. 8
Bảng 1.1. Các loài cá lóc (snakehead) trên thế giới [5]
TT

Thành phần loài Tên tiếng Anh
Kích thước
tối đa
I. Giống Channa
Snakehead of Asia (Malaysia, Indonesia)
1 C. amphibeus (McClellant, 1845) Bonrna snakehead
2 C. argus argus (Cantor, 1842) Snakehead 85cm;6,1kg
3 C. argus warpachowski (Berg, 1909) Amur snakehead 80cm; 7,0kg
4 C. asiatica (Linnaeus, 1758) Small snakehead 20cm
5 C. aurantimaculata (Musikasinthorn, 2000) 19,08cm
6 C. bankaneensis (Bleeker, 1852) Bangka snakehead 23,5cm
7 C. barca (Hamilton, 1822) Barca snakehead 90cm
8 C. bleheri (Vierke, 1991) Rainbow snakehead

Trên thế giới, cá lóc được nuôi với nhiều phương thức khác nhau như: nuôi
thâm canh trong ao hay ghép với các loài cá Rô phi, Chép (Lo Chai Chen, 1990)
[5], [32]. Ở Việt Nam, kết quả khảo sát tình hình nuôi cá lóc bông trong bè ở hai
tỉnh An Giang và Đồng Tháp cho thấy cá lóc bông phát triển rất tốt trong mô hình
nuôi lồng, bè nước chảy, năng suất dao động 42,5 - 116 kg/m
3
[5]. Cá giống nuôi
chủ yếu được sinh sản bán tự nhiên và sinh sản nhân tạo. Ở giai đoạn cá giống, cá
sử dụng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm từ 34% trở lên vẫn phát triển tốt [5].
Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004) đã nghiên cứu khá chi tiết về các đặc điểm
dinh dưỡng, sinh trưởng, nhu cầu chất đạm của cá giống, thử nghiệm kích thích sinh
sản … Các kết quả này là cơ sở quan trọng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
trên đối tượng cá lóc bông (Channa mcropeltes) [5].
1.3.2. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc bông là loài cá dữ điển hình, cá rất thích ăn là động vật tươi sống như:
cá, tép, ếch nhái, bọ gạo … (Pillay, 1990; Lee, 1991) [7], [31].
Cá lóc bông có miệng cận trên và to, nhờ vậy cá có thể ăn được mồi có kích
thước lớn. Răng hàm, răng lá mía và răng khẩu cái khá to, sắc. Hàm dưới có răng
chó cho thấy cá lóc bông thuộc nhóm cá ăn động vật kích thước lớn và bắt được
mồi sống [5].
Lược mang có dạng múm gai (dạng lược mang điển hình của các loài cá dữ)
giống như cá lóc đen (Channa striatus). Ở cung mang thứ nhất có 23 - 29 núm gai
xếp thành hai hàng so le nhau [5].
Thực quản cá lóc bông ngắn, có vách dày, mặt trong thực quản có nhiều nếp
gấp nên co giãn được do đó cá có thể nuốt được mồi to và có thể cá lóc bông thuộc
nhóm cá có nhịp dinh dưỡng thưa [5].


Sinh sản là sự tái sản xuất của chủng quần và bảo vệ loài. Tuổi và kích thước
thành thục của cá được coi là đặc điểm thích nghi với điều kiện sinh sản (Mai Đình
Yên, 1992) [5]. 11
Cá lóc bông thành thục vào 23 - 24 tháng tuổi, mùa vụ phát dục và sinh sản
kéo dài từ tháng 4 - 10, tập trung vào tháng 6 - 7 dương lịch [12]. Cá sinh sản tái
phát dục 3 - 4 lần trong năm [5], [32].
Lượng trứng cá lóc bông có thể đạt từ 7.000 - 14.000 trứng/kg cá cái; cá lóc
có chiều dài 35 cm có thể sinh sản 10.000 trứng [12]. Khi sinh sản cá đực và cá cái
tự bắt cặp, sinh sản trứng trong tổ, chúng bảo vệ trứng rất kỹ, cho đến khi cá con đã
có thể sống độc lập và chủ động bắt mồi [5].
Cá lóc bông là loài sinh sản trứng nổi, thụ tinh ngoài, có tập tính giữ trứng
[12]. Mùa vụ sinh sản của cá trong thủy vực tự nhiên chủ yếu xảy ra từ tháng 5 - 8
dương lịch, mùa mưa cá sẽ bắt cặp làm tổ, tham gia sinh sản và cá con sinh trưởng,
phát triển cho đến mùa nước rút vào tháng 11 dương lịch [5].
Cho đến nay rất ít tài liệu viết về dinh dưỡng và thức ăn cho cá lóc bông. Tuy
nhiên cá lóc bông có nhiều đặc điểm sinh học gần giống với nhiều loài cá lóc khác
như: cá lóc đen (Channa striatus) ở Việt Nam nên những lược khảo về tính ăn cũng
như nhu cầu dinh dưỡng được xem là những kiến thức cơ sở cho việc nghiên cứu
nuôi thương phẩm cá lóc bông [7]. Cá lóc bông là một loài cá dữ điển hình, tính
thích thức ăn có nguồn gốc từ động vật, vì vậy nhu cầu đạm cao cho quá trình nuôi
thương phẩm là yêu cầu quyết định [12]. Cá lóc bông giai đoạn giống tăng trưởng
tốt nhất phải có hàm lượng đạm 40% trở lên [7]. Nghiên cứu đặc điểm sinh học cho
thấy cá lóc bông ăn thức ăn là cá, ếch nhái trực tiếp nên cần phối trộn thêm các chất
vitamin C và E để tăng cường sức đề kháng [5].
1.4. Sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc bông
1.4.1. Hiện trạng sản xuất giống cá lóc bông ở Việt Nam
Trước đây nguồn giống cá lóc bông thường vớt ngoài tự nhiên và các hộ nuôi

thức ăn thay thế thức ăn truyền thống của đối tượng này đang được nhiều người
quan tâm để từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất.
1.4.2. Tình hình nuôi cá lóc trên thế giới và Việt Nam
Cá lóc bông có thể nuôi ở nước ngọt và có khả năng sống ở nước lợ mặn có
nồng độ muối thấp và chúng được phân bố rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực
Đông Nam và Nam Châu Á [5], [32].
Hiện nay, trên thế giới nghề nuôi cá lóc phát triển ở một số nước như: Ấn
Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia, Việt Nam … Ở 13
Việt Nam và Campuchia là 2 nước có nghề nuôi cá lóc trong bè phát triển. Năng
suất nuôi bè ở trong ao, tối ưu là 160 kg/m
3
và tối đa đạt ≥ 600 kg/m
3
ở hồ chứa
nghèo dưỡng chất [5].
Cá lóc bông là loài tương đối dễ nuôi, có thể nuôi trên nhiều thủy vực khác
nhau và có thể tận dụng được nguồn phụ phẩm trong khai thác, chế biến thủy sản
cũng như trong nông nghiệp với một tỷ lệ phối trộn thích hợp [7], [33].
1.4.3. Thức ăn cho cá lóc ở Việt Nam
Thức ăn nuôi cá lóc hiện nay, các hộ sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp [4],
ngoài ra người nuôi còn sử dụng thêm các loại thức ăn tươi sống khác như ốc, cua
đồng và các phụ phẩm từ nông nghiệp do giá cá tạp tăng cao và ngày càng khan
hiếm, nên một số ít hộ chuyển sang cho ăn xen kẽ thức ăn tự chế biến, thức ăn viên
hỗn hợp trong quá trình nuôi.
Đứng trước tình hình nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển mạnh về diện
tích cũng như mức độ thâm canh của một số đối tượng nuôi khác thì việc nuôi cá Lóc
với nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, ảnh hưởng đến sự suy giảm nguồn lợi thủy sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status