BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN VĂN PHÚC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU
VÀ SỐ LẦN CHO ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA
CÁ BỐNG TƯỢNG (Oxyeleotris marmorata, Bleeker 1852)
GIAI ĐOẠN CÁ BỘT VÀ CÁ HƯƠNG TẠI BÌNH ĐỊNH.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, 01/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả, số
liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố.
TRẦN VĂN PHÚC
iii
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá bống tượng 4
1.1.1 Phân loại 4
1.1.2 Phân bố 4
1.1.3 Môi trường sống 5
1.2 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng của cá bống tượng 5
1.2.1 Sinh trưởng 5
1.2.2 Dinh dưỡng 9
1.2.2.1 Tính ăn 9
1.2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng 11
1.2.3 Lượng thức ăn và tần suất cho ăn 17
1.3 Đặc điểm sinh sản của cá bống tượng 18
1.3.1 Tuổi và kích thước thành thục 18
1.3.2 Mùa vụ và tập tính sinh sản 18
1.3.3 Sinh thái sinh sản 19
1.3.4 Sức sinh sản 19
acid béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá Bống tượng giai đoạn cá bột 37
3.1.3.1 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai
đoạn cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 37
3.1.3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai
đoạn cá bột ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 40
3.2 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid
béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống
của cá Bống tượng giai đoạn cá hương 41
3.2.1 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm 41
3.2.2 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn ương nuôi cá Bống
tượng giai đoạn cá hương 45
3.2.3 Ảnh hưởng của các các loại thức ăn với hàm lượng protein, acid
v
béo khác nhau và số lần cho ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá Bống tượng giai đoạn cá hương 48
3.2.3.1 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai
đoạn cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 48
3.2.3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai
đoạn cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 52
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
KẾT LUẬN 55
ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
bột ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 40
Bảng 3.6 Biến động của một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí
nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương 42
Bảng 3.7 Thành phần sinh hoá của thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá Bống
tượng giai đoạn cá hương tính theo khối lượng khô 45
Bảng 3.8 Thành phần và hàm lượng acid béo (% trong tổng acid béo) của mẫu
thức ăn thí nghiệm ương nuôi cá Bống tượng giai đoạn cá hương 46
Bảng 3.9 Sinh trưởng của cá Bống tượng giai đoạn cá hương ở các nghiệm
thức khác nhau về loại thức ăn 48
Bảng 3.10 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Bống tượng giai đoạn cá
hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 52
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Tên hình Trang
Hình 1.1 Cá Bống tượng Oxyeleotris marmorata 4
Hình 3.14 Thức ăn trùn chỉ (TC) và trùn quế (TQ) sử dụng ương
nuôi cá hương 47
Hình 3.15 Thức ăn cá tạp (CT) và công nghiệp CP(CN) sử dụng ương
nuôi cá hương 47
viii
Hình 3.16 Chiều dài cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 49
Hình 3.17 Khối lượng cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 50
Hình 3.18 Tỷ lệ sống của cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về loại thức ăn 51
Hình 3.19 Chiều dài cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 53
Hình 3.20 Khối lượng cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 53
Hình 3.21 Tỷ lệ sống cá hương ở các nghiệm thức khác nhau về số lần cho ăn 54
MỞ ĐẦU
Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker) thuộc họ Eleotridae được
xem là loài cá có giá trị kinh tế ở một số quốc gia Châu Á. Cá Bống tượng thường
được nuôi trong bè trên sông hay hồ chứa, được nuôi trong ao hay eo ngách ở một số
nước như Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia (Suwansart, 1979, được trích
dẫn bởi Cheah, 1994; Jee, 1980; Menasveta, 1999; Lương et al, 2005). Ở Việt Nam, cá
Bống tượng phân bố tự nhiên ở sông, kênh rạch, ao hồ có nước lưu thông thuộc đồng
bằng sông Cửu Long, là đối tượng nuôi thuỷ đặc sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao,
cá thương phẩm lớn hơn 400g /con có giá khoảng 150.000 – 250.000 đồng/ kg.
Trên thế giới, năm 1973 K.K Tan và T J Lam lần đầu tiên cho đẻ nhân tạo cá
Bống tượng thành công bằng cách tiêm kích dục tố HCG với phương pháp thụ tinh
ướt, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%), nhưng tất cả cá bột đã chết sau vài ngày.
Vào những năm cuối của thập niên 70 (thế kỷ XX) các nước Đông nam Á đã bắt đầu
nuôi và cho đẻ nhân tạo thành công như Indonesia (1978), Singapore (1980) và
Thailand (1980).
Ở Việt Nam từ năm 1985, các trường Đại học, cơ quan Nghiên cứu đã bắt đầu
nghiên cứu đối tượng này. Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu về hình thái giải phẩu, đặc
điểm sinh lý cá con, đặc điểm tiền phôi và bệnh trên cá Bống tượng. Đại học Nông
lâm Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân
tạo. Viện Nghiên Cứu Nuôi trồng Thủy sản II nghiên cứu đặc điểm phân loại, sinh
học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, ương cá bột lên cá hương và cá giống. Năm 1993 Trại
thực nghiệm giống thủy sản Đồng Tháp đã cho sinh sản và ương nuôi cá bống tượng
đến sau một tháng tuổi đạt tỷ lệ sống 25%.
Với hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây nhân dân đang phát triển nuôi
loài cá này trong ao, đìa và trong lồng. Trước tiên là ngư dân khu vực hồ Trị An, sau
đó mở rộng ra các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như : Đồng Tháp, Cần Thơ, An
Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long và nay đang phát triển tại một số tỉnh miền Trung.
Nhiều diện tích ao, hồ và hàng ngàn lồng cá Bống tượng đã được nuôi trên sông, trên
hồ chứa đem lại hiệu quả kinh tế cao và tạo ra hàng hoá xuất khẩu và việc làm cho
người lao động.
3
- Đưa ra các loại thức ăn và số lần cho ăn phù hợp trong ương nuôi cá Bống
tượng giai đoạn cá bột và cá hương.
- Góp phần nâng cao chất lượng con giống, phục vụ nghề nuôi cá thương phẩm. 4
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá bống tượng.
1.1.1 Phân loại
Ở Việt Nam, cá phân bố tự nhiên ở các lưu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long
và sông Đồng Nai. Bống tượng thương phẩm được xuất khẩu với giá cao nhất trong
các loài cá nuôi nước ngọt [7], do vậy trong những năm gần đây cá Bống tượng được
nhiều tỉnh miền Trung, miền Bắc đã di giống về nuôi.
1.1.3. Môi trường sống
Cá Bống tượng được xem là loài cá có kích thước lớn, chậm chạp và sống dưới
đáy những sông suối yên tĩnh hay kênh đào, ao hồ [7]. Cá sống ở nước ngọt và cũng có
thể sống ở nước lợ đến 15‰ nếu được thuần hoá một cách từ từ. Khi lượng oxy hoà
tan trong nước thấp, cá có hiện tượng phùng mang nổi đầu trên mặt nước [7]. Khi gặp
nguy hiểm cá có thể vùi sâu trong bùn 1 m và sống được nhiều giờ. Đặc biệt cá có thể
sống nhiều ngày không ăn, không hoạt động trong điều kiện bị giữ trong lu hoặc xô có
nước không ngập hết thân cá [7]. Cá có tập tính sống đáy, ban ngày ít hoạt động,
thường vùi mình dưới bùn, ban đêm hoạt động bắt mồi tích cực. Cá ưa ẩn náu nơi cây
cỏ rậm ven bờ và rình mồi [7].
Ở Thái Lan, nơi cá giống bống tượng tìm thấy nhiều ở môi trường sống với
hàm lượng oxy hòa tan 6,0-7,0ppm, pH 6,5-7,2 và nhiệt độ 24-30°C, tương tự như kết
quả nghiên cứu của Manop (1984) [21]. Cá bống tượng nhờ có cơ quan hô hấp phụ, cá
có thể chịu được trong điều kiện oxy thấp và ngay cả chui rúc trong bùn trong nhiều
giờ. Cá có thể sống trong khoảng nhiệt độ 15,0 – 41,5
o
C. Nhiệt độ thích hợp nhất là từ
26 - 32
o
C [7].
1.2 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng của cá bống tượng.
1.2.1 Sinh trưởng
Bống tượng là loài cá sinh trưởng chậm, đặc biệt là giai đoạn cá nhỏ hơn 100g.
Theo Phạm Văn Khánh (2003), so với nhiều loài cá khác, Bống tượng có độ tăng
trưởng chậm. Từ cá bột đến cá hương (1,5-2 cm) trải qua 1 tháng, đến cá giống (8-10
hoàng còn 6,16 % thể tích ban đầu, ống tiêu hoá phát triển tương đối hoàn chỉnh, chiều
cao miệng lúc này là 549,69±47,94 µm [21]. Ở nhiệt độ nước như trên nếu không được
cho ăn cá bột Bống tượng sẽ bắt đầu chết vào thời điểm 84 giờ sau khi nở và sẽ chết
hoàn toàn sau 130 giờ.
7
Thời gian sau khi nở (giờ)
Hình 1.2. Sự tăng chiều dài cá bột Bống tượng sau khi nở (Theo Amornsakun và
cộng sự, 2002.) Thời gian sau khi nở (giờ)
Hình 1.3: Tăng chiều dài thân và giảm dần khối noãn hoàng cá bột Bống tượng sau
khi nở, (Theo Amornsakun và cộng sự, 2002.) 8
Việc ương nuôi cá Bống tượng từ cá bột mới nở đến cá 30 ngày tuổi là công
đoạn khó khăn nhất của việc sản xuất giống đại trà hiện nay. Cá bột ương sau 30
Thời gian sau khi nở (giờ)
Hình 1.4: Tăng chiều dài thân và tăng khẩu độ miệng cá bột Bống tượng sau khi nở
(Theo Amornsakun, T. và cộng sự, 2002) Thời gian sau khi nở (giờ)
Lam (1973) cho rằng trong tập hợp cá bột mới nở, số nở sớm là phát triển kém hơn
số nở muộn nên dẫn đến tỷ lệ sống thấp. Tuy nhiên theo Tavarutmaneegul và Lin
(1988), có hai nguyên nhân: thứ nhất là vì cá Bống tượng bột có cơ thể quá bé (dài
4 mm), lại yếu, tập tính bơi giật từng hồi, lắng đáy mà chúng lại thụ động trong tìm
mồi nên rất khó kiếm được mồi ăn; thứ hai là vì khẩu độ miệng rất nhỏ chỉ xấp xỉ
0,1 mm rất hạn chế có mồi thích hợp bởi vì hầu hết bọn động vật phù du phổ biến
đều có kích thước lớn hơn.
Theo Cheah và cộng sự (1994) kết quả ương nuôi thử nghiệm tại Singapore
từ cá bột trong ao đất sau 67 ngày thu cá giống có khối lượng trung bình 0,57g/con.
Cũng theo thí nghiệm của Tawee và Amnaj (1986) tiến hành ương nuôi cá ở kích
cỡ 0,04 -0,39 g trong ao với mật độ 13con/m
2
sử dụng thức ăn phối trộn giữa cá tạp,
cám gạo, khoáng chất và vitamin tỷ lệ cho ăn hàng ngày bằng 10% khối lượng cơ
thể, sau 30 ngày cá đạt kích cỡ trung bình 2,4g/con và tỷ lệ sống 40%.
1.2.2. Dinh dưỡng
Có rất ít tài liệu đề cập sâu về dinh dưỡng cá Bống tượng nói chung và nhu
cầu dinh dưỡng của cá bống tượng nói riêng. Dinh dưỡng của cá giống Bống tượng
là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của ương cá Bống
tượng đạt đến kích cỡ thả nuôi trong ao hay bè [2].
1.2.2.1 Tính ăn
Qua những tài liệu có được cho chúng ta thấy cá Bống tượng có tập tính ăn
động vật là chủ yếu. Từ ngày thứ 4 sau khi nở cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn
động vật phù du kích thước nhỏ, chủ yếu là luân trùng, hoặc các hạt mịn như bột
10
trứng, bột đậu nành. Đến ngày thứ 10, chúng ăn được giáp xác thấp như Moina,
Cyclop, ấu trùng Artemia[7]
Ở nhiệt độ nước 25-29ºC, cá bột 3-18 ngày tuổi ăn luân trùng thường phải
mất 130-180 phút để tiêu hoá hết hoàn toàn, trong khi đó cá 21-27 ngày tuổi được
1.2.2.2. Nhu cầu dinh dưỡng
Các nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá Bống tượng là rất ít. Nhu cầu dinh
dưỡng của động vật nói chung luôn thay đổi theo các giai đoạn phát triển trong
vòng đời của chúng. Các thay đổi quan trọng về hình thái và sinh lý của động vật
thủy sinh từ lúc mới nở đến khi trưởng thành được thể hiện qua các nhu cầu về dinh
dưỡng và tính ăn ở giai đoạn ấu trùng, con giống và trưởng thành. Sự thay đổi đó
diễn ra ở các cơ quan tiêu hoá và trong tiến trình tiêu hoá (Silva &Anderson, 1995).
Nhu cầu Protein và các acid amin
Protein và acid amin là một trong những chất dinh dưỡng thiết yếu, có vai
trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp protein và quá trình sinh trưởng của cơ
thể động vật nói chung và cá Bống tượng nói riêng. Những kết quả nghiên cứu về
nhu cầu protein và về nhu cầu một số acid amin cần thiết đối với cá Bống tượng
vẫn rất hạn chế.
Nhu cầu protein
Protein là thành phần chất hữu cơ chính của cơ thể động vật thuỷ sản, chiếm
khoảng 60-75% trọng lượng khô của cơ thể (Halver, 1988). Nên protein có vai trò
quan trọng hàng đầu trong thành phần thức ăn của tôm cá, nó ảnh hưởng tới tốc độ
lớn, nếu thiếu có thể gây ra một số triệu chứng như: nhiễm trùng đường ruột, đường
hô hấp và dễ bị bệnh [11].
Nhu cầu protein của các loài cá thay đổi khá lớn, trong khoảng 25-55%.
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein, sự khác biệt protein còn do: giống
loài và phản ánh tập trung dinh dưỡng của từng loài. Tổng quát, những loài cá ăn
tạp hay ăn thực vật có nhu cầu protein (trong khoảng 25-30%), thấp hơn nhu cầu
protein của các loài cá ăn động vật (nhu cầu khoảng 40-52%).
Bên cạnh chức năng là vật chất xây dựng, protein còn có vai trò là nguồn
năng lượng cần thiết cho cơ thể khi thức ăn không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng,
vì vậy nhu cầu protein phụ thuộc vào năng lượng có trong thức ăn.
12
Trong 3 nhóm chất sinh năng lượng là lipid, protein và carbohydrate thì
60% methionine. Tyrosine có khả năng thay thế cho 30% nhu cầu của
phenylalanine (2 acid amin này cùng có gốc phenyl). Tôm cá không thể dự trữ acid
amin tự do. Nếu như có một acid amin nào đó chưa được dùng ngay để tổng hợp
protein thì sẽ được chuyển thành acid amin khác hoặc cung cấp năng lượng.
Trường hợp này (chuyển acid amin này thành acid amin khác hoặc cung cấp năng
lượng), nếu xảy ra ở acid amin thiết yếu thành acid amin không thiết yếu hoặc cung
cấp năng lượng thì rất lãng phí [5].
Do đó, sự mất cân đối acid amin sẽ dẫn đến lãng phí acid amin. Thiếu cũng
như thừa bất kỳ acid amin nào cũng đều làm giảm hiệu quả sử dụng protein.
Nhu cầu acid amin thiết yếu thường được tính theo % protein. Nhu cầu
arginine của cá hồi là 3,5% của mức protein thức ăn. Khi hàm lượng protein thức
ăn 40% thì nhu cầu arginine là 1,4% tính theo vật chất khô. Như vậy, nhu cầu các
acid amin thiết yếu thay đổi theo hàm lượng protein thức ăn [5]
Nhu cầu acid amin thiết yếu, tính theo % mức protein, không khác nhau
nhiều giữa các giống loài. Ví dụ: arginine thay đổi trong khoảng 3,5-4,5% hay
lysine thay đổi trong khoảng 5,12-5,3%. Riêng nhu cầu methionine và
phenylalanine có khác nhau giữa các loài cá [5].
Nhu cầu lipid và các acid béo cần thiết
Lipid tổng số
Lipid là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và cung cấp acid béo cần thiết
cho cá bống tượng. Lipid là một nguồn dự trữ năng lượng trong tất cả các loài cá,
đặc biệt là loài cá ăn động vật, cá hạn chế sử dụng carbohydrate (Pei et al.2004).
Lipid trong thức ăn cũng đóng vai trò như là chất vận chuyển vitamin tan trong dầu
và sterols.
Lipid hỗ trợ việc hấp thu vitamin tan trong chất béo (SRAC,1998). Lipid
được sử dụng để cung cấp năng lượng thay cho protein (Watanable,1982;
Tacon,1997). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu, cần thiết cho sự tăng
trưởng và phát triển, bao gồm cả việc phát triển sinh sản [21].
14
7
CH=CH(CH
2
)
7
COOH
Acid linoleic ( 6): 18:2n-6
CH
3
(CH
2
)
4
(CH=CHCH
2
)
2
(CH
2
)
6
COOH
Acid linolenic ( 3): 18:3n-3