nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khách nhau và mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá lăng nha (hemibagrus wyckioides fang & chaux, 1949) giai đoạn từ 15 ngày tuổi, ương trong giai đặt trong ao đất tại khánh hò - Pdf 25



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU
VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA
CÁ LĂNG NHA (Hemibagrus wyckioides Fang & Chaux, 1949) GIAI
ĐOẠN TỪ 15 NGÀY TUỔI ĐẾN 75 NGÀY TUỔI, ƯƠNG TRONG GIAI
ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI KHÁNH HÒA.

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG - 2011
i

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính tác giả đã
trực tiếp thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được sử dụng công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
khác.
Mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đã được tác giả cảm ơn và các thông tin trích
trong luận văn đều được tác giả trích rõ nguồn gốc.
Tác giả
NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: TỔNG LUẬN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá lăng nha 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm sinh thái 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 3
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 4
1.1.6 Tập tính sống 5
1.2 Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trên thế giới 5
1.2.1 Nghiên cứu về di truyền 5
1.2.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lăng nha 6
1.2.3 Nghiên cứu nuôi thương phẩm 8
1.3.Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trong nước 9
1.3.1 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo 9

4.1Kết luận 58
4.2 Đề xuất ý kiến 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO a
PHỤ LỤC d
v

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CRD: Completely Random Design - Thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn
CTV: Cộng tác viên
CV(l): Coefficient of Variation (length) - Hệ số phân đàn theo chiều dài
CV(w): Coefficient of Variation (weight) - Hệ số phân đàn theo khối lượng
DLG: Daily Length Gain - Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ ngày về chiều dài
DWG: Daily Weight Gain - Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình/ ngày về khối lượng
FCR:
Feed Conversion Ratio
- Hệ số chuyển hóa thức ăn

Lt-gain:
Length Gain
- Tỷ lệ gia tăng về chiều dài
NT: Nghiệm thức
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
NTĐC: Nghiệm thức đối chứng
SGRl:
Specific Growth Rate of Length
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài
SGRw:
Specific Growth Rate of Weight
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng

Bảng 3.14Tỷ lệ UFA và SFA có trong Lipid của thức ăn thí nghiệm 41
Bảng 3.15 Kết quả phân tích thành phần acid béo thiết yếu trong thức ăn thí nghiệm 42
Bảng 3.16 Tỷ lệ acid béo thiết yếu trong Lipid của thức ăn thí nghiệm 42
Bảng 3.17 Khẩu phần Omega 3 và Omega 6 cung cấp cho cá lăng nha thí nghiệm 42
Bảng 3. 18 Tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 1 43
Bảng 3.19 Chiều dài và khối lượng ban đầu của cá lăng nha trong thí nghiệm 2 45
Bảng 3.20 Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cá lăng nha ở thí nghiệm 2 46
Bảng 3.21 Khối lượng cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 48
Bảng 3.22 Tăng trưởng về khối lượng cá lăng nha ở thí nghiệm 2 49
Bảng 3.23 Chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 50
Bảng 3.24 Tăng trưởng chiều dài cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 51
Bảng 3.25 Sự phân đàn của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 52
Bảng 3.26 Tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian ở thí nghiệm 2 53
Bảng 3.27 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 1 55
Bảng 3.28

Hạch toán chi phí thức ăn 56
Bảng 3.29 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lăng nha ở thí nghiệm 2 56

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Cá lăng nha 4
Hình 1.2: Phân biệt cá lăng nha đực và cái 4
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 19
Hình 2.2: Hệ thống giai thí nghiệm 19
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 20
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 21
Hình 2.5: Cá tạp 22

Hình 3.17: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ gia tăng về khối lượng và chiều
dài cá lăng nha 47
Hình 3.18: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên khối lượng cá lăng nha theo thời gian 48
Hình 3.19: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng về khối lượng cá
lăng nha theo thời gian 49
Hình 3.20: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên chiều dài cá lăng nha theo thời gian 50
Hình 3.21: Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng chiều dài cá lăng nha
theo thời gian 51
Hình 3. 22 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số phân đàn theo chiều dài cá
lăng nha theo thời gian 52
Hình 3.23 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số phân đàn theo khối lượng cá
lăng nha theo thời gian 53
Hình 3.24 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên tỷ lệ sống của cá lăng nha theo thời gian 54
Hình 3.25 Đồ thị ảnh hưởng của các loại thức ăn lên hệ số chuyển hóa thức ăn
của cá lăng nha 55
Hình 3.26 Đồ thị ảnh hưởng của mật độ lên hệ số chuyển đổi thức ăn cá lăng nha 57
1

MỞ ĐẦU

Cá lăng nha

là loài cá da trơn thuộc họ Bagridae. Cá sống trong các thủy vực
nước ngọt và lợ nhẹ thuộc khu hệ cá nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở vùng lưu vực sông
Mê Kông. Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Bộ và đồng
bằng sông Cửu Long. Cá lăng nha có giá trị dinh dưỡng và giá trị thương phẩm cao.
Thịt cá trắng, nhiều nạc, dai, giòn và có hương vị đặc trưng. Hiện nay sản lượng cá


Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (cá tạp, thức ăn công
nghiệp, trùn quế) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn
ương từ 15 ngày tuổi đến 75 ngày tuổi.
-

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi (mật độ 200 con/m
2
, 250 con/m
2
, 300
con/m
2
) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lăng nha giai đoạn ương từ 15
ngày tuổi đến 75 ngày tuổi.
3

PHẦN 1: TỔNG LUẬN

1.1 Đặc điểm sinh học của cá lăng nha

1.1.1 Hệ thống phân loại

Cá lăng nha (
Hemibagrus wyckioides
Chaux & Fang, 1949) là loài cá nước ngọt
và có hệ thống phân loại như sau:
Ngành:
Chordata Bateson
, 1885-chordates

1.1.2 Đặc điểm sinh thái
Cá lăng nha
(Hemibagrus wyckioides

Fang & Chaux, 1949) là loài cá nhiệt đới
phân bố ở châu Á, đặc biệt là các nước thuộc lưu vực sông Mê Kông như miền Nam
Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan [36]. Ở Việt Nam chúng phân bố
rộng rãi trong các thủy vực nước ngọt, lợ nhẹ ở miền Nam. Các nghiên cứu về khu hệ
cá sông ngòi ở Tây Nguyên cũng đã xác định sự có mặt của loài cá này. Cá thường
sống ở những con sông lớn, ở các độ sâu khác nhau, nơi có đáy đá [31]. Chúng di cư
đến vùng ngập lụt suốt mùa nước lớn từ tháng 7 đến tháng 10[29].
Một số yếu tố môi trường nước thích hợp cho cá sinh sống là: pH từ 6 ÷ 8,2 và
tốt nhất là 6 ÷ 7,6. Nhiệt độ từ 19 ÷ 29
0
C và độ cứng từ 5 ÷ 25
0
H [37]. Hàm lượng
Oxy hòa tan từ 3 mg/l trở lên. Độ trong từ 20 ÷ 40 cm [1].
1.1.3 Đặc điểm hình thái

Đầu có dạng hình nón, hơi dẹp đứng, đỉnh đầu nhám [14]. Miệng cá hơi rộng.
Mắt trung bình và nằm gần đỉnh đầu. Thân cá thuôn dài, có màu xám hoặc nâu sáng,
ánh xanh lục nhạt. Phần bụng có màu trắng [38]. Đuôi cá dẹp ngang. Màng mang tách
4

khỏi eo mang và phần lớn tách rời nhau. Răng lá mía nằm trên một dãy cong. Xương
chẩm không kéo dài đến gốc trước xương vây lưng [31]. Cá lăng nha có 4 đôi râu, đôi
râu hàm trên dài đến gốc vây hậu môn, đôi râu
hàm dưới dài đến vây ngực, đôi râu mũi ngắn
chưa đến mắt, đôi râu cằm ngắn hơn râu hàm

Hình 1.
1
:

Cá lăng nha

5

bụng ở mức độ khác nhau theo từng cá thể. Cá cái có mức độ hút nước thấp trong
khi rụng trứng sẽ cho tỉ lệ thụ tinh cao và ngược lại, cá có mức độ hút nước cao trong
khi rụng trứng sẽ cho tỉ lệ thụ tinh thấp [5].
1.1.6 Tập tính sống

Cá lăng nha sống thành từng đàn hoạt động ở tầng đáy, thích trú ẩn trong các bụi
cây, hốc đá, thích yên tĩnh. Cá bắt mồi về ban đêm. Cá thích sống nơi nước chảy nhẹ,
tuy nhiên vẫn sống tốt trong nước tĩnh [1]. Chúng di cư tới vùng nước lớn từ tháng 7
đến tháng 10 [38].
1.2

Tình hình nghiên cứu cá lăng nha trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về di truyền
Nguồn gen tốt là yếu tố quan trọng liên quan đến kết quả nuôi trồng. So với cá
lăng vàng (
Hemibagrus nemurus)
các nghiên cứu về đặc điểm di truyền của cá lăng
nha còn rất ít. Thawat Donsakul đã nghiên cứu nhiễm sắc thể ở 4 loài cá lăng:
Hemibagrus nemurus, H. wyckii, H. wyckioide
s và
H. singaringan
ở Thái Lan. Kết quả

quan di truyền liên quan đến giá trị kinh tế của cá lăng nha khi nuôi trong 24 ao bê
tông 20 m
2
. Thí nghiệm được tiến hành tại Viện Di Truyền Thủy Sản Quốc Gia Thái
Lan từ tháng 6/1999 - 7/2000. 12 gia đình cùng huyết và 6 gia đình bán đồng huyết
được chọn để đánh giá các thông số di truyền. Hệ số di truyền trung bình về chiều dài
và khối lượng cá ở 30, 90, 180, 270, 330 và 360 ngày tuổi là thấp đến vừa phải dao
động từ 0,01 ± 0.00 đến 0,580 ± 0.22. Hệ số di truyền trung bình về tỷ lệ tăng trưởng
tại 30, 90, 180 và 270 ngày tuổi là dao động từ 0,07 ± 0,19 đến 0,59 ± 0,32. Các đặc
điểm khác như tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống, % thịt và tỷ lệ hoán chuyển thức ăn
có hệ số di truyền dao động từ 0,06 ± 0,10 đến 0,34 ± 025. Mối tương quan di truyền
có thể di truyền trung bình dao động từ 0,36 đến 1,04 là được tìm thấy ở những đặc
điểm: Chiều dài và khối lượng, tỷ lệ tăng trưởng của cá ở 90 và 270 ngày tuổi; chiều
dài hoặc khối lượng, % thịt và tỷ lệ sống của cá 30 ngày tuổi. Mối tương quan di
truyền không có khả năng di truyền có giá trị trung bình từ -0,03 đến -0,69 được tìm
thấy ở tỷ lệ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn. Hiệu suất di truyền từ thấp đến
trung bình của một số đặc điểm liên quan đến giá trị kinh tế của cá lăng nha cho thấy
có thể ứng dụng các kỹ thuật chọn lọc để cải thiện tính di truyền của các đặc điểm này.
Mối tương quan di truyền có khả năng di truyền ở một vài đặc điểm cho thấy việc lựa
chọn một đặc điểm sẽ mang lại kết quả cho chính đặc điểm đó. Ví dụ: nếu chọn lọc
được áp dụng cho tỷ lệ tăng trưởng tại thời điểm cá 90 ngày tuổi thì có thể tìm thấy
mối tương quan di truyền về tỷ lệ tăng trưởng ở cá 270 ngày tuổi [34].
1.2.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lăng nha
Philippe Cacot (2007) đã tiến hành nghiên cứu cho sinh sản và ương nuôi cá lăng
nha. 28 con cá lăng nha cái có nguồn gốc từ sông Mê Kông được lựa chọn, đưa vào
nuôi trong ao 10 tháng trước khi tiến hành cho sinh sản nhân tạo. Kết quả kích thích
sinh sản sử dụng kích dục tố GnRHa với liều tiêm 100 µg/kg cho 16 con cái có tỷ lệ
rụng trứng là 100%. Quá trình rụng trứng xảy ra sau khi tiêm 17 giờ. Sức sinh sản
trung bình đạt 14.700 trứng/kg cá cái. Khối lượng cá cái trung bình là 4,1 kg/con. Tinh
dịch được nặn trực tiếp từ túi tinh. Túi tinh được cắt từ con đực. Tỷ lệ nở là 61%. Từ

91,0%; (D2) 90,0%; (D3) 90,0%; (D4) 85,0% và (D5) 76,6%. Tỷ lệ sống trung bình
của cá bột ở thí nghiệm D4 và D5 thấp hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,01) so với các thí
nghiệm D0, D1, D2 và D3. Tỷ lệ sống trung bình là không khác nhau có ý nghĩa
(P<0,01) ở các lô D0, D1, D2 và D3. Chiều dài trung bình của cá bột ở các lô D0, D1,
D2, D3, D4 và D5 lần lượt là 3,25; 3,05; 3,03; 2,85; 2,85 và 2,63 cm. Chiều dài trung
bình của cá bột ở lô D0 là lớn hơn có ý nghĩa (P<0.01) so với cá bột ở các lô D1, D2,
D3, D4 và D5. Kết quả của thí nghiệm này cho thấy việc cho cá lăng nha bột ăn Moina
trong 3 ngày đầu sau khi nở là đảm bảo cho tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cá [22].
Sithong Lesongpao và Somphan Philavong thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Phát
Triển Cá Nội Đồng và Nuôi Các Loài Cá Bản Địa Sông Mê Kông tại Somboon đã
nghiên cứu thử nghiệm ương cá lăng nha trong lồng với 3 loại thức ăn khác nhau. Nuôi
cá lăng nha trong lồng nhằm tăng tỷ lệ sống và giảm chi phí đầu vào thông qua việc sử
dụng các thức ăn sẵn có như nuôi giun đất và sử dụng ốc làm thức ăn. Sử dụng 9 lồng
ương có thể tích là (2x3x2 m) đặt trong ao đất với 3 công thức thức ăn là: T
1
100%
8

thức ăn viên, T
2
50% thức ăn viên và 50% giun đất, T
3
50% thức ăn viên và 50% ốc.
Để kích thích sự thèm ăn của cá, che 30 % bề mặt lồng. Mật độ nuôi 300 con/lồng, cá
1 tháng tuổi, cỡ 1gr. Sau 4 tháng nuôi cá có hình dạng giống cá trưởng thành, đuôi và
vây có màu đỏ. FCR của T
1
=3,46, T
2
=3,18, T

quả tốt hơn về chỉ tiêu tăng trưởng của cá [39].
1.2.3 Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Wisanuporn Ratanatrivong & CTV đã tiến hành nghiên cứu nuôi cá lăng nha
trong bể bê tông nước chảy tại Trung Tâm Phát Triển Nghề Cá Nội Đồng Phitsanulok
từ tháng 6 ÷ 12/1996. Mục đích của thí nghiệm này là nghiên cứu sinh trưởng, tỷ lệ
sống, sản lượng và giá thành sản xuất khi nuôi cá lăng nha. Thí nghiệm được tiến hành
trong bể bê tông 70 m
2
có nước chảy liên tục với thức ăn sử dụng là thức ăn viên 35%
protein trong 6 tháng. Mật độ thí nghiệm là 10, 20 và 40 con/m
3
với 2 lần lặp lại.
Chiều dài và khối lượng trung bình ban đầu là 6,41 ± 1,0 cm và 2,41 ± 0,26 g. Tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng của cá lăng nha ở các lô thí nghiệm là khác nhau có ý
nghĩa (p>0,05). Mật độ nuôi cho tăng trưởng nhanh nhất là 10 con/m
3
. Kết quả thu
hoạch: Cá đạt chiều dài 25,09 ± 1,59, 23,06 ± 1,75 và 20,44 ± 1,66 cm; khối lượng
117,87 ± 21,76, 82,57 ± 16,15 và 52,49 ± 10,63 g; % tăng trọng là 4.790,9 ± 357,37,
3.325,9 ± 17,31 và 2.078,0 ± 462,41%; tăng trọng hàng ngày là 0,62 ± 0,047, 0,43 ±
0,002 và 0,27 ± 0,060 g/ngày; tỷ lệ tăng trưởng riêng là 2,10 ± 0,039, 1,91 ± 0,002 và
1,66 ± 0,117%/ngày; và tỷ lệ tăng trưởng riêng là 0,047 ± 0,0007, 0,044 ± 0,0002 và
0,039 ± 0,0022 cm/ngày tại các mật độ 10, 20 và 40 con/m
3
lần lượt. Tỷ lệ sống và hệ
số chuyển đổi thức ăn (FCR) của cá lăng nha ở các mật độ thử nghiệm 10, 20 và 40
con/m
3
là khác nhau có ý nghĩa (p>0,05), tỷ lệ sống trung bình là 96,2 ± 0,38, 93,7 ±
1,26 và 90,0 ± 7,45%, và FCR là 3,6 ± 0,32, 4,05 ± 0,230 và 4,6 ± 0,74, lần lượt. Sản

Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công 4 loài cá lăng
gồm có cá lăng vàng (
Hemibagrus nemurus
Valenciennes, 1839), cá lăng hầm
(
Hemibagrus filamentus
Chang và Faux, 1949), cá lăng nha (
Hemibagrus wyckioides

Chang và Faux, 1949) và cá lăng nghệ (
Hemibagrus sp.
) [17].
Đề tài: “Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá lăng nha” đã được khoa Thủy
Sản - trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tiến hành từ tháng 04/2002 đến
tháng 04/2005. Đàn cá lăng nha được mua từ hồ Trị An (Đồng Nai). Cá được thuần
dưỡng và nuôi vỗ trong ao đất với thức ăn là 50% cá tạp và 50% thức ăn công nghiệp
hiệu Greenfeed. Kích dục tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá lăng nha ở NT-I là
HCG và NT-II là LH-RHa. Mỗi nghiệm thức chia làm 3 lô theo liều lượng kích dục tố
và lặp lại nhiều lần vào các thời điểm khác nhau. Đối với cá cái sử dụng phương pháp
tiêm nhiều lần, thời gian tiêm cá đực cùng lúc với liều quyết định của cá cái. Áp dụng
10

phương pháp gieo tinh bán khô, trứng được khử dính bằng phương pháp Carbamide và
ấp trong bình weis. Kết quả nuôi vỗ cá lăng nha bố mẹ cho thấy, cùng một mật độ (0,5
kg/m
2
) và chế độ cho ăn, cá nuôi vỗ trong ao có diện tích 1.200 m
2
đạt tỷ lệ thành thục
90% và hệ số thành thục cao hơn nhiều so với cá nuôi trong ao 300 m

mới nở có kích thước 4 mm, cá lăng nha mới nở có kích thước rất lớn (7 mm) với bọc
noãn hoàng rất to. Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài từ 3 ngày tuổi. Vì kích cỡ lớn nên
thức ăn thích hợp ban đầu là Moina trong khi đó cá lăng vàng 2 ngày tuổi ăn Artemia
[6]. Kết quả, giai đoạn I, ở mật độ ương 4.000 con/m
3
cá đạt tỷ lệ sống 90,8% (kích
cỡ: 1,8 ± 0,3 cm và 0,1 ± 0,05 g/con) và ở mật độ 6.000 con/m
3
tỷ lệ sống đạt 88,6%
(kích cỡ: 1,7 ± 0,3 cm và 0,091 ± 0,06 g/con). Phân tích ANOVA thì chiều dài, khối
lượng và tỷ lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức khác nhau không có ý nghĩa (p<0,05). Ở
giai đoạn II, sau 8 lần ương cho thấy chiều dài và khối lượng bình quân của cá ương
trong giai đặt trong ao đất (4,2 ± 0,4 cm; 1,05 ± 0,12 g/con) là thấp hơn có ý nghĩa
11

thống kê (P<0,05) so với cá ương trực tiếp trong ao (5 ± 0,4 cm; 1,26 ± 0,1 g/con).
Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá ương trong giai (70 ± 10%) là cao hơn trong ao đất (60 ±
12%) nhưng cá dễ mắc bệnh hơn. Như vậy, kết quả ương nuôi cá lăng nha ở giai đoạn
I cho thấy ở cả hai nghiệm thức cá đều phát triển tốt và có sức sống cao. Tuy nhiên, để
nâng cao năng suất nên ương cá với mật độ 6.000 con/m
3
. Kết quả ương giai đoạn II
cho phép kết luận cá ương trong ao đất là khỏe và lớn nhanh hơn cá ương trong giai.
Việc ương cá trong giai có thể áp dụng nhằm tận dụng mặt nước song phải đảm bảo
chất lượng nước ao nuôi [5].
Năm 2006, Chi Cục Bảo Vệ Nông Lâm Thủy Sản Đồng Nai cũng đã thực hiện
thành công đề tài: “Nghiên cứu quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lăng
nha trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”. Theo kết quả của đề tài, cá lăng nha sinh sản theo
hình thức thụ tinh nhân tạo cho kết quả khá tốt, sức sinh sản thực tế từ 8.000 ÷ 21.050
trứng/kg cá cái. Cá ương trong giai có tốc độ tăng trưởng chậm hơn cá ương trong ao


thích hợp cho cá sự tăng trưởng và sự sống cá lăng nha, làm cơ sở cho việc ứng dụng
kết quả nghiên cứu vào nuôi thương phẩm loại cá này. Thí nghiệm được thực hiện
trong hệ thống tuần hoàn khép kín gồm 20 bể composite dung tích 200l/bể (kể cả 5 bể
nuôi dự trữ để bổ sung cá hao hụt trong thời gian đầu thí nghiệm). Thí nghiệm gồm 5
nghiệm thức thức ăn, lặp lại 3 lần. NTĐC: 100% cá tạp xay nhuyễn, NT I: 75% cá tạp
xay nhuyễn + 25% thức ăn viên, NT II: 50% cá tạp xay nhuyễn + 50% thức ăn viên,
NT III: 25% cá tạp xay nhuyễn + 75 % thức ăn viên, NT IV: 100 % thức ăn viên. Mỗi
bể thả 60 con cá giống cỡ 5,17 cm, khối lượng 1,9 g. Kết quả thu được khối lượng
trung bình của cá lăng nha ở các NT khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05).
Khối lượng trung bình của NT I (75% cá tạp xay nhuyễn + 25 thức ăn viên) là lớn nhất
(26,39 ± 0,42g), khác nhau có ý nghĩa thống kê so với các NT còn lại (P<0,05). Khối
lượng trung bình của cá NTĐC (100% cá tạp xay nhuyễn) và NT II (50% cá tạp xay
nhuyễn + 50% thức ăn viên) sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Tuy
nhiên, khối lượng trung bình của 2 nghiệm thức này lớn hơn một cách có ý nghĩa về
thống kê so với khối lượng trung bình của cá ở NT III (25% cá tạp xay nhuyễn + 75%
thức ăn viên) và NT IV (100% thức ăn viên). Trong tất cả các nghiệm thức thì khối
lượng trung bình của cá lăng nha ở NT IV đạt giá trị thấp nhất (12,03 ± 0,48g) so với
các nghiệm thức còn lại. Tăng trưởng về chiều dài của cá ở các nghiệm thức cũng
tương tự như tăng trưởng về khối lượng. Qua phân tích ANOVA, chiều dài trung bình
của cá sau khi kết thúc thí nghiệm cũng có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm
thức (P<0,05), trừ NTĐC và NT II khác nhau không có ý nghĩa về thống kê. Tỷ lệ
sống của cá lăng nha ở các nghiệm thức đều trên 90% và khác biệt không có ý nghĩa
về mặt thống kê [7].
Theo Trung Tâm Khuyến Ngư và Giống Thủy Sản An Giang, ở giai đoạn đầu (từ
dưới 6 tháng tuổi), cá lăng nha phát triển bình thường như các loài cá lăng khác, nhưng
sau đó (khi cá nặng khoảng 300g/con trở lên) cá tăng trọng rất nhanh. Thời gian nuôi
tương đối kéo dài (từ 1÷1,5 năm mới đạt hiệu quả cao). Trong điều kiện nuôi bằng
thức ăn viên kết hợp cá tạp, sau 10 tháng nuôi cá đạt khối lượng từ 1÷1,4 kg/con.
Trong quá trình nuôi cần chú ý cá có thể bị ngợp vào buổi sáng sớm (nuôi ao) và lúc

các tổ chức cơ quan của cơ thể động vật, hình thành nên các vật chất có hoạt tính sinh
học cao. Protein chiếm 70÷75% vật chất khô của cơ thể. Cơ thể không thể hấp thu
protein qua thành ruột mà trước hết protein được các enzyme protease phân cắt thành
các amino acid. Các amino acid là các đơn phân có thể hấp thu qua thành ống tiêu hóa,
đi vào máu và được máu vận chuyển đến các tổ chức mô và các cơ quan. Tại đây nó
được sử dụng vào hai mục đích chủ yếu là chức năng sinh trưởng (tổng hợp nên các cơ
quan mới) và chức năng duy trì (thay thế các cơ quan già cỗi). Mặt khác trong một số
trường hợp protein còn sử dụng vào mục đích năng lượng.
Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu trong thức ăn nhằm làm thỏa mãn nhu
cầu về amino acid để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa. Cá có một nhu cầu về hỗn
hợp khá cân bằng của các amino acid thiết yếu và không thiết yếu hơn là có một nhu
cầu về protein được hiểu theo cách thông thường [12].Vì vậy nhu cầu protein một số
đối tượng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như năng lượng thức ăn, thành phần amino acid
14

của thức ăn và khả năng tiêu hóa được của loại thức ăn protein đó. Các yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu protein như:
- Kích thước và tuổi cá: Ở giai đoạn ấu trùng và giống nhỏ thì nhu cầu protein
cao hơn so với giai đoạn giống lớn và trưởng thành. Nhu cầu protein ước tính của
cá giống của nhiều loài dao động từ 30 đến 56% của khẩu phần.
- Các yếu tố sinh thái: Nhiệt độ nước là yếu tố sinh thái quan trọng bậc nhất ảnh
hưởng đến nhu cầu protein. Khi nhiệt độ tăng lên thì nhu cầu protein trong thức
ăn cũng tăng lên. Ngoài ra còn có yếu tố độ mặn, pH, hàm lượng oxy hòa tan
trong nước.
- Mức năng lượng có trong thức ăn: Khi năng lượng trong thức ăn không đáp ứng
đủ thì một phần protein sẽ được sử dụng vào mục đích năng lượng.
- Chất lượng thức ăn và loại thức ăn: loại thức ăn tốt là phải có thành phần sinh
hóa acid amin tương đồng với đối tượng và cá có khả năng tiêu hóa tốt.
1.4.2 Nhu cầu amino acid



lượng ở mức cao hoặc là làm các thành phần của các màng tế bào. Có 5 lớp lipid
chính: các acid béo, các triglyceride (mỡ), các phospholipid, các steroid và các
sphingolipid.
Nhìn chung 10÷20% lipid trong các khẩu phần của cá cho các tốc độ sinh trưởng
tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo (Cowey và Sargent, 1979). Khả năng sử
dụng lipid như một nguồn năng lượng phổ biến thì có sự khác nhau giữa các loài.
Chẳng hạn như khi cá hồi cầu vồng được cho ăn các khẩu phần có các hàm lượng lipid
là 5÷20% và các hàm lượng protein là 16÷48%. Tỷ lệ protein tối ưu đối với lipid được
phát hiện là 35% protein và 18% lipid (Takeuchi và ctv, 1978a, b). Tuy nhiên cá chép
cho ăn các khẩu phần ăn có mức protein cố định 32%, có lipid thay đổi từ 5÷15% và
có sự giảm tương ứng hàm lượng carbohydrate đã không cho thấy sinh trưởng tăng lên
hoặc các hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn (Takeuchi và ctv, 1979).
Cá bỏ đói thường sử dụng nguồn dự trữ lipid như là một nguồn năng lượng hơn
là sử dụng protein và carbohydrate. Cũng có bằng chứng cho thấy sự huy động lipid ở
cá bị bỏ đói có tính chọn lọc, trong đó các acid béo ít bão hòa và ngắn hơn (C
18
và C
16
)
được huy động trước tiên (Sargent và ctv,1989).
1.4.4 Nhu cầu acid béo thiết yếu của cá

Acid béo thiết yếu là những acid béo rất cần thiết cho động vật thủy sản, nhưng
cơ thể động vật không tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn [3]. Động vật thủy sản có
khả năng sinh tổng hợp palmitic acid (C
16
:0) từ nguồn acetate (nguồn acetate chủ yếu
từ glucose). Acid palmitic là tiền chất của các acid béo no và acid béo không no [12].
Để tạo ra các acid béo no khác bằng cách chúng kéo dài hay thu ngắn chuỗi carbon


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status