NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU và mật độ NUÔI lên tốc độ SINH TRƯỞNG, tỷ lệ SỐNG của cá lóc BÔNG (channa micropeltes cuvier, 1831) NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI đặt TRONG AO đất tại BUÔN MA THUỘT, tỉ - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC
NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes Cuvier, 1831)
NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC
NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes Cuvier, 1831)
NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành
Mã số
:
:
Nuôi trồng thủy sản
60.62.70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LẠI VĂN HÙNG
NHA TRANG - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính tác
giả đã trực tiếp thực hiện. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

thành chương trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
Chương I. TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản 3
1.1.1. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam 3
1.1.3. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Đắk Lắk 4
1.2. Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Lắk 4
1.2.1. Vị trí địa lý 4
1.2.2. Đặc điểm khí hậu 4
1.2.3. Chế độ thủy văn 5
1.3. Đặc điểm sinh học cá lóc bông 5
1.3.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 5
1.3.2. Đặc điểm dinh dưỡng 9
1.3.3. Đặc điểm sinh trưởng 10
1.3.4. Đặc điểm sinh học sinh sản 10
1.4. Sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc bông 11
1.4.1. Hiện trạng sản xuất giống cá lóc bông ở Việt Nam 11
1.4.2. Tình hình nuôi cá lóc bông trên thế giới và Việt Nam 12
1.4.3. Thức ăn cho cá lóc ở Việt Nam 13
1.5. Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc và một số loài cá ăn động vật 13

3.1.2. Oxy hòa tan 34
3.1.3. pH nước 34
3.2. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo
thời gian 35
3.2.1. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời
gian 35
3.2.2. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự phân đàn của cá lóc bông theo thời
gian 41
3.2.3. Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 43
3.3. Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời
gian 45
3.3.1. Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời gian 45
3.3.2. Ảnh hưởng thức ăn lên sự phân đàn của cá lóc bông theo thời gian 51
3.3.3. Ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 54
3.4. Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở các thí nghiệm 55
3.4.1. Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng
mật độ 55
3.4.2. Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng
thức ăn 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 58
1. Kết luận 58
2. Đề xuất 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ctv
CV
DLG
DWG

và cá chép 23
Bảng 1.4. Khả năng tiêu hóa phospho (%) trong cá loại thức ăn khác nhau đối với
cá hồi, cá chép và cá da trơn 25
Bảng 1.5. Nhu cầu khoáng chất trong thức ăn cho một số loài cá nước ngọt 26
Bảng 3.1. Các số liệu về môi trường thu được ở thí nghiệm I và II 33
Bảng 3.2. Khối lượng, chiều dài của cá ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 36
Bảng 3.3. Khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật
độ (g) 37
Bảng 3.4. Tăng trửng về khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh
hưởng mật độ (g) 38
Bảng 3.5. Chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ
(cm) 39
Bảng 3.6. Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh
hưởng mật độ (cm) 40
Bảng 3.7. Hệ số phân đàn của của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh
hưởng mật độ (%) 41
Bảng 3.8. Tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 43
Bảng 3.9. Khối lượng, chiều dài cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn 45
Bảng 3.10. Khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức
ăn (g) 47
Bảng 3.11. Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm
ảnh hưởng thức ăn (g) 48
Bảng 3.12. Chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn
(cm) 49
vii
Bảng 3.13. Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm
ảnh hưởng thức ăn (cm) 50
Bảng 3.14. Hệ số phân đàn của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng
thức ăn (%) 52
Bảng 3.15. Tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (%) 54

theo thời gian 49
Hình 3.14. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên chiều dài cá lóc bông theo thời gian 50
ix
Hình 3.15. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên sự tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông
theo thời gian 50
Hình 3.16. Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về chiều dài theo thời gian 52
Hình 3.17. Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về khối lượng theo thời gian 53
Hình 3.18. Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 54
x
MỞ ĐẦU
Cá lóc bông là loài cá giữ, phàm ăn, có khả năng chống chịu bệnh tốt, là loài
có giá trị kinh tế, được nuôi nhiều ở các nước Đông Nam và Nam Châu Á [34]. Cá
có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi
trường, chất lượng thịt thơm ngon. Cá lóc bông có thể nuôi thích hợp trong giai,
trong ao, trong bể lót bạt và nuôi trong lồng bè đạt năng suất cao. Ngoài ra, cá lóc
bông còn là loài được ưa chuộng của những người câu cá thể thao.
Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi
khác nhau như: nuôi trong ao đất, lồng bè (Thái Lan, Hồng Kông …), nuôi ghép với
cá rô phi, cá chép … (Đài Loan) [5]. Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thủy sản là một
trong những ngành kinh tế thế mạnh, góp phần lớn trong việc cải thiện đời sống và
nâng cao thu nhập người dân. Nghề nuôi cá lóc nói chung, cá lóc bông nói riêng ngày
càng phát triển ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) như An Giang, Đồng
Tháp … Ở Đắk Lắk, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh làm tăng đáng kể
nhu cầu cá tạp, cạnh tranh nhu cầu sử dụng cá với những người nghèo, người có thu
nhập thấp, đồng thời là tỉnh miền núi nên giá cá tạp cũng gia tăng. Chính những điều
này đòi hỏi cần phát triển nhanh chóng thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp để vừa
hạn chế việc khai thác cá để nuôi cá, đồng thời tăng hiệu quả việc nuôi cá.
Tuy cá lóc bông có thể sinh sản tốt ngoài tự nhiên nhưng sinh sản nhân tạo
rất quan trọng vì nó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn
lợi cá tự nhiên cũng như thuần hóa trở thành đối tượng nuôi đạt hiệu quả cao.

bằng giai đặt trong ao đất.
Nội dung đề tài:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (thức ăn viên hỗn
hợp hiệu Cá Vàng; thức ăn chế biến; thức ăn cá tạp) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá lóc bông nuôi bằng giai.
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của của mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá lóc bông nuôi bằng giai.
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản
1.1.1. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian qua. Năm
2006, nuôi trồng thủy sản đóng góp 47% nguồn thực phẩm thủy sản của thế giới,
đạt sản lượng 51,7 triệu tấn với giá trị là 78,8 tỷ USD. Tốc độ tăng từ 2004 - 2006
đạt 6,1% về khối lượng và 11% về giá trị [16].
Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi trồng thủy sản cao nhất, chiếm tới
67% (năm 2006) tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới và 49% về giá trị. Các
nước ở châu Á và khu vực Thái Bình Dương chiếm 89% về khối lượng và 77% về
giá trị. Việt Nam vẫn tiếp tục đứng ở vị trí thứ 03 sau Trung Quốc và Ấn Độ về nuôi
thủy sản. Trong số 10 nước đứng đầu, có 04 nước thuộc khối ASEAN theo thứ tự là
Việt Nam (3), Thái Lan (4), Indonesia (5) và Philippin (10) [16].
Cá nước ngọt chiếm hơn một nửa sản lượng nuôi, đạt 27.800.000 tấn, giá trị
đạt 29,5 tỷ USD. Trong đó, sản lượng cá rô phi vằn (O. niloticus) tăng khá nhanh
đạt gần 2.000.000 tấn, giá trị đạt 2,2 tỷ USD (2006) [16].
1.1.2. Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam
Năm 2005, diện tích nuôi trồng đạt 319.000 ha, sản lượng nuôi trồng đạt
958.000 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 1,63 tỷ USD.
Theo chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1999 - 2010 đã

Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính. Có hệ thống giao thông huyết mạch của
quốc gia và của vùng Tây Nguyên như: tuyến Quốc lộ 14 nối liền thành phố Hồ Chí
Minh với các tỉnh Tây Nguyên; quốc lộ 26 nối tỉnh Khánh Hòa và quốc lộ 27 nối tỉnh
Lâm Đồng; sân bay Buôn Ma Thuột phụ vụ các chuyến bay trong nước.
1.2.2. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu mang đặc trưng của 2 kiểu khí hậu: nhiệt đới ẩm và gió Tây Nam
khô nóng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [16].
4
Nhiệt độ không khí: Trung bình từ 23 - 24oC, cao nhất 37oC, thấp nhất 14oC [13], [16].
Tổng nhiệt: Ở độ cao < 800 m tổng nhiệt độ năm đạt 8.000 - 9.500oC, độ cao
> 800 m có tổng nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 7.500 - 8.000oC. Biên độ nhiệt trong
ngày lớn, có ngày biên độ nhiệt là 20oC [16].
Lượng mưa và số ngày mưa: Chế độ mưa của vùng tương đối cao và đạt
bình quân năm 1.600 - 2.000 mm. Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 84%
lượng mưa trong năm, mùa khô lượng mưa chiếm 16%. Các tháng có lượng mưa
lớn là tháng 8, 9 [16].
1.2.3. Chế độ thủy văn
Do lượng mưa phân bố không đều. Trung bình hàng năm có tổng lượng nước trên
toàn tỉnh 38,8 tỷ m3 nước. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình thủy lợi, là tiền đề cho
nuôi trồng thủy sản nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cho người dân [16].
1.3. Đặc điểm sinh học cá lóc bông
1.3.1. Đặc điểm phân loại và phân bố
Cá lóc bông là tên gọi địa phương ở Việt Nam, tên thương mại tiếng Anh gọi
chung giống channa là cá lóc (snakehead) và cá lóc bông là giant snakehead. Tên
khoa học được xếp theo phân loại của Cuvier (1831) như sau [34], [36]:
Ngành
Ngành phụ
Lớp
Bộ

là nơi thích hợp cho các loài phân bố (Rainboth, 1996) [7].
Giống Channa ở Đồng bằng sông Cửu Long có 4 loài gồm đã được định loại
(Khoa và Hương, 1993) [7] như sau:
- Channa micropeltes
- Channa gachua
- Channa lucius
- Channa striatus
Cuvier and Valencinnes
Hamilton
Cuvier and Valencinnes
Bloch
- Cá lóc bông.
- Cá Chành đục.
- Cá Dầy.
- Cá lóc đen.
Trong đó 2 loài được xem là có giá trị kinh tế cao là cá lóc bông (Channa
micropeltes) và cá lóc đen (Channa striatus).
6
Tuy cùng hệ thống sông Mê Kông nhưng theo Rainboth (1996) định loại
giống Channa ở Campuchia có 6 loài, trong đó có 2 loài theo Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương (1993) không thấy định loại ở Đồng bằng sông Cửu Long là:
Channa marulius (Hamilton, 1822) và Channa melasoma (Blocker, 1851) [7].
Cá phân bố tự nhiên trên các sông, kênh rạch, đồng ruộng … ở một số nước
thuộc khu vực Đông Nam và Nam Châu Á. Ở Việt Nam, cá lóc bông phân bố rất
nhiều ở các lưu vực đầu nguồn sông Mê Kông, nơi giáp với biên giới Campuchia
[12]. Ngoài tự nhiên, cá lóc (snakehead) có sự phân bố, phân biệt rõ ràng. Ở lưu vực
sông Mê Kông gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Malaysia [5].
Sự mô tả của bản đồ dưới đây đã chỉ ra rằng từ Kerala State, India, có sự
phân biệt của các loài và có lẽ đã được mô tả rất sớm từ vùng nước tự nhiên. Đó là
những điều chính xác có thể tin tưởng (Rainboth, 1996) [7].

21
22
23
24
25
26
27
C. argus argus (Cantor, 1842)
C. argus warpachowski (Berg, 1909)
C. asiatica (Linnaeus, 1758)
C. aurantimaculata (Musikasinthorn, 2000)
C. bankaneensis (Bleeker, 1852)
C. barca (Hamilton, 1822)
C. bleheri (Vierke, 1991)
C. cyanospilos (Bleeker, 1853)
C. diplogamma (Day, 1865)
C. gachua (Hamilton, 1852)
C. harcourtbutleri (Annandale, 1918)
C. lucius (Cuvier, 1831)
C. maculata (Lacepefde, 1802)
C. marulius (Hamilton, 1822)
C. marulioides (Bleeker, 1851)
C. melanoptera (Bleeker, 1855)
C. melasoma (Bleeker, 1851)
C. micropeltes (Cuvier, 1831)
C. nox (Zhang, Musikasinthorn & Watanabe, 2002)
C. orientalis (Bloch&Schneider, 1801)
C. panaw (Musikasinthorn, 1998)
C. pleurothalma (Bloch, 1793)
C. punctata (Bloch, 1793)

17,6cm
20cm
18,5cm
40cm
20cm
183cm; 30kg
27cm
65cm
30cm
130cm; 20kg
65cm
20cm
17,1cm
40cm
31cm
25cm
100cm
II. Giống Parachanna
African snakehead
28
29
30
P. africana (Steindachner, 1879)
P. insignis (Sauvage, 1884)
P. obscura (Gunther, 1861)
Niger snakehead
Congo snakehead
Afican snakehead
32cm
41cm

cá lóc đen. Cá lóc bông trưởng thành có ruột gấp khúc, ngắn [5].
Kết quả phân tích thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của các mẫu cá lóc
bông đánh bắt ngoài tự nhiên hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hình thái giải phẩu
các cơ quan thuộc ống tiêu hóa của chúng. Kết quả trên cho thấy ngoài tự nhiên cá
lóc bông trưởng thành là loài cá dữ và lúc trưởng thành thường ăn với khối lượng
thức ăn lớn là các loại cá con, tạp [12].
1.3.3. Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá là quá trình gia tăng về kích thước và tích lũy khối lượng
cho cơ thể [5].
Kích thước cá lóc bông có thể dài trên 1m và nặng trên 20 kg [31]; Channa
micropeltes và Channa marulius là hai loài lớn nhất của họ cá lóc [33]. Ở giai đoạn
nhỏ, cá tăng trưởng nhanh về chiều dài, từ 3 tháng tuổi trở đi cá tăng trưởng nhanh
về khối lượng hơn chiều dài [7]. Trong điều kiện tự nhiên do sự cạnh tranh thức ăn
nên cá tăng trưởng không đều và tỷ lệ hao hụt lớn. Trong điều kiện nuôi, cá có thể
đạt 1 - 1,5 kg/con/năm [12].
Cá lóc bông là loài ăn động vật nên nhu cầu chất đạm rất cao [7].
1.3.4. Đặc điểm sinh học sinh sản
Sinh sản là sự tái sản xuất của chủng quần và bảo vệ loài. Tuổi và kích thước
thành thục của cá được coi là đặc điểm thích nghi với điều kiện sinh sản (Mai Đình
Yên, 1992) [5].
10
Cá lóc bông thành thục vào 23 - 24 tháng tuổi, mùa vụ phát dục và sinh sản
kéo dài từ tháng 4 - 10, tập trung vào tháng 6 - 7 dương lịch [12]. Cá sinh sản tái
phát dục 3 - 4 lần trong năm [5], [32].
Lượng trứng cá lóc bông có thể đạt từ 7.000 - 14.000 trứng/kg cá cái; cá lóc
có chiều dài 35 cm có thể sinh sản 10.000 trứng [12]. Khi sinh sản cá đực và cá cái
tự bắt cặp, sinh sản trứng trong tổ, chúng bảo vệ trứng rất kỹ, cho đến khi cá con đã
có thể sống độc lập và chủ động bắt mồi [5].
Cá lóc bông là loài sinh sản trứng nổi, thụ tinh ngoài, có tập tính giữ trứng
[12]. Mùa vụ sinh sản của cá trong thủy vực tự nhiên chủ yếu xảy ra từ tháng 5 - 8

bố mẹ nào thành thục có khối lượng cơ thể nhỏ hơn 800 g/con [12]. Điều này chứng
tỏ rằng cá lóc bông là loài cá có kích thước lớn trong họ cá lóc. Thông tin của
những hộ nuôi cá lóc bông trên bè còn cho biết thêm cá lóc bông lần đầu tiên mang
trứng khi đã nuôi được 14 - 18 tháng và khối lượng thường không dưới 2 kg/con
[5]. Riêng đối với những hộ nuôi cá lóc bông và cho sinh sản trong ao đất thì khẳng
định rằng cá lóc bông phải hơn 2 năm tuổi mới có thể tham gia sinh sản và mỗi lần
cá sinh sản như vậy có thể thu được từ 20.000 - 30.000 trứng/cá tùy theo kích
thước, khối lượng cá [5].
Khi tuyến sinh dục chưa thành thục (giai đoạn I - II) hệ số thành thục của cá
lóc bông rất thấp (0,04 ± 0,0%) [12]. Tuy nhiên khi tuyến sinh dục của cá đạt tới
giai đoạn chín muồi (giai đoạn IV) thì hệ số thành thục của cá cũng không vượt quá
2,5%, thực tế chỉ đạt 2,11% [12].
Chính vì những lý do trên, công tác nghiên cứu về sinh học, sinh sản, các loại
thức ăn thay thế thức ăn truyền thống của đối tượng này đang được nhiều người
quan tâm để từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất.
1.4.2. Tình hình nuôi cá lóc trên thế giới và Việt Nam
Cá lóc bông có thể nuôi ở nước ngọt và có khả năng sống ở nước lợ mặn có
nồng độ muối thấp và chúng được phân bố rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực
Đông Nam và Nam Châu Á [5], [32].
Hiện nay, trên thế giới nghề nuôi cá lóc phát triển ở một số nước như: Ấn
Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia, Việt Nam … Ở
12
Việt Nam và Campuchia là 2 nước có nghề nuôi cá lóc trong bè phát triển. Năng
suất nuôi bè ở trong ao, tối ưu là 160 kg/m3 và tối đa đạt ≥ 600 kg/m3 ở hồ chứa
nghèo dưỡng chất [5].
Cá lóc bông là loài tương đối dễ nuôi, có thể nuôi trên nhiều thủy vực khác
nhau và có thể tận dụng được nguồn phụ phẩm trong khai thác, chế biến thủy sản
cũng như trong nông nghiệp với một tỷ lệ phối trộn thích hợp [7], [33].
1.4.3. Thức ăn cho cá lóc ở Việt Nam
Thức ăn nuôi cá lóc hiện nay, các hộ sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp [4],


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status