Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ Limnodrilus hoffmeisteri (Claparede, 1862) - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
&
LÊ HOÀI NAM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI PHÂN BỐ VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG
QUẦN THỂ TRÙN CHỈ Limnodrilus hoffmeister
(CLAPERADE, 1862)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - Tháng 10/2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa
từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Hoài NamLỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã
nhận được sự quan tâm tận tình của quý thầy cô hướng dẫn khoa học, Viện Nuôi trồng
Thủy sản và các cá nhân trong trường, đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Tấn Sỹ,
đã hết lòng chỉ bảo và hướng dẫn tận tình, thường xuyên theo dõi quá trình thực hiện
đề tài.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo ThS. Trương Thị Bích Hồng, đã
tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học và Viện Nuôi trồng
Thủy sản Trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn.
Xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, chia sẻ khó khăn và động

MỞ ĐẦU
Trùn chỉ là giống giun nước có thân rất mảnh, màu hồng hay hồng sậm, thường
xuất hiện từng cụm rất dầy ở các vùng nước chảy chậm, hay đầm lầy, ao hồ nước tù…
Tại những nơi mà nhiệt độ nước luôn ấm và ô nhiễm, nghèo khí oxy, chúng có thể sinh
sôi, nẩy nở rất nhanh chóng có khi phủ đầy cả đáy nước [73]. Trùn chỉ là thức ăn của
hầu hết các loài cá ăn động vật, côn trùng thủy sinh và giáp xác, chúng cũng là thức ăn
cho gia cầm nuôi như gà, vịt. Trùn chỉ là một loại thức ăn ưa thích được dùng để nuôi cá
cảnh, nhất là những loại cá có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao như : cá rồng, cá dĩa
Trong nuôi trồng thủy sản trùn chỉ được sử dụng như một loại thức ăn sống trong
quá trình sản xuất giống nhân tạo một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế như: cá
Chình Hoa, cá Ngát, cá Lăng Nha, cá Bống Tượng , cá Ba Sa Trùn chỉ được sử dụng
vào giai đoạn giống giúp tăng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá con [5], [7].
Trên cơ sở đó, trùn chỉ trở thành đối tượng lý tưởng để chọn nuôi sinh khối là
thức ăn tươi sống cho các trại sản xuất giống cá nước ngọt và cơ sở nuôi cá cảnh. Tuy
nhiên, hiện nay nguồn cung cấp trùn chỉ cho cá cảnh và các trại sản xuất giống cá nước
ngọt đang phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Trùn chỉ thu từ tự nhiên thường có số
lượng không ổn định, lẫn tạp và không kiểm soát được chất lượng. Thêm vào đó, trùn
chỉ thu ngoài tự nhiên thường mang nhiều mầm bệnh, bởi vì chúng thường sinh sống
với mật độ cao vùng nước thải, vùng nước ô nhiễm. Chúng có thể là nguyên nhân
truyền nhiễm một số bệnh cho đối tượng nuôi là cá cảnh và cá giống. Do đó, nhiều
người yêu thích cá cảnh đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất giống và nuôi
cá cảnh. Việc sản xuất giống một số loài cá bản địa có chất lượng dinh dưỡng cao như
cá Lăng Nha (Mystus wyckioides), cá Trê Phú Quốc (Clarias gracilentus) còn ở quy
mô nhỏ và thiếu sự ổn định. Vì vây, việc nuôi sinh khối thành công loài trùn chỉ có vai
trò quan trọng trong việc chủ động nguồn thức ăn tươi sống sạch mầm bệnh, nhằm
đảm bảo và mở rộng quy mô nuôi, sản xuất giống cá cảnh cũng như các loài cá bản địa
có giá trị kinh tế.
Từ thực tế đó, tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái
phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ
Limnodrilus hoffmeisteri (Claparede, 1862)”.

Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) là một trong những loài thuộc lớp giun ít tơ
(Oligochaeta), chúng phân bố với mật độ cao ở nền đáy các thủy vực nước ngọt, sử
dụng các chất hữu cơ lắng đọng làm thức ăn. L.hoffmeisteri được biết đến là một trong
những loài động vật không xương sống tồn tại trong đất lúa ngập nước và tác động đến
thành phần dinh dưỡng, tính chất vật lý của đất thông qua hoạt động hô hấp, đào hang,
ăn, tiêu hóa, bài tiết [38]. Những nghiên cứu về L.hoffmeisteri chủ yếu tập trung vào
các vĩ độ ôn đới, nhưng vẫn còn hạn chế ở các vùng nhiệt đới [41]. L.hoffmeisteri
thường được tìm thấy trong nhiều loại môi trường sống và đạt mật độ cao ở môi
trường bị ô nhiễm hữu cơ nặng, loài này chi phối gần như hoàn toàn thành phần động
vật không xương sống dưới lớp đáy trầm tích [25]. L.hoffmeisteri có thể chịu được độ
mặn lên đến 10 ppt [32] và cá thể trưởng thành có thể tồn tại ở điều kiện hạn hán trong
một thời gian ngắn [44]. Ở nước ngọt, các loài L.hoffmeisteri, Tubifex tubifex,
Peloscolexferox được tìm thấy nhiều trong lớp trầm tích gồm bùn và mảnh vụn hữu cơ
của sông, hồ [30], còn loài Rhyacodrilus coccineus và Stylodrilus lumbriculid
heringianus lại sống trong những lớp cát [26].
Ngoài ra, lớp Oligochaeta được phân bố rộng rãi trên thế giới, trong đó các loài
thuộc họ Tubificidae và Naididae được tìm thấy ở mọi lục địa, còn họ Lumbriculidae
phân bố với khoảng 35 loài được tìm thấy ở Châu Á, gần 40 loài ở Châu Âu và khoảng
10 loài ở Bắc Mỹ [30]. Lớp Oligochaeta có thể được tìm thấy trong các điều kiện môi
trường khác nhau với các tính chất lý hóa của môi trường khác nhau. Trong môi
3
trường nước lợ có thể tìm thấy một số loài như Monopylephorus, Tubifex costatus,
Peloscolex benedeni, và một số loài Isochaeta [28].
Một số nghiên cứu về phân bố của lớp Oligochaeta trên thế giới như: Nghiên
cứu ở hồ Erie, Michigan, Mỹ cho thấy có 52.390 cá thể thuộc lớp Oligochaeta được
tìm thấy từ 40 mẫu, trong đó loài L.hoffmeisteri chiếm 90% khi có mặt ở 33 trong số
40 mẫu. Ngoài ra, loài L.hoffmeisteri còn được tìm thấy ở các con sông khác như:
Detroit, Raisin, và Maumee. Chúng xuất hiện tại các khu vực bị ô nhiễm của con sông
và giảm dần đến không thấy xuất hiện tại các khu vực nước sạch [43]. Ở phía Tây Bắc
nước Anh, Oligochaeta chiếm thành phần lớn về số lượng động vật không xương sống

thập tại cửa sông Chao Phraya, Thái Lan cho thấy L.hoffmeisteri dài khoảng 20 – 30
mm, những con trưởng thành có cơ thể phân đốt từ 50 – 90 đốt, phần đầu có hình tam
giác, phần đuôi có hình vòng. Các chùm tơ xuất hiện trên lưng, bụng dài và mỏng hơn
các chùm tơ ở phần đuôi. Phần lưng có 5 – 6 tơ cứng, phần bụng có 6 – 7 tơ cứng và
phần đuôi có 2 – 3 tơ cứng. Cơ quan sinh dục nằm ở đốt thứ 11 của cá thể trưởng
thành [69]. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận bởi nghiên cứu của Adrian M. Pinder
và cộng sự về sự phân bố của Tubificidae tại Australian [27].
Hình 1.1: Toàn bộ cơ thể, đoạn trước và tơ cứng
của L.hoffmeisteri [69]
1.1.3.2 Cấu tạo
Thành cơ thể có các lớp như giun nhiều tơ. Mô bì tạo thành tầng cuticun trong
suốt bao bên ngoài. Xen lẫn các tế bào mô bì có tế bào tuyến và tế bào cảm giác. Tế
bào tuyến tiết lớp nhầy bao quanh cơ thể, có khi bám đầy vụn đất tạo thành vỏ tách
5
khỏi tầng cuticun (Tubificidae, Dero, Aulophorus) hoặc hình thành đai sinh dục. Ở
vùng tạo đai có 2 loại tế bào tuyến: tế bào hạt lớn hình thành lớp vỏ ngoài của đai, sau
này thành vỏ kén và tế bào hạt bé hình thành chất dinh dưỡng cho phôi. Tế bào cảm
giác có lông, có thể tập trung thành nhú cảm giác [1].
Bao cơ của giun ít tơ có lớp cơ vòng ở ngoài và lớp cơ dọc ở trong. Mức độ
phát triển của các lớp cơ thay đổi tùy cách di chuyển của từng nhóm. Các tế bào cơ
trong mỗi lớp cũng có thể sắp xếp thành các bó cơ, đơn vị có tổng hiệu suất hoạt động
cao hơn. Quá trình phân hóa bao cơ thành chùm cơ rõ hơn ở giun đất. Phía trong bao
cơ là thể xoang, được giới hạn bằng mô bì thể xoang. Trong thể xoang có dịch thể
xoang chứa các thành phần tế bào, trong đó có tế bào thực bào và tế bào thể xoang [1].
Dịch thể xoang có thể dồn từ đốt này sang đốt khác. Vách đốt có thể phát triển
hoặc tiêu giảm ở từng phần của cơ thể. Hiện tượng này có liên quan tới cách di
chuyển. Phần lớn giun ít tơ chui rúc trong bùn, trong đất nhờ sự điều chỉnh áp suất
từng phần của dịch thể xoang và sóng nhu động dọc cơ thể. Một số loài thuộc họ
Tubificidae và Naididae sống trong rãnh nước ngọt có hoạt động uốn sóng đặc trưng
của phần đuôi tạo dòng nước giàu oxy cho hoạt động hô hấp [1].

ăn cho trùn chỉ, thời gian cho ăn từ 4 – 10 ngày/lần, kết quả thu được 358.400 cá
thể/m
2
trong điều kiện nhân tạo [18]. Trong khi nghiên cứu của Syarip cho ăn với
lượng phân bón 5 ngày/lần thu được năng suất sinh khối cao hơn với 560.900 cá
thể/m
2
vào ngày thứ 30 [17]. Ngoài phân gà, phân bò cũng được sử dụng để nuôi trùn
chỉ. Marian và Pandian đã sử dụng hỗn hợp phân bò (75%) và cát mịn (25%) làm chất
nền để nuôi trùn chỉ. Phân bò được sử dụng làm thức ăn với liều lượng là 250 mg/cm
2
và thời gian cho ăn là 4 ngày/lần. Phân bò có hàm lượng dinh dưỡng không cao so với
phân gà, nhưng phân bò có khả năng phân hủy và thẩm thấu vào đất nhanh hơn, giúp
tăng độ xốp của đất [48]. Ngoài ra, phân gà chứa hàm lượng N cao gấp 3 lần so với
phân bò nên sinh ra lượng ammoniac lớn hơn trong quá trình phân hủy [13].
1.1.5 Sinh sản và phát triển
Lớp Oligochaeta sinh sản vô tính và hữu tính [1]. Ở hình thức sinh sản vô tính
chúng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau bao gồm phân mảnh, phân đôi hoặc hình
thành các chồi tiếp theo cho sự phân mảnh [65].
Trong phương pháp sinh sản phân đôi, từ đốt thứ 4 trở đi của cơ thể bố mẹ có
thể tách ra để tạo ra một cá thể mới, sau một thời gian cá thể mới này có thể tạo ra
được cá thể thứ ba, quá trình phân đôi thường diễn ra trong khoảng 2 – 3 ngày. Quá
trình này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, do đó một cá thể có thể tạo ra từ 4 – 8 cá thể
7
mới trong vòng đời của nó. Phương pháp sinh sản này được tìm thấy rõ nhất ở các loài
thuộc họ Naididae [65].n
Một khả năng sinh sản vô tính tương tự là sự phân mảnh được tìm thấy phổ
biến trong họ Tubificidae, Naididae và Lumbriculidae [30], [33]. Quá trình phân mảnh
diễn ra khi cá thể bố mẹ cố gắng tách cơ thể làm 2 phần, tại vị trí phân cắt là quá trình
tái sinh phần đuôi của cá thể cũ và hình thành phần đầu của cá thể mới. Vị trí phân

Hầu hết giun ít tơ (Oligochaeta) trưởng thành và sinh sản trong 12 tháng. Aston
phát hiện ra rằng Branchiura sowerbyi có chu kỳ sinh sản 1 năm cả ở ngoài tự nhiên
và trong phòng thí nghiệm [20]. Trong một số trường hợp, Oligochaeta có thể mất đến
24 tháng để trưởng thành tùy thuộc vào mùa vụ và điều kiện sống. Brinkhurst đã tìm
thấy bằng chứng rằng các loài Tubifex costatus, Aulodrilus pluriseta và Peloscolex
ferox mất 2 năm để trưởng thành và sinh sản [23]. Một số nghiên cứu cho rằng phần
lớn cá thể bố mẹ chết sau khi sinh sản hữu tính. Tuy nhiên, trong một số loài, đặc biệt
là các loài thuộc họ Tubificidae có khả năng sống sót và có cấu trúc như cá thể chưa
trưởng thành, sau một thời gian chúng tự tái sinh cơ quan sinh sản mới cho lần sinh
sản tiếp theo [29].
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trùn chỉ
1.1.6.1 Chất nền
Chất nền là rất cần thiết cho sự tồn tại và sinh sản của Oligochaeta và có thể
ảnh hưởng đến sự phân bố của loài [39]. Báo cáo của Aston & Milner cho thấy tầm
quan trọng của lớp trầm tích cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của họ
Tubificidae, vì nó tạo điều kiện cho quá trình di chuyển, cung cấp thức ăn và hỗ trợ
cho hoạt động hô hấp của chúng [21]. Theo nghiên cứu của Sauter và cộng sự, kích
9
thước của các hạt chất nền ảnh hưởng đến sự phân bố của Oligochaeta, kết quả cho
thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mật độ của L.hoffmeisteri và tỷ lệ các hạt trầm tích
mịn (hạt nhỏ hơn 0,21 mm) [63]. Bên cạnh đó, Moore khẳng định tầm quan trọng của
chất hữu cơ với sự phân bố của các loài động vật, vì sự sẵn có của các chất hữu cơ làm
tăng số lượng tảo và vi khuẩn, cả hai đều là nguồn thức ăn cho Oligochaeta [51].
1.6.2 Các yếu tố môi trường
Lớp Oligochaeta thường thích nghi tốt với điều kiện oxy thấp [71]. Điều này
cũng được ghi nhận bởi Wilber khi cho rằng Tubifex sp có khả năng sống sót trong
điều kiện có hàm lượng oxy thấp. Nhu cầu oxy cho sự phát triển bình thường của trùn
chỉ dao động từ 2,5 – 7,0 ppm [70]. Tuy nhiên, hàm lượng oxy ít hơn 2 ppm sẽ ức chế
hoạt động tìm kiếm thức ăn và sinh sản [48]. Trong môi trường có nồng độ oxy thấp,
chúng khuấy đảo dòng nước và thực hiện quá trình hô hấp qua da [71], [18].

10
L.hoffmeisteri được xem là một nguồn thực phẩm quan trọng cho ấu trùng thủy
sản [47] và mức độ tiêu hóa trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) trong cá nhanh hơn so
với thức ăn công nghiệp [14]. Trong nghiên cứu của Yan và cộng sự cho rằng hàm
lượng protein và chất béo trong trùn chỉ chiếm 90% trọng lượng khô [72]. Ngoài ra,
nghiên cứu của Sulmartiwi và cộng sự cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong trùn chỉ
gồm: protein (57%), chất béo (13,3%), chất xơ thô (2,04%), hàm lượng tro (3,6%),
nước (87,7%) và sắc tố carotenoid có khả năng cải thiện màu sắc cho cá cảnh [15].
Theo Sumaryam, trùn chỉ có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của cá nhanh hơn so với thức
ăn tự nhiên khác như Daphnia sp, hoặc Moina sp [16].
1.3 Những nghiên cứu về Trùn chỉ trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
Đặc điểm sinh học của L.hoffmeisteri được nghiên cứu rộng rãi. Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu của các tác giả lại khác nhau về tốc độ tăng trưởng, số lượng kén, số
lượng trứng thu được, sự khác biệt này là do khác nhau trong quá trình bố trí thí
nghiệm như mật độ, dinh dưỡng, loại trầm tích nên rất khó để so sánh các kết quả này
với nhau [37], [66].
Trong nghiên cứu của Aston số lượng trứng trung bình trong mỗi kén ở thí
nghiệm về ảnh hưởng của nhiệt độ và ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan có sự
khác nhau. Ông nêu lên giả thuyết rằng sự khác biệt này đã bị ảnh hưởng bởi khối
lượng của mỗi cá thể được sử dụng trong quá trình thí nghiệm [19].
Theo quan sát của Reynoldson và cộng sự, các quần thể L.hoffmeisteri ở vùng
ôn đới và vùng nhiệt đới có đặc tính sinh học khác nhau [62]. Müller nghiên cứu
L.hoffmeisteri từ Canada và Tây Ban Nha quan sát thấy sự khác biệt trong quá trình
tạo kén, tốc độ tăng trưởng và khả năng chống chất gây ô nhiễm của 2 nước này [52].
Tại Philippin, Ian đã đánh giá tác động của phân hóa học, thuốc trừ sâu và phân
chuồng lên L.hoffmeisteri ở ngoài ruộng lúa. Sự ra đời của phương pháp trồng lúa
năng suất cao có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã hạn chế hoặc ngăn cản sự sinh
trưởng và phát triển của L.hoffmeisteri tại đây [42].
Nghiên cứu của Chumaidi và Suprapto sử dụng bùn và nước thải để nuôi

chỉ được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh lý – Sinh thái, Trường Đại học Nha
Trang – Khánh Hòa.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sơ khối nội dung nghiên cứu
13
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố của quần thể trùn chỉ
2.2.1.1 Dụng cụ thu mẫu
- Batomet: thu mẫu nước để phân tích hóa học, đặc biệt để phân tích các
chất khí hòa tan.
- Gàu Petersen: thu mẫu đáy để xác định mật độ trùn chỉ, phân tích các yếu
tố lý hóa.
- Chai đựng mẫu nước: gồm các loại chai 125 ml nút mài để đựng mẫu
nước xác định các chất khí, chai 500 ml (thủy tinh hoặc nhựa) đế đựng mẫu nước
xác định các chỉ tiêu theo yêu cầu nghiên cứu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của
các loại thức ăn đến sự sinh
trưởng, phát triển trùn chỉ
Khảo sát sự phân bố trùn
chỉ ở thành phố Nha
Trang – Khánh Hòa
Xác định thông số môi
trường (pH, DO, COD,
BOD…), mật độ trùn
chỉ
NT1
NT2
NT4
NT3
Nội dung nghiên cứu

- Mẫu vật đáy được thu bằng gàu Petersen có kích thước 250 cm
2
. Sau đó mẫu
vật đáy được cho vào các túi nilon có ghi nhãn để đưa về phòng thí nghiệm kiểm tra số
lượng trùn chỉ và phân tích nền đáy.
- Mẫu nước được thu bằng Batomet, được chứa trong chai thủy tinh loại 125 ml
để đựng mẫu nước xác định chất khí và chai nhựa 500 ml để đựng mẫu nước xác định
các chỉ tiêu theo yêu cầu nghiên cứu.
2.2.1.3 Xác định số lượng trùn chỉ có trong mẫu nền đáy
Mẫu đáy sau khi thu được cho qua sàng động vật đáy với kích thước lỗ sàng 0,3
mm để rửa sạch bùn. Mẫu sau khi sàng được cho vào khay màu trắng. Sử dụng kẹp,
ống hút để phân loại và đếm số lượng trùn chỉ có trong mẫu.
2.2.1.4 Phương pháp phân tích mẫu
a) Xác định chất đáy bằng phương pháp sa lắng cơ học:
Lấy một ít mẫu đất cho vào cốc, hòa đều trong nước, rót toàn bộ vào ống 100
ml. Chờ cho đất lắng hết. Căn cứ tỷ lệ bùn : cát trong ống đong để định loại chất đáy.
Tỷ lệ về khối lượng giữa bùn và cát trong mẫu đất.
15
Tỷ lệ Bùn : Cát Loại đáy
0:100 Cát
40:60 Cát bùn
60 : 40 Bùn cát
80 : 20 Bùn pha ít cát
20 : 80 Cát pha ít bùn
*Phân loại chất rắn theo kích thước
- Bùn là loại chất rắn có kích thước 10
-6
– 10
-5
m.

S
2
O
3
0,01N đến khi có màu vàng nhạt, thêm 3 giọt hồ tinh bột, dung dịch có màu
xanh tím, rồi nhỏ từng giọt Na
2
S
2
O
3
0,01N đến khi hết màu xanh tím. Ghi thể tích
Na
2
S
2
O
3
0,01N đã chuẩn độ hết. Làm từ 2 – 3 lần lấy kết quả trung bình.
16
- Tính kết quả:
Hàm lượng O
2
hòa tan được tính theo công thức:
mg O
2
/L = V . N . 8 . 1000/V
0
Trong đó: V: số mL dung dịch Na
2

(chai 2).
Chai 1: Định lượng hàm lượng O
2
đầu (thời điểm thu mẫu)
Chai 2: Ủ tối 5 ngày ở nhiệt độ 20
o
C. Sau đó tiến hành định lượng hàm
lượng O
2
sau 5 ngày ủ mẫu.
- Tính kết quả:
BOD
5
= (DO
0
– DO
5
)
Trong đó: DO
0
: oxy hòa tan đo được ngày đầu tiên
DO
5
: oxy hòa tan đo được sau 5 ngày
e) Xác định nhu cầu oxy hóa học (COD) theo phương pháp Permanganat [9]
- Trình tự tiến hành: chuyển 50 ml nước mẫu vào bình nón, thêm 5 ml H
2
SO
4
25% lắc đều, thêm 10 ml KMnO

2
O
4
0,02N thêm vào
N : Nồng độ KMnO
4
(0,02N)
8 : Đương lượng gam của O
2
1000: Hệ số đổi thành lít
f) Xác định hàm lượng Ammonia (NH
4
+
) theo phương pháp Phenate [9]
- Khi tiến hành phân tích, sử dụng một mẫu chuẩn đã biết trước hàm lượng
NH
4
+
, rồi lần lượt đo độ hấp thụ của mẫu chuẩn và các mẫu cần phân tích trên máu
Spectrophotometer. Bước sóng 630 nm.
- Chuẩn bị mẫu: Cho 20 ml nước cất vào bình nón, thêm 1 ml dung dịch chuẩn
10 µg N – NH
4
lắc đều, 2 giọt dung dịch KNaC
4
H
4
O
6
/ MnSO

-
[9]
- Chuẩn bị mẫu chuẩn: hút 10 ml dung dịch chuẩn cho vào bình nón, thêm 10
ml nước cất, được dung dịch nồng độ 5 mg N – NO
3
-
/L, thêm 10 ml H
2
S
2
O
4
, để bình
trong chậu nước lạnh, lắc đều và để một lúc cho nhiệt độ trong bình cân bằng nhiệt độ
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status