BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
******** ********
NGUYỄN QUANG HẠNH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN, ĐIỀU
KIỆN
CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU LÊN SINH TRƯỞNG,
PHÁT DỤC
CỦA TÔM HÙM BÔNG (Panulirus ornatus Fabricius,
1798)
NUÔI TRONG BỂ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Nha Trang - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
******** ********
NGUYỄN QUANG HẠNH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN, ĐIỀU KIỆN
CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU LÊN SINH TRƯỞNG, PHÁT DỤC
CỦA TÔM HÙM BÔNG (Panulirus ornatus Fabricius, 1798)
NUÔI TRONG BỂ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60.62.70
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS. LẠI VĂN HÙNG
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY
Nha Trang - 2010
ir
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gởi đến Ban Giám Hiệu, khoa Nuôi trồng Thủy sản -
Trường Đại học Nha Trang sự kính trọng, lòng tự hào đã được làm việc, học tập và
Nguyễn Quang Hạnh
iiir
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục…. iii
Ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục các hình vii
Danh mục các bảng ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 – TỔNG QUAN 3
1.1. Hệ thống phân loại và hình thái học 3
1.1.1. Vị trí phân loại 3
1.1.2. Hình thái cấu tạo 4
1.1.3. Đặc điểm sinh thái phân bố và chu kỳ sống 5
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng 8
1.1.5. Đặc điểm sinh học sinh sản 9
1.2. Một số nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho Tôm Hùm 13
1.3. Tình hình nuôi Tôm Hùm 21
Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Nguồn Tôm Hùm thí nghiệm 24
2.2.2. Nguồn nước thí nghiệm 24
ivr
2.2.3. Trang thiết bị thí nghiệm 25
2.2.4. Chăm sóc, quản lý 25
2.3. Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các công thức thức ăn lên sinh trưởng
và phát dục của Tôm Hùm Bông 26
1. Kết luận 57
2. Đề xuất ý kiến 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
vir
KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
W: Khối lượng.
CL: Chiều dài giáp đầu ngực.
g: Gam.
mm: Milimet.
‰ : Phần ngàn.
GHẸ-80: Nghiệm thức công thức thức ăn có 80% ghẹ, 10% sò, 10% mực.
SÒ-80:
Nghiệm thức công thức thức ăn có 80 % sò, 10% ghẹ, 10% mực.
MỰC-80: Nghiệm thức công thức thức ăn có 80 % mực, 10% ghẹ,10% sò.
CLđ: Chiều dài giáp đầu ngực của tôm lúc bắt đầu thí nghiệm.
CLc: Chiều dài giáp đầu ngực của tôm lúc kết thúc thí nghiệm.
Wđ: Khối lượng của tôm lúc bắt đầu thí nghiệm.
Wc: Khối lượng của tôm lúc kết thúc thí nghiệm.
GRCL, GRW: Sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực và khối lượng của tôm.
SGRCL, SGRW: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài giáp đầu ngực và khối
lượng của tôm.
viir
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu 23
Hình 2.2. Quy trình xử lý nước để nuôi thí nghiệm 24
Hình 2.3. Hệ thống bể lọc sinh học 25
Hình 2.4. Chuẩn bị thức ăn cho Tôm Hùm nuôi thí nghiệm 26
Hình 2.5. Hệ thống bể composite nuôi tôm ở thí nghiệm thức ăn 27
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí các bể nuôi tôm ở thí nghiệm thức ăn 27
Hình 2.7. Hệ thống bể ciment nuôi tôm ở thí nghiệm ánh sáng 29
Bảng 3.7. Một số yêu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm về ánh sáng 47
Bảng 3.8. Cường độ chiếu sáng ở các bể thí nghiệm (Lux) 48
Bảng 3.9. Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực của Tôm Hùm Bông
ở các điều kiện chiếu sáng khác nhau 50
Bảng 3.10. Sinh trưởng về khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu
sáng khác nhau 52
Bảng 3.11. Kích thước tuyến sinh dục của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 53
1r
MỞ ĐẦU
Tôm Hùm Gai Palinuridae (spiny lobster) phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đới
và á nhiệt đới, chúng thích nghi trong cả vùng biển sâu đến vùng triều cạn ven biển.
Họ Palinuridae gồm trên 47 loài trong đó có khoảng 33 loài có giá trị kinh tế.
Nghề nuôi biển trên thế giới nói chung coi Tôm Hùm là một trong những đối
tượng nuôi quan trọng và có hiệu quả kinh tế cao. Trong họ Palinuridae thì loài
Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus) được quan tâm chú trọng nhiều nhất vì chúng
có sự phát triển giai đoạn Larvae ngoài khơi ngắn nhất, sinh trưởng nhanh nhất, có
giá thành hấp dẫn trên nhiều thị trường. Từ trước đến nay nguồn giống Tôm Hùm
nuôi hoàn toàn là khai thác từ tự nhiên, nhưng hiện nay trên thế giới rất quan tâm
nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo nhằm chủ động đáp ứng lượng con giống cần
thiết với chất lượng tốt, giảm áp lực lên khai thác tự nhiên.
Ở Việt Nam nghề nuôi Tôm Hùm bắt đầu phát triển từ năm 1992 và hiện nay
xác định đây là một đối tượng phát triển chủ lực trong nghành thủy sản do giá trị
kinh tế và dinh dưỡng mà nó mang lại. Nghề nuôi Tôm Hùm ở Việt Nam được phát
triển mạnh tại các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định đến Bình Thuận và đã
đem lại nhiều lợi nhuận cho người nuôi. Trong họ Tôm Hùm Gai ở Việt Nam có 7
loài phân bố và người nuôi cũng tập trung vào loài Tôm Hùm Bông.
Sự phát triển nhanh rộng của nghề nuôi Tôm Hùm lồng đã làm rõ hơn vấn đề
thiếu con giống một cách trầm trọng. Sản lượng khai thác giống ngoài tự nhiên
không thể đủ đáp ứng được nhu cầu của người nuôi thương phẩm. Để phát triển lâu
bền và có hiệu quả hơn đòi hỏi các nhà khoa học Việt Nam cần phải chung sức với
George và Holthuis (1965) nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu và
phân loại trên một số loài tiêu biểu của giống Panulirus và Jasus, đã chính thức đưa
ra khóa phân loại của họ Palinuridae và Nephropidae, công trình được hầu hết các
nhà phân loại học cùng nhất trí về những đặc điểm chung của các loài Tôm Hùm
trong cùng một giống. Các kết quả đã được kiểm chứng và làm cơ sở cho nghiên
cứu về Tôm Hùm [31].
Đến những năm 1980 Phillips và Williams đã khẳng định họ Tôm Hùm Gai
(Palinuridae) gồm có 49 loài được phân chia thành 8 giống, nhưng chỉ có 33 loài
thuộc 3 giống (Panulirus, Palinurus và Jasus) có ý nghĩa quan trọng trong công
nghiệp khai thác Tôm Hùm của thế giới. Các giống loài thường gặp trong họ này
được chia thành 3 nhóm theo vùng sinh thái rõ rệt: vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và
ôn đới [44], [51].
4r
Theo nhóm tác giả trên Tôm Hùm được phân loại như sau:
Ngành Chân đốt
Lớp Giáp xác
Arthropoda
Crustacea
Bộ Mười chân
Phân bộ
Nhóm
Liên họ
Decapoda
Pleovcyemata
Palinura
Palinuridae
Họ Tôm Hùm gai
Palinuridae
Giống
Panulirus
khoang mang làm nhiệm vụ bảo vệ mang, phía dưới phần đầu ngực là xương ức
ngực. Tại gốc đôi chân bò thứ 3 của con cái và gốc đôi chân bò thứ 5 của con đực
có 1 lỗ sinh dục.
Phần bụng gồm có 6 đốt được bọc bởi lớp vỏ citin cả ở phần lưng bên và
bụng, phần lưng có màu sắc đặc trưng cho loài. Đốt bụng đầu tiên ở Tôm Hùm
không có chân bơi còn từ đốt thứ 2 đến thứ 5 có 4 đôi chân bơi. Chân bơi của con
đực có dạng nhánh đơn và 2 đôi chân bơi đầu tiên tạo thành cơ quan giao cấu, nó
trở lên nhám khi con đực thành thục. Chân bơi của con cái có dạng phân nhánh đôi
hình lá, nhánh trong chân bơi có những lông cứng, cấu tạo này tạo thuận lợi cho con
cái ôm trứng trong giai đoạn thành thục sinh dục và giữ trứng khi đẻ [39]. Đốt 6 ở
phần thân Tôm Hùm tạo thành chân đuôi và telson rất cứng và chắc chắn. Theo
Holthuis (1991) telson của Tôm Hùm là phần phụ trung gian của đốt bụng thứ 6
hoặc có thể là đốt bụng thứ 7. Hệ thống cơ bắp phần bụng rất rắn chắc, kết hợp với
phần chân đuôi như một mái chèo giúp Tôm Hùm vận động dễ dàng trong nước,
Tôm Hùm có đặc tính giật mạnh về phía sau khi gặp kẻ thù [33].
1.1.3. Đặc điểm sinh thái phân bố và chu kỳ sống
* Sinh thái phân bố
Nghiên cứu về sinh thái học, nhiều tác giả như Herrnkind (1980), Cobb
(1981), Lipciuc (1983), William & Dean (1989), MacDiarmind (1991) đã kết luận
6r
Tôm Hùm Gai sống được cả ở vùng biển ôn đới và nhiệt đới, tuy nhiên các giống có
thành phần loài phong phú đều tập trung ở vùng biển nhiệt đới.
Môi trường sống của Tôm Hùm có quan hệ với hoạt động của sóng, dòng
chảy gần hay xa bờ, chế độ thủy triều cũng như vật chất từ lục địa đổ ra biển. Tổng
hợp các mối quan hệ trên tạo ra khu vực sinh thái riêng cho từng loài Tôm Hùm,
chúng thường sống từ vùng triều đến vùng biển sâu tới 300 m trong các hang hốc và
vùng đáy là đá, bùn cát hay thảm thực vật. Ví dụ như loài P. penicillatus thường
gặp ở vùng rạn xa bờ nơi có sóng biển đập vỗ mạnh, hay P. Longipes thì lại thích
sống trên mặt rạn nơi có nhiều ánh sáng và oxy hòa tan cao, còn P. Vercicolor chỉ
được tìm thấy dưới những lớp đá ngầm nơi có dòng chảy mạnh và P. Interruptus
tán nhanh ra vùng khơi [39].
* Chu kỳ sống
Theo Cobb & Wang (1985), Tôm Hùm Gai thụ tinh ngoài, con đực phóng túi
tinh trùng (tar – spot) vào ức ngực của con cái và túi tinh chỉ được con cái cào rách
ra trước khi đẻ trứng vài giờ để tinh trùng giải phóng ra thụ tinh cho các trứng mà
con cái đẩy xuống phía chân bụng. Trứng sẽ được tôm mẹ ấp giữ đến khi nở ra ấu
trùng phyllosoma trôi nổi tự do trên biển nhờ sóng gió và dòng chảy của đại dương.
Max & Hermkind (1985) và Hermkind & Butler (1986) đã thống nhất phân
chia chu kỳ sống của Tôm Hùm theo 5 giai đoạn: giai đoạn tiền trưởng thành
(immature), giai đoạn thành thục (manute), giai đoạn ấu trùng phyllosoma, giai đoạn
ấu trùng puerulus và giai đoạn tôm con (juvenile) [26].
Giống tôm Hùm Panulirus thuộc nhóm có tuổi thọ cao nhất có thể đạt tới 15
tuổi (Phillips,1975), giai đoạn phát triển từ ấu trùng đến con non được chia làm 9
giai đoạn đương tương với 2 thời kỳ: ấu trùng phyllosoma và giai đoạn puerulus.
Thời kỳ ấu trùng phyllosoma bao gồm 5 giai đoạn từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 với
8r
khoảng thời gian cần thiết từ 3 đến 4 tháng, thời kỳ puerulus từ giai đoạn 6 đến giai
đoạn 9 với khoảng thời gian cần thiết từ 6 – 7 tháng. Như vậy, thời gian cần thiết
cho quá trình phát triển từ khi trứng nở đến khi con non ước tính khoảng 9 – 11
tháng, thời kỳ ấu trùng phyllosoma và con non (juveline) - đều có hình thức sống
phù du trong trong môi trường nước. Khi đã là Tôm Hùm con chúng cũng có 2 giai
đoạn tách biệt là bắt đầu sống đáy ở độ sâu từ 10 m trở vào bờ và sau đó chuyển
sang sống trong môi trường như tôm trưởng thành. Trong quá trình sinh trưởng và
phát triển Tôm Hùm dần ra sâu hơn và có thể ra đến độ sâu 150 m nước, đặc điểm
phân bố của Tôm Hùm là sự di chuyển có định hướng từ vùng rạn đá khu vực nước
nôngven bờ đến vùng rạn đá sâu xa bờ. Chính vì vậy con non thường hay gặp ở
những khu vực rạn nông gần bờ [1].
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng
Sự tăng trưởng của Tôm Hùm là một quá trình liên tục và được xác định
bằng sự tăng lên về chiều dài giáp đầu ngực (CL) hoặc khối lượng cơ thể (W),
2:1 [46].
Những nghiên cứu trên P.ornatus ở vùng biển Daru của MacFarlane (1980)
cho thấy, trong quần thể tôm nhỏ với chiều dài giáp đầu ngực từ 10 – 20 mm, cho
đến quần thể tôm trưởng thành với giáp đầu ngực dài 150 – 160 mm luôn gặp con
đực nhiều hơn con cái và tỷ lệ này giao động trong khoảng 1:0,5; 1:0,39; 1: 0,16; 1:
0,04; 1:0,01 [41].
10r
Chittlebrough (1974), David (1977) và Channells (1986) đã nghiên cứu bổ
sung thêm về tỷ lệ giới tính ở P.ornatus trong vịnh Torres Strait thấy rằng tỷ lệ con
đực luôn lớn hơn con cái phổ biến chiếm khoảng 60 – 80% trong vùng biển này [24].
* Dấu hiệu thành thục
Theo Aiken & Waddy (1980), để xác định thành thục sinh dục ở Tôm Hùm
đực thì có 2 cách: dựa vào yếu tố sinh lý, tức là các cá thể đực có thể sản xuất ra
tinh trùng nhưng chưa có khả năng cặp đôi; hoặc dựa vào yếu tố chức năng, nghĩa là
có khả năng cặp đôi và phóng tinh sang cá thể cái [13].
Nghiên cứu của Berry (1970) cũng xác định hầu hết những con đực luôn có
kích thước lớn hơn con cái khi đạt đến giai đoạn thành thục sinh dục và cá thể đực
có đôi chân bò dài hơn hẳn cá thể cái giúp cho việc giao cấu đạt hiệu quả khi chúng
kết đôi với nhau [16].
Đối với Tôm Hùm cái nhận biết sự thành thục sinh dục có thể dễ dàng hơn.
Nhiều tác giả như Fielder (1964), Chittleborough (1974), Juinio ( 1987)… đều cho
rằng cơ sở để xác định sự thành thục sinh dục của đa số các loài thuộc giống
Panulirus được dựa vào sự xuất hiện các lông cứng ở nhánh trong của chân bụng,
nơi trứng có thể bám dính vào khi đẻ. Ngoài ra cũng có thể biết được con cái thành
thục dựa vào sự xuất hiện của túi tinh trùng ( Tar – spot) trên ức ngực [35].
* Kích thước tham gia sinh sản
Kích thước tham gia sinh sản lần đầu của các loài khác nhau cũng khác nhau
rõ rệt : Chubb (1991) cho biết với P.cygmus kích cỡ thành thục lần đầu của loài khi
có chiều dài giáp đầu ngực là (CL) bằng 75 mm ở con cái, nhưng cá thể nhỏ nhất
tham gia sinh sản chỉ khoảng 48,9 mm; Herrnkind & Olsen (1971) lại xác định ở
di cư sinh sản tiếp theo đã khiến cho mùa sinh sản kéo dài đến cuối tháng 3 hoặc
đầu tháng 4 [42].
Kancirut và Herrnkind (1976) nghiên cứu mức độ sinh sản của Tôm Hùm ở
các nhóm kích cỡ CL khác nhau đã sử dụng 3 thông số đưa vào tính toán là:
A: Tỷ lệ con cái trong nhóm kích thước/ tổng số con cái.
B: Tỷ lệ con cái mang trứng trong nhóm kích thước.
C: Số lượng trứng trung bình của các con cái trong nhóm kích thước.
D: Hằng số chỉ mức độ sinh sản = A x B x C
Đồng thời các tác giả cũng đã tính được hằng số D đối với loài P.argus vùng
Bimini ở nhóm kích thước 70 – 100 mm CL (chiếm 3,6% quần đàn) là 13,9% tổng
số trứng; nhóm kích thước 70 – 75 mm CL (chiếm 14,9% quần đàn) nhưng chỉ có
2,3% tổng số trứng [37].
Ven biển miền Trung quanh năm đều bắt gặp Tôm Hùm cái mang trứng,
trong 7 loài Tôm Hùm kinh tế của Việt Nam, mùa vụ sinh sản chính bắt đầu từ
tháng 3 đến tháng 10 hàng năm, loài P.ornatus con cái thường ôm trứng từ tháng 3
đến tháng 10, mùa đẻ chính từ tháng 7 đến tháng 9 (bắt gặp 50% tôm mẹ mang
trứng ngoài); P.homarus con cái mang trứng từ tháng 12 đến tháng 9 năm sau, mùa
vụ đẻ chính từ tháng 4 đến tháng 7; loài P.longipes ôm trứng từ tháng 3 đến tháng
10, mùa sinh sản chính là tháng 4 đến tháng 9 và rộ nhất vào tháng 9. Cá thể mẹ ôm
trứng ngoài thu được trong mùa đẻ chính cho thấy một kết luận là Tôm Hùm đẻ ít
nhất 2 lần trong năm. Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (1994), Tôm Hùm Bông
(P.ornatus ) mùa vụ sinh sản có 2 vụ/năm, tháng 1 đến tháng 5 là vụ 1 và đỉnh sinh
sản là tháng 4, mùa vụ 2 từ tháng 8 đến tháng 10 và đỉnh sinh sản là tháng 9 [7].
13r
* Các giai đoạn phát triển của buồng trứng
Berry (1971) đã nghiên cứu trên loài P.homarus cho rằng buồng trứng có 5
giai đoạn phát triển là:
Giai đoạn 1 (buồng trứng non): buồng trứng mỏng nhỏ và có màu trắng.
Giai đoạn 2 (buồng trứng đang phát triển): buồng trứng đã căng lên và có
màu hồng sáng.