i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ
ƯƠNG KHÁC NHAU LÊN SINH TRƯỞNG VÀ
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ CHÉP ĐUÔI PHỤNG
Cần Thơ, 2010
Sinh viên thực hiện
CAO TRỌNG NGUYỄN
MSSV: 06803025
Lớp: NTTS K1
ii
TÓM TẮT
Thí nghiệm ương cá chép đuôi Phụng (Cyprinus carpio) với các mật độ khác nhau
được thực hiện trong 45 ngày, bố trí vào 9 thùng xốp (0,1m
2
) tại trường Đại Học
Tây Đô từ tháng 4- 6 năm 2010, nhằm bổ sung thêm những kỹ thuật về ương cá
chép Nhật trong các dụng cụ có diện tích nhỏ, nhằm tìm ra mật độ ương thích hợp,
đáp ứng một phần nhu cầu thị hiếu. Với các mật độ khác nhau, thí nghiệm gồm có
3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Nghiệm thức thứ nhất với mật độ
200 con/m2, nghiệm thức thứ hai với mật độ 250 con/m2 và nghiệm thức thức ba
với mật độ 300 con/m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy trong quá trình ương, các yếu
tố môi trường được ghi nhận thích hợp cho sự phát triển của cá chép đuôi Phụng
Tốc độ tăng trưởng chiều dài, tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p > 0,05), tăng trưởng khối lượng ở nghiệm thức 200 con/m
2
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nghiệm thức 300 con/m
2
và không
có ý nghĩa (p > 0,05) so với nghiệm thức 250 con/m
2
. Trọng lượng trung bình của
cá ở các nghiệm thức từ 2,16 – 3,14 g/con. Chiều dài của cá ở các nghiệm thức
trung bình từ 48,8 – 56,4 mm. Kết thúc thí nghiệm cho thấy cá chép đuôi Phụng
được ương ở mật độ 200 con/m
2
có hiệu quả nhất.
Từ khóa:Cá chép đuôi Phụng, ương, mật độ, sinh trưởng, tỷ lệ sống
2.1 Đặc điểm hình thái và phân loại 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái 3
2.1.2 Đặc điểm phân loại 3
2.2 Đặc điểm phân bố 4
2.3 Đặc điểm môi trường sống 4
2.3.1 Nhiệt độ 4
2.3.2 pH 5
2.3.3 Oxy hòa tan 5
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.7 Thí nghiệm ương trên một số đối tượng khác 6
CHƯƠNG 3 7
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 7
3.2 Vật liệu nghiên cứu 7
3.3 Phương pháp nghiên cứu 8
3.3.1 Đối tượng thí nghiệm 8
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 8
3.3.3 Quản lí thí nghiệm 8
3.3.3.1 Cho ăn 8
3.3.3.2 Quản lí môi trường ương 8
3.3.3.3 Các chỉ tiêu về môi trường 9
3.3.3.4 Các chỉ số theo dõi và công thức tính 9
3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu
9
CHƯƠNG 4 10
v
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Thức ăn sử dụng cho cá theo các giai đoạn phát triển 8
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường ở các nghiệm thức qua 45 ngày ương 10
Bảng 4.2: Tăng trưởng chiều dài của cá chép đuôi Phụng qua các đợt thu mẫu
12
Bảng 4.3: Tăng trưởng khối lượng của cá chép đuôi Phụng sau 45 ngày ương
14
Bảng 4.4: Tỷ lệ sống của cá chép đuôi Phụng sau 45 ngày ương 14
Bảng 4.5: Tỷ lệ phân ly màu sắc ở cá chép đuôi Phụng 1515
đi cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội và sự gia tăng nhu cầu về mặt tinh thần…
Trong các loài cá cảnh thì cá chép được ghi nhận là loài có lịch sử nuôi lâu đời
nhất, từ 2000 năm trước công nguyên ở Trung Hoa. Ở Việt Nam thú nuôi chơi cá
cảnh chỉ mới có lịch sử trong khoảng 100 năm trở lại.
Do nhu cầu giải trí hiện nay, rất nhiều loài cá cảnh được lai tạo với nhiều chủng
loại đa dạng, màu sắc đẹp như cá đĩa, ông tiên, cá vàng, cá chép đuôi Phụng….
Trong đó cá chép đuôi Phụng là loài khá mới mẽ tại thị trường cá cảnh Việt Nam
nhưng là loài có tiềm năng lớn trong lĩnh vực này. Cá chép đuôi Phụng là một loài
cá chép thông thường, đã thuần hóa lai tạo để nuôi làm cảnh, có nguồn gốc tại
Trung Quốc nhưng được nuôi phổ biến tại Nhật Bản. Chúng có quan hệ họ hàng
gần với cá vàng và trên thực tế kiểu cách nhân giống và nuôi cảnh là khá giống với
cá vàng.
Cá chép đuôi Phụng là một loài còn khá mới mẽ đối với thị trường cá cảnh Việt
Nam. Tuy nhiên việc sản xuất giống loài này đã được phổ biến và thành công ở
nhiều tỉnh thành. Nhưng tỷ lệ sống cá chép đuôi Phụng trong quá trình ương không
cao, màu sắc cá không đẹp. Điều này do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền,
mật độ, thức ăn, chất lượng nước… Trong đó mật độ ương ảnh hưởng rất lớn, do
vậy việc tìm ra một mật độ ương như thế nào cho thích hợp là điều cần thiết nhằm
nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cá chép đuôi Phụng để phục vụ nhu cầu giải trí,
để cá chép Nhật trở nên quen thuộc với người chơi cá cảnh Việt Nam.
Xuất phát từ thực tế này mà đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương
khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chép đuôi Phụng (Cyprinus
carpio)” được tiến hành. 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
2.1.1 Đặc điểm hình thái
Theo Võ Văn Chi (1993) cá chép có thân dẹp bên, đầu cá thuôn, cân đối, có 2 đôi
râu. Miệng hướng phía trước khá rộng. Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây
bụng một ít. Vây ngực kéo dài chưa đạt tới vây bụng. Vây bụng gần đạt tới vây
hậu môn. Vây hậu môn cao gần bằng vây lưng. Vây đuôi có 2 thuỳ bằng nhau. Tia
cứng đầu tiên của vây lưng và vây hậu môn đều có răng cưa ở cạnh trong.
Hình 2.1: Cá chép đuôi Phụng (Cyprinus carpio)
2.1.2 Đặc điểm phân loại
Theo L.S Berg,1950, Mai Đình Yên (1978) và Trần Đình Trọng (1965a) cá Chép
được phân loại:
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Actinopterygii
Bộ (ordo): Cypriniformes
Họ (familia): Cyprinidae
Chi (genus): Cyprinus
Loài (species): Cyprinus carpio
Tên tiếng Anh: Koi fish
Tên địa phương: Cá chép đuôi Phụng
4
Theo Việt Chương- Nguyễn Sô (2002) trên thị trường cá kiểng nước ta hiện nay có
bốn loại cá Chép: Chép Đỏ, Chép Trắng, Chép Vàng, Chép Đen.
a. Cá Chép Đỏ
Toàn thân màu đỏ tươi và nhờ vào màu sắc tươi tắn hấp dẫn này nên được nhiều
người chọn nuôi làm kiểng.
b. Cá Chép Trắng
C cá sẽ ngừng bắt mồi. Nhiệt độ không
khí có ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ nước nhất là vào mùa đông. Hầu hết cá chép
Nhật được nuôi trong bể xi măng hay trong ao đất, nên giữ nhiệt độ cho ao nuôi rất
khó. Vì vậy, cần có biện pháp sưởi ấm cho cá trong mùa đông như phủ bạc, lục
bình hay bèo trên mặt ao (Trần Văn Bảo, 2000). 5
2.3.2 pH
Cá chép có thể sống được ở pH từ 6 – 8,5. Tuy nhiên pH thích hợp cho cá từ
7 – 7,5 (Vương Trung Hiếu, 2006). Theo Võ Văn Chi (1993) cá chép sống được ở
pH từ 4 – 9.
2.3.3 Oxy hòa tan
Cá chép có thể chịu đựng được nồng độ oxy hoà tan trong nước ít nhất là 2 ppm
(Võ Văn Chi, 1993). Theo Balon (2006) cá chép có thể tồn tại ở ngưỡng oxy thấp
0,3 – 0,5 ppm.
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chép và nhiều loài cá thuộc họ Cyprinidae đều có ruột rất dài và không có dạ
dày. Do đó khi kết luận về tính ăn của cá: Cá chép là loài ăn tạp, thức ăn chủ yếu là
sinh vật đáy. Thành phần thức ăn thay đổi theo độ tuổi, cá bột mới nở chủ yếu ăn
phiêu sinh vật trong nước. Khi trưởng thành chủ yếu ăn sinh vật đáy như nhuyễn
thể, giun, ấu trùng côn trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non thực vật,… Ngoài ra, cá
cũng ăn được nhiều loại thức ăn do con người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại,
bột cá, bột tôm, rau, bèo,… (Dương Tuấn, 1981).
2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, 1 năm tuổi đạt trung bình 0,5 – 0,8 kg, sau 2
năm tuổi đạt trung bình 0,8 – 1,2 kg và sau 3 năm tuổi đạt trung bình 1,2 –1,8 kg
(Vương Trung Hiếu, 2006).
2.6 Đặc điểm sinh sản
Cá chép thành thục sau 1 năm tuổi, cá có thể đẻ quanh năm và là loài đẻ trứng
trường thuận lợi cho trứng nở, khi trứng đã nở hết thì vớt bỏ giá thể.
2.7 Thí nghiệm ương trên một số đối tượng khác
Cá chép và cá mè vinh là hai loài cùng họ với cá chép Nhật và đều thuộc họ cá
chép. Trong thí nghiệm ương cá chép của Thạch Hải Bình (2000), cá được ương
với mật độ là 250 con/m
2
trong 2 tuần. Thức ăn được sử dụng là 100% bột đậu
nành trong tuần đầu và trong tuần kế tiếp là 20% bột đậu nành, 70% cám mịn và
10% bột cá. Tỷ lệ sống đạt 80%.
Cá mè vinh được ương với mật độ là 200 con/m
2
trong 30 ngày, thức ăn được sử
dụng là thức ăn tự nhiên, lòng đỏ trứng và bột cá. Kết quả thu được tỉ lệ sống sau
30 ngày ương là 96% (Danh Long Vương, 2000). Đối với thí nghiệm ương cá hạc
đỉnh hồng của Nguyễn Hữu Đức (1997), thức ăn được sử dụng là lòng đỏ trứng,
trứng nước và trùng chỉ cắt nhỏ tuỳ theo giai đoạn phát triển của cá.
7
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2
• Nghiệm thức 2: 250 con/m
2
• Nghiệm thức 3: 300 con/m
2
Cá bột được bố trí sau 3 ngày tuổi.
3.3.3 Quản lí thí nghiệm
3.3.3.1 Cho ăn
Cá chép đuôi Phụng được cho ăn theo nhu cầu bắt mồi và theo từng giai đoạn phát
triển cơ thể.
Bảng 3.1: Thức ăn sử dụng cho cá theo các giai đoạn phát triển
3.3.3.2 Quản lí môi trường ương
Bể ương được thay nước 2 ngày/lần vào buổi sáng, mỗi lần thay khoảng 1/3 thể
tích bể.
Thức ăn (cho ăn 2 lần/ngày)
Giai đoạn
(Ngày tuổi)
Trứng nước Trùn chỉ + Trứng nước Trùn chỉ
3 – 8 X
9 – 13 X
14 – 45 X
9
(W
2
: Khối lượng và chiều dài cá tại thời điểm t
1
(g,cm)
W
2
, L
2
: Khối lượng và chiều dài cá tại thời điểm t
2
(g,cm)
t
1
, t
2
: Thời điểm thu mẫu (ngày)
• Trọng lượng của cá được cân khi mới bắt đầu bố trí và kết thúc thí nghiệm, mỗi
nghiệm thức cân 15 con.
• Đo chiều dài của cá 2 tuần/lần, mỗi nghiệm thức đo 9 con.
• Theo dõi sự xuất hiện màu sắc ở các nghiệm thức.
3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí bằng phần mềm Exel 2003 và SPSS 11.5
nghiệm thức và đều nằm trong khoảng thích hợp cho tăng trưởng của cá chép đuôi
Phụng.
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường ở các nghiệm thức qua 45 ngày ương
Ghi chú: Giá trị thể hiện là trung bình và độ lệch chuẩn.
4.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường là nhân tố có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống
của cá, đặc biệt là đối với quá trình sinh trưởng. Do cá là động vật biến nhiệt nên
khi nhiệt độ môi trường gia tăng, các men tiêu hóa bên trong cơ thể cá hoạt động
mạnh làm tăng cường độ trao đổi chất của cá.
Qua kết quả bảng số liệu cho thấy nhiệt độ trong các bể ương dao động không
đáng kể và đều nằm trong khoảng thích hợp cho các loài cá nói chung và cá chép
đuôi Phụng nói riêng. Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức vào buổi sáng là
26,7±0,5
o
C và vào buổi chiều là 28,9±0,6
o
C.
4.1.2 Oxy hoà tan
Oxy hòa tan là yếu tố rất cần thiết cho hoạt động hô hấp của cá, đặc biệt là giai
đoạn cá còn nhỏ, cơ quan hô hấp phát triển chưa hoàn chỉnh. Hàm lượng oxy hoà
tan có sự khác biệt không lớn giữa các nghiệm thức. Kết quả cho thấy hàm lượng
Oxy hoà tan vào buổi sáng ở nghiệm thức 1 là 2,1±0,9 ppm, nghiệm thức 2
là
2,2±0,8 ppm, nghiệm thức 3
là 2,1±1,1 ppm. Vào buổi chiều ở nghiệm thức 1 là
3,9±0,2 ppm, nghiệm thức 2 là 4,0±0,0 ppm nghiệm thức 3 là 3,9±0,2 ppm. Hàm
lượng Oxy hoà tan có sự biến động khá lớn vào buổi sáng và buổi chiều. Tuy
nhiên không ảnh hưởng đến sự phát triển của cá.
thống kê (p > 0,05).
Nếu so sánh phần trăm chiều dài của cá ở các nghiệm thức mật độ tại thời điểm 14
ngày ương thì nhận thấy: Chiều dài của cá ở nghiệm thức 2 bằng 93% chiều dài
của cá ở nghiệm thức 1 và chiều dài của cá ở nghiệm thức 3 bằng 75% chiều dài
của cá ở nghiệm thức 1. Trong khi đó chiều dài của cá ở nghiệm thức 3 bằng 82%
chiều dài của cá ở nghiệm thức 2.
Khi so sánh tốc độ tăng trưởng/ngày về chiều dài của cá đã cho thấy mức tăng
trưởng chiều dài tuyệt đối của cá ở nghiệm thức 1 là cao nhất: 1,5 mm/ngày, còn
mức tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của cá ở nghiệm thức 2 và nghiệm thức 3 thấp
hơn với giá trị tương ứng là 1,4 và 1,2 mm/ngày.
Mức tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) về chiều dài của cá ở nghiệm thức 1 là nhanh
nhất: 10,2%, trong khi đó mức tăng trưởng chiều dài đặc biệt của cá ở nghiệm thức
2 và nghiệm thức 3 là tương đương nhau với giá trị 7,7 %/ngày.
12
Bảng 4.2: Tăng trưởng chiều dài của cá chép đuôi Phụng qua các đợt thu mẫu
Thời gian Chỉ tiêu
Ngày đầu 14 ngày
28 ngày
45 ngày
a
DLG (mm/ngày) 1,4 0,7 0,6
NT 2
SGR (%) 7,7 2,8 1,5
Trung bình (mm) 7,0±0,4
a
21,7±4,8
a
39,6±2,6
a
48,8±1,4
b
DLG (mm/ngày) 1,2 1,3 0,7
NT 3
SGR (%) 7,7 4,2 1,4
Ghi chú: Giá trị thể hiện là trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một cột có chữ
cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa (p > 0,05)
4.2.2 Giai đoạn từ ngày thứ 14 đến khi cá đạt 28 ngày tuổi
Chiều dài của cá ở nghiệm thức 1 vẫn đạt cao nhất là 44,7 mm so với hai nghiệm
thức còn lại. Chiều dài của cá ở nghiệm thức 2 và nghiệm thức 3 có giá trị tương
đương nhau lần lượt là 39,8 mm và 39,6 mm. Chiều dài của cá ở các nghiệm thức
trong giai đoạn này khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Trong cùng một thời gian ương thì chiều dài của cá ở nghiệm thức 2 và 3 bằng
89% chiều dài của cá ở nghiệm thức 1.
Khi so sánh tốc độ tăng trưởng/ngày về chiều dài của cá đã cho thấy mức độ tăng
0
10
20
30
40
50
60
Ngày đầu 14 ngày 28 ngày 45 ngày
Thời gian
(mm)
NT 1
NT 2
NT 3
Hình 4.1: Chi
ề
u dài c
ủ
a cá
ở
các nghi
ệ
m th
ứ
c qua các
đợ
t thu m
ẫ
u
NT 2
0,003 2,34±0,28
a
0,05 15,85
NT 3
0,003 2,16±0,32
b
0,05 15,67
Ghi chú: Giá trị thể hiện là trung bình và độ lệch chuẩn
Các giá trị trong cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê
Như vậy qua thí nghiệm trên cho thấy mật độ ương ảnh hưởng lớn đến sự tăng
trọng khối lượng của cá chép đuôi Phụng, sự cách biệt về khối lượng giữa các
nghiệm thức tiếp tục được duy trì cho đến cuối chu kỳ ương, cá ương với mật độ
thấp tăng trọng nhanh hơn cá ương với mật độ cao. Điều này phù hợp với nhận xét
của Senbai và P.Gerking (1978) được trích dẫn bởi Lê Ngọc Diện (2004): “sự tăng
trưởng của cá có quan hệ tỉ lệ nghịch với mật độ ương nuôi”.
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả ương trên một số đối tượng khác như: cá
thát lát ở 3 mật độ 150, 200 và 250 con/m
2
(Lê Ngọc Diện, 2004), cá rô đồng ở
mật độ 500, 1000 và 1500 con/m
2
(Hồ Mỹ Hạnh, 2003). Trong hai thí nghiệm này
thì cá ương ở mật độ thấp cũng cho kết quả kết quả tăng trọng nhanh hơn.
4.4 Tỷ lệ sống
Sau 45 ngày ương cá đã cho thấy mật độ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá
chép đuôi Phụng ở 3 nghiệm thức. Trong đó nghiệm thức có mật độ thấp nhất là
200 con/m
có tỷ lệ sống lần lượt là
88,2%, 80,3% và 70%.
15
88
83
70
0
20
40
60
80
100
1 2 3
Nghiệm thức
(%)
Tỷ lệ sống
Hình 4.2: Tỷ lệ sống của cá chép đuôi Phụng sau 45 ngày ương
Như vậy, tuy ương cá chép đuôi Phụng ở các mật độ khác nhau nhưng tỷ lệ sống
của cá ở các nghiệm thức khác biệt không ý nghĩa. Do đó có thể tiến hành ương cá
chép Phụng ở các mật độ trên đều đạt hiệu quả về tỷ lệ sống.
4.5 Sự xuất hiện tính trạng màu sắc ở cá chép đuôi Phụng
Sau quá trình ương cho thấy cá chép có màu vàng cam chiếm tỷ lệ cao trong các
nghiệm thức. Nghiệm thức 1chiếm tỷ lệ cao nhất là 83,03%. Thấp nhất là ở
nghiệm thức 3 với tỷ lệ 69,84%. Màu vàng và đốm đen vàng chiếm tỷ lệ khá thấp
chỉ khoảng từ 4,84% – 17,46%.
Bảng 4.5: Tỷ lệ phân ly màu sắc ở cá chép đuôi Phụng
Màu sắc (%)
Nghiệm thức
82.23
69.84
9.43
4.84
17.46
7.55
12.9 12.7
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
1 2 3
Nghiệm thức
(%)
Vàng cam
Vàng
Đốm đen vàng
Hình 4.3: Biểu đồ biểu hiện sự phân li màu sắc ở cá chép đuôi Phụng
Sự phân li màu sắc của thế hệ con chưa phản ánh được quy luật phân li tính trạng
của Menden. Điều này cho thấy đàn cá bố mẹ không phải là những cá thể
thuần chủng mà đã có sự tạp giao từ các thế hệ trước đó. Tính trạng màu sắc của cá
thí nghiệm mới chỉ nói lên được sự phong phú về di truyền của cá chép đuôi Phụng
và tính trạng màu vàng cam được coi là tính trạng chủ đạo của đàn cá trong
• Sau khi kết thúc thí nghiệm, dựa vào các kết quả trên cho thấy mật độ ương cá
chép Nhật 200 con/m
2
có hiệu quả nhất so với hai nghiệm thức có mật độ
250 con/m
2
và 300 con/m
2
.
5.2. Đề xuất
Tiếp tục nghiên cứu ương cá chép đuôi Phụng ở các mật độ khác nữa cũng như
ảnh hưởng của các loại thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chép đuôi
Phụng.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Mai Đình Yên (1978). Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật Hà Nội.
Nhật (Cyprinus carpio)
Nguyễn Hữu Đức (1997). Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý và sinh sản của
cá Hạt Đỉnh Hồng . Luận văn tốt nghiệp đại học. Khoa Thuỷ Sản, Đại học
Cần Thơ.
Hồ Mỹ Hạnh (2003). Khảo sát tính ăn và ảnh hưởng của mật độ, thức ăn lên sự
tăng trưởng của cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch). Luận văn thạc sĩ.
Khoa Thuỷ Sản, Đại học Cần Thơ.