Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790 ) tại Thuận An - Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 69

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, ngành nuôi trồng
thuỷ sản đã có những bước phát triển nhảy vọt, đã và đang được coi như là
một ngành mũi nhọn trong tiến trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, góp
phần giải quyết việc làm cho đại đa số người dân.
Việt Nam có nhiều lợi thế cho việc phát triển nuôi cá biển. Điều kiện tự
nhiên thuận lợi, với 3.260 km chiều dài bờ biển, diện tích vùng nuôi triều và
các vũng, vịnh có thể nuôi trồng hải sản chiếm 60% diện tích mặt nước. Biển
Việt Nam là biển nhiệt đới có nhiều loại cá biển có giá trị kinh tế và dinh
dưỡng cao.
Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) là một trong những đối tượng
nuôi không ngừng tăng về sản lượng và được nuôi phổ biển ở nhiều nơi. Thừa
Thiên huế với diện tích đầm phá trên 22.000 ha là điều kiện tốt để nhân rộng
mô hình nuôi cá chẽm. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong ao nuôi thương
phẩm, nhà kỹ thuật và người nuôi cần tìm ra mật độ nuôi phù hợp đảm bảo
chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển cho cá chẽm, tận dụng nguồn thức ăn, tránh
gây ô nhiễm nguồn nước, dịch bệnh… Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm
khoa Thuỷ Sản - Trường Đại Học Nông Lâm cùng với Giáo viên hướng dẫn,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên tốc
độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790 ) tại
Thuận An - Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế’’
* Mục đích của đề tài:
Nắm được thực trạng, qui trình nuôi cá chẽm thương phẩm tại Thuận
An - Phú Vang và xác định mật độ nuôi cá chẽm thích hợp ở Thừa Thiên Huế.
1
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới
Trong những năm gần đây, Nghề nuôi cá biển khu vực châu Á – Thái
Bình Dương đã có những bước phát triển đáng kể. Tổng sản lượng nuôi cá
biển của toàn khu vực tăng 11% từ năm 2004 đến năm 2005. Quốc gia có sản
lượng nuôi cá biển cao nhất hiện nay vẫn là Trung Quốc với sản lượng nuôi

mật độ và những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống trong quá trình ương. Theo
FAO (1898), tỷ lệ sống của ấu trùng và cá chẽm bột phụ thuộc vào nhiệt độ
nước, độ mặn , mật độ cá, thức ăn và cách cho ăn.[14]
- Nhiệt độ nước: Tỷ lệ sống của ấu trùng cao khi nhiệt độ nước
ổn định ≥ 28
o
C nhưng khi nhiệt độ ≤ 26
o
C thì tỷ lệ sống và sinh trưởng của
ấu trùng sẽ thấp.
- Độ mặn: Trong hai tuần đầu, độ mặn nước trong bể ương nuôi ấu
trùng nên duy trì ở 28-30‰ . Sau hai tuần, có thể giảm độ mặn xuống khoảng
25-28‰ và duy trì ở 25‰ sau ba tuần ương.
Năm 1983, Maneewongsa & ctv cho rằng mật độ nuôi tối đa ban đầu
đối với cá chẽm bột từ 1-12 ngày tuổi là 50 con/lít. Nếu nuôi mật độ cao hơn
thì tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá sẽ giảm.
Kungvankij & ctv (1986) đề nghị mật độ ương cá bột mới nở từ 50 -
100 con/lít. Mật độ tối đa cho phép cá chẽm giai đoạn 13 - 29 ngày tuổi sinh
trưởng bình thường từ 10 - 20 con/lít.
3
Suteemechaikul & Petchrid (1987) đã đưa ra mật độ tối đa trong ương
nuôi cá chẽm giai đoạn từ 25 - 50 ngày tuổi là 20 con/lít.
Theo Khamis & Hanafi (1987), mật độ nuôi có ảnh hưởng đến sinh
trưởng và tỷ lệ sống của cá chẽm. Một trong những nguyên nhân gây nên tỷ
lệ sống thấp là do hiện tượng ăn nhau.
Tattanon & Maneewongsa (1988) cho rằng mật độ ương cá chẽm phụ
thuộc vào tuổi và kích cỡ cá. Theo các tác giả này, mật độ ương thích hợp đối
với cá chẽm giai đoạn 1- 7 ngày tuổi là 60 - 100 con/lít.
Trino & Boliva (1993) thí nghiệm ương cá chẽm hương trong ao đất ở
hai mật độ là 5 con/m

kinh tế ở Việt Nam và đã được FAO đánh giá là một phương tiện xóa đói
giảm nghèo hiệu quả. Mục tiêu đầy tham vọng của ngành nuôi trồng thủy sản
Việt Nam là sản xuất ra 2 triệu tấn sản phẩm chủ yếu là từ nuôi biển vào năm
2010 đã nhận được sự hỗ trợ to lớn cả về tài chính cũng như kỹ thuật từ Bộ
Thủy sản (Việt Nam) và một số tổ chức quốc tế khác.[8]
Việt Nam có diện tích đất liền khoảng 330.000km
2
và một vùng biển
đặc quyền kinh tế khoảng trên 1.000.000km
2
. Khu vực bờ biển nước ta với
chiều dài 3.260 km bờ biển chạy dài từ Bắc vào Nam, với nhiếu đầm phá
nước lợ ven biển, đặc biệt vùng ven biển Miền Trung là một thế mạnh, một
tiềm năng hiếm thấy để phát triển nghề nuôi mặn, lợ. Biển Việt Nam có rất
nhiều loài có giá trị kinh tế để phát triển nghề nuôi cá biển. [6]
- Cá song: Trong 7 loài cá song có mặt ở nước ta là song mỡ(
E.pinephelus tauvina), song dẹt ( E.bleekeri), song chấm đỏ (E.akaara), mú
hoa nâu ( E.fuscoguttatus), mú vạch (E.brunnes), mú chấm tổ ong (E.merra),
song cáo (E.megachir) nhưng chỉ có 3 loài có giá trị kinh tế cao được nuôi
rộng rãi là cá song mỡ, cá song dẹt, cá song chấm đỏ. [6]
- Cá hồng: có 4 loài có giá trị kinh tế là: Lutjanus erythropterus,
L.argentimaculatus, L.malabaricus, L.johnii. [6]
- Cá tráp: có 3 loài có giá trị cao là: cá tráp đỏ (Pagrus major), cá tráp
vàng (Sparus latus), cá tráp (Tains tumifrons). [6]
- Cá chẽm: có 2 loài là cá chẽm ( Lates calcarifer) và cá chẽm mõm
nhọn (Psammoperca waigiensis). [6]
- Cá cam: Seriola dumeril [6]
- Cá măng: Chanos chanos [6]
- Cá giò: Rachycentron canadum [6]
Việc chọn đối tượng nuôi có ý nghĩa rất quan trọng trong nghề nuôi cá

có tỷ lệ sống thấp,
dùng Artemia+N
2
cũng cho tỷ lệ sống tương đối cao.[7]
Huỳnh Văn Lâm (2000) xác định mật độ ương thích hợp cho cá chẽm
bột mới nở là 50 con/lít và thức ăn được làm giàu bằng dầu gan mực cho tốc
độ sinh trưởng nhanh hơn, tỷ lệ sống cao hơn.[7]
6
Phan Văn Út (2005) nghiên cứu bệnh do sán đơn chủ trên một số loài
cá biển( cá mú, cá hồng và cá chẽm) với kết quả bệnh do mè cá là 71,4% và
bệnh sưng mang là 60,3%. Từ đó đưa ra các biện pháp phòng trị bằng fôrml:
200-250 ppm bằng H
2
O
2
: 100-200 pmm; bằng Hadaclean: 10-15 pmm để tắm
cho cá và kết quả có thể diệt được 90-100% sán lá đơn chủ ký sinh.
Theo Phạm Thị Hạnh (2007) cá chẽm sinh trưởng chiều dài nhanh nhất
ở mật độ ương 10con/lít, 50con/lít nhưng có xu hướng giảm dần khi mật độ
tăng từ 70 con/lít -150 con/lít. Tác giả cho rằng thức ăn tươi sống (Rotifer,
Artemia) được làm giàu bằng dầu cá thu, dầu cá thuyết và dầu mực không ảnh
hưởng đến tỷ lệ sống nhưng có tác dụng làm tăng tốc sinh trưởng của cá chẽm
giai đoạn mới nở đến 29 ngày tuổi so với thức ăn không làm giàu và mật độ
luân trùng tốt nhất cho cá chẽm bột là 35con/ml...
Nhiều hộ nuôi ở Cam Ranh (Khánh Hoà) đạt lợi nhuận từ 70-100
triệu đồng trên ha sau 7-8 tháng nuôi thương phẩm theo mô hình nuôi thâm
canh với cá rô phi và tôm sú, với thành công này nhiều địa phương khác trong
cả nước tiếp tục đề nghị chuyễn giao công nghệ sản xuất giống cá chẽm bằng
con đường sinh sản nhân tạo để có thể tự sản xuất giống tại địa phương
(Hoàng Minh Nguyệt Thông tấn xã Việt Nam, 2007).

thời gian nuôi 7– 10 tháng. Với nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, cho ăn 2lần/
ngày, người dân địa phương có thể chủ động trong việc tìm nguồn thức ăn
cho ao nuôi. Do cá chẽm mới được tiến hành nuôi tại tỉnh trong một vài năm
gần đây nên chưa thấy xuất hiện dịch bệnh trong quá trình nuôi, đây là một
đặc điểm thuận lợi cho bà con ngư dân trong việc thực hiện chuyển đổi từ ao
nuôi tôm sang nuôi cá chẽm có hiệu quả cao.
Từ năm 2006 trung tâm khuyến ngư tỉnh Thừa Thiên Huế được sự tài
trợ của chương trình Phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế đã triển khai một
số mô hình nuôi cá chẽm trong ao đất, nuôi cá chẽm nước ngọt tại Phong
Chương, Điền Hương, Điền Hòa, Phong Điền. Tại xã Hải Dương - Huyện
Hương Trà đã tiến hành nuôi cá chẽm trong lồng ở vùng nước lợ mang tính
chất tự phát ( khoảng 100 lồng nuôi). Trong đó, mô hình nuôi cá chẽm trong
ao đất tại Phong Điền, Quảng Điền đạt trọng lượng trung bình 500 –
600g/con, tỷ lệ sống 70%. Mô hình nuôi cá chẽm trong lồng có trọng lượng
trung bình đạt 650g/con tỷ lệ sống 70% với thời gian nuôi trên 8 tháng, sử
dụng thức ăn tươi, với tổng diện tích nuôi cá chẽm trong ao đất toàn tỉnh gần
20ha.[11]
Năm 2008, ở làng Hương Giang - xã Hải Dương - Huyện Hương Trà
(Thừa Thiên Huế) phát triển rầm rộ nghề nuôi cá chẽm trong lồng và hàng
8
trăm hộ dân đã có của ăn của để. Theo ước tính mỗi năm làng này thu hoạch
được từ 50 đến 60 tấn cá chẽm, doanh thu đạt khoảng 3,5 đến 4 tỷ đồng.
Do giá trị kinh tế cao, thời gian qua người dân ở vùng đầm phá Thừa
Thiên Huế đã tự phát nuôi cá chẽm trên diện rộng với thức ăn phổ biến là cá
tươi. Cuối vụ sau khi tính toán các chi phí cho con giống, thức ăn, vôi, hoá
chất... người dân đều có lãi.
Tiêu biểu có các mô hình nghiên cứu cá chẽm ở Thừa Thiên Huế như:
- Mô hình bằng lồng nước lợ quy mô 120m
3
, thực hiện tại thị

● Nhiệt độ: Mỗi năm thường chỉ có 2 mùa chính là mùa khô và mùa
mưa. Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7; nhiệt độ trung bình thấp nhất là
21,6
0
C; nhiệt độ trung bình cao nhất là 30,1
0
C. Mùa mưa thường bắt đầu vào
tháng 8 đến tháng 1 năm sau.
● Độ ẩm: thị trấn Thuận An nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung
thì mùa mưa thường là mùa lạnh, mùa khô thường là mùa nóng. Độ ẩm trung
bình hàng năm là 85%; trong đó tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 1: 92%;
tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7: 76%.
● Mưa: Do địa hình đồng bằng ven biển nên có lượng mưa thấp, số
ngày mưa ngắn hơn so với vùng miền núi của tỉnh, lượng mưa trung bình năm
khoảng 2550 mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm
sau. Đỉnh mưa dịch chuyển trong 4 tháng là từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng
tháng 11 có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới 30 % lượng mưa cả năm.
Ngoài những đặc điểm nêu trên, điều kiện thời tiết, khí hậu trong nhiều
năm trở lại đây diễn biến khá phức tạp. Lụt bão thường xuyên xảy ra đã gây
ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, đặc biệt là nông nghiệp và nuôi trồng
thuỷ sản cũng như đời sống của nhân dân.
2.4.1.1.3. Tình hình sử dụng đất đai
Tài nguyên đất đai thị trấn Thuận An có nhiều giá trị về sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. Với diện tích 1.703 ha việc bố trí đất sản xuất
10
nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đất chuyên dùng tương đối hợp lý. Tuy
nhiên, đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ cao.
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất ở thị trấn Thuận An 2009
TT Loại đất
Diện tích

2
.
Tổng lao động trên toàn thị trấn có 8.572 hộ.
Bảng 2: Tình hình kinh tế xã hội năm 2009
STT Chỉ tiêu chủ yếu Ước thực hiện
I Về kinh tế: 17.38
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) (%). 27,79
Trong đó: Dịch vụ tăng (%). 23,84
+Công nghiệp-xây dựng tăng (%).
+Nông-Lâm-Ngư tăng (%).
6,9
2 Diện tích NTTS (ha). 300
3 Sản lượng khai thác và NTTS (tấn). 5050
+Sản lượng đánh bắt thủy hải sản (tấn). 4639
+Sản lượng NTTS (tấn). 411
4 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (tỷ đồng). 85
5 Tổng thu ngân sách (tỷ đồng). 5,3
6 Tổng chi ngân sách (tỷ đồng). 3,85
7 Bê tông giao thông nông thôn (km). 2,5
II Về văn hóa-xã hội:
1 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD(%) 14
2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%). 1
3 Tỷ lệ hộ nghèo còn dưới (%). 2,7
4 Tỷ lệ hộ dùng điện (%). 100
5 Tỷ lệ hộ dùng nước sạch hợp vệ sinh (%). 99
6 Tạo việc làm mới, xuất khẩu lao động,
định cư sạt lở.
-Tạo việc làm mới (người). 350
-Xuất khẩu lao động (người). 6
12

thủy sản ở khu vực có nhiều biến động đáng kể.
 Đối tượng nuôi
Việc chọn đối tượng nuôi có ý nghĩa rất quan trọng trong nuôi trồng
thủy sản, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi vụ nuôi. Khu
vực thị trấn Thuận An có điều kiện sinh thái đa dạng, bao gồm hệ sinh thái
nước ngọt, mặn và lợ. Do vậy đối tượng nuôi trồng thủy sản rất phong phú,
trong đó có nhiều loài có giá trị rất lớn như: Cá rô phi, cá mè, cá trôi, cá trắm,
cá chép…(mô hình nuôi cá nước ngọt), tôm sú, tôm rảo, cá mú, cá chẽm, cá
dìa, cá nâu, cá đối, cá kình, cua…
 Hình thức nuôi
Trong vùng, tồn tại các hình thức nuôi như nuôi thâm canh, quảng canh
cải tiến, bán thâm canh và chắn sáo. Tùy thuộc vào khả năng đầu tư hay điều
kiện của từng vùng mà người dân có thể lựa chọn những hình thức nuôi phù
hợp. Do đó mà tỷ lệ diện tích của các hình thức nuôi khác nhau cũng thay đổi.
Bảng 5: Diện tích các hình thức nuôi khác nhau tại thị trấn Thuận An
Hình thức nuôi Diện tích (ha)
2004 2005
Thâm canh 83,0 93,0
Bán thâm canh 76,8 86,8
Chắn sáo 150,0 130,2
(Nguồn: Báo cáo tổng kết thuỷ sản năm 2004 – 2005)
14
 Sự phát triển của các hình thức nuôi ở mật độ khác nhau
Trong những năm đây, việc độc canh tôm sú đã gây ô nhiễm nghiêm
trọng do sự tồn động các sản phẩm thải từ việc nuôi tôm, các hóa chất kháng
sinh trong môi trường nước. Trước tình hình đó, Ủy Ban Nhân Dân thị trấn đã
hướng dẫn bà con ngư dân chuyển sang một hình thức nuôi với mật độ phù hợp
nhằm hạn chế dịch bệnh do nuôi tôm trước đó, tận dụng được nguồn thức ăn có
trong ao nuôi cũng như nguồn thức ăn cung cấp, cải thiện môi trường sinh thái
và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việc chuyển đổi này đã thu được nhiều kết quả

đông đến 160
0
tây, vĩ tuyến
26
0
bắc đến 25
0
vĩ tuyến nam, cá chẽm còn tìm thấy khắp phía bắc Châu Á
đến tận Đông Châu Phi.
• 2.5.3.2 Phân bố theo sinh thái
Cá chẽm là loài rộng muối có thể sống ở các vùng nước mặn, lợ, ngọt,
cá có tính di cư xuôi dòng. Cá thành thục thường được tìm thấy ở các đầm hồ
nước lợ, các vùng cửa sông nơi có độ mặn cao và ổn định (30-32‰), độ sâu
từ 10-15m. Ấu trùng mới nở (15-20 ngày tuổi dài 1cm) thường phân bố ở các
đầm hồ nước lợ trong khi cá bột cở trên 1cm thường tìm thấy ở các hồ nước
16
ngọt. Trong điều kiện tự nhiên thì cá chẽm thường sống ở đó và đến giai đoạn
thành thục thì di cư ra các vùng nước sâu có độ mặn cao để sinh sản.
Vòng đời của cá chẽm được thể hiện qua sơ đồ sau:
Bãi sinh sản
(độ mặn 30-32‰)
Bãi sinh trưởng Bãi sinh trưởng của cá con
(Thủy vực nước ngọt lợ) (độ mặn 25- 30‰)
2.5.4. Khả năng thích ứng với môi trường
- Độ mặn: Cá chẽm là loài rộng muối, cá có thể sống được ở độ mặn
từ 0-32‰ thậm chí 45‰. Nhưng khoảng thích hợp nhất cho cá
chẽm phát triển là 20-25‰.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích ứng cho cá chẽm phát triển 26-32
0
C, thích

khi cá tuổi 1
+
đạt chiều dài 30cm, 3
+
đạt 58cm, khi 4
+
đạt 69cm.
Trong điều kiện môi trường nuôi thì:
- Cá 30 tuổi đạt chiều dài: 13,0mm.
- Sau 5-7 tháng tuổi cá đạt trọng lượng: 0,2-0,4 kg/con.
- Sau 1+ thì cá đạt: 600-1000gam.
- Sau 2-3 năm nuôi thì cá có thể đạt: 3-5kg/con.
2.5.6. Sức sinh sản và phát triển của loài cá chẽm
Phân biệt đực cái: Vào mùa sinh sản ta có thể phân biệt cá đực và cá cái
như sau:
- Mõm cá đực cong, cá cái thẳng.
- Cơ thể cá đực thon hơn cá cái.
- Trọng lượng cá đực nhỏ hơn cá cái.
- Bụng cá cái to hơn cá đực vào mùa sinh sản.
Sự chuyển đổi giới tính: Trong vòng đời của cá chẽm có sự chuyển đổi
giới tính, giai đoạn đầu hầu hết là cá đực, sau đó trải qua ít nhất một lần sinh
sản thì chuyển đổi thành cá cái. Phần lớn những cá có kích thước lớn hơn là
cá cái, ngoài tự nhiên sự chuyển đổi giới tính thường được phát hiện khi cá
đạt cỡ tuổi 7
+
và kích thước khoảng 90cm. Tuy nhiên trong điều kiện nhân tạo
kích thuớc này có thể nhỏ hơn. Mặc dù vậy trong quần đàn vẫn một số ít cá
thể phát triển trực tiếp thành cá cái hoặc cá đực mà không trải qua giai đoạn
chuyển đổi giới tính.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status