TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ
TỈ LỆ SỐNG CỦA CÁ THÁT LÁT CÒM (Chitala ornata)
GIAI ĐOẠN BỘT LÊN GIỐNG ƯƠNG TRONG BỂ
COMPOSITE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ
Sinh viên thực hiện NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG ii
TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát
Lát Còm (Chitala Ornata) giai đoạn bột lên giống ương trong bể
composite” đã được thực hiện từ tháng 02/2009 – 07/2009 tại Trại nghiên
cứu thực nghiệm, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ nhằm góp phần hoàn
thiện qui trình ương cá Thát Lát trong vùng. Thí nghiệm được tiến hành trong
vòng 2 tháng trên 9 bể composite có cùng thể tích 60L; với 3 nghiệm thức 1
con/L, 2 con/L, 3 con/L và 3 lần lập lại. Số liệu sau khi thu đã được xử lý
thống kê, phân tích, đánh giá và so sánh để đưa ra những nhận xét.
Kết quả cho thấy ở giai đoạn 30 ngày tuổi cá có tốc độ tăng trưởng tuyệt đối
về khối lượng và chiều dài là khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các
nghiệm thức (p>0,05). Và tỉ lệ sống ở NT II (61,7%) là khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với NT I (94%) và NT III (94,3%). Giai đoạn 30-60 ngày tuổi, tốc
độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài cá là khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05), tăng trưởng nhanh nhất ở mật độ 1 con/L (0,07 g/ngày), thấp nhất ở
mật độ 3 con/L (0,01 g/ngày). Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng giữa
NT I và NT III là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05), khác biệt giữa NT II
với NT I và NT III là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tốc độ tăng trưởng
cao nhất ở NT I là 0,08 cm/ngày, thấp nhất ở NT III 0,05 cm/ngày. Tỉ lệ sống
cao nhất ở NT III (88,2%), thấp nhất ở NT II (61,7%) khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai nghiệm thức (p<0,05). Nghiệm thức I có tỉ lệ sống 78,7%
khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với NT I và NT III. Kết quả ương saau
60 ngày ở mật độ 3 con/L sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người sản
2.4 Đặc điểm sinh sản 5
2.5 Sinh học Moina 6
2.6 Sinh học trùn chỉ 6
2.7 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam 6
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Vật liệu nghiên cứu 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 8
3.2.2 Thực nghiệm ương 9
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể 9
3.2.3.1 Thời gian cho cá ăn 9
iv
3.2.3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương 10
3.2.3.3 Cách thức cho ăn và bào quản thức ăn 10
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể 10
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu 11
3.3.1 Mẫu nước 11
3.3.2 Mẫu cá 11
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 12
3.4 Phương pháp thu, tính toán và xử lý số liệu 12
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Các yếu tố môi trường 13
4.1.1 Thủy lý 13
4.1.1.1 Nhiệt độ 13
4.1.2 Thủy hóa 14
4.1.2.1 pH 14
4.1.2.2 Hàm lượng oxi hòa tan 14
4.1.2.3 Độ kiềm (NH
4
+
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số lượng cá bố trí ở các nghiệm thức 9
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu môi trường trong nuôi Thát Lát Còm 9
Bảng 3.3 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương 11
Bảng 4.1 Kết quả trung bình của các chỉ tiêu môi trường 13
Bảng 4.2 Độ tăng khối lượng trung bình và chiều dài trung bình của cá ở 2 giai
đoạn 1-30 ngày tuổi và 30-60 ngày tuổi 15
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình của cá ở 2 giai đoạn 1-30
ngày tuổi và 30-60 ngày tuổi 17
Bảng 4.4 Tỉ lệ sống trung bình của cá ở các nghiệm thức sau 60 ngày tuổi 19
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
NT Nghiệm thức
1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Nhờ vào sự ưu đãi của thiên nhiên, Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) với
tổng diện tích mặt nước 954.350 ha, chiếm gần 1/4 diện tích của ĐBSCL,
chủ động nguồn giống là rất quan trọng. Nhưng nguồn cá giống vớt từ tự
2
nhiên hoàn toàn không thể đáp ứng đủ nhu cầu bức thiết đó. Và một nhược
điểm lớn của nguồn giống này là cá có kích thước không đồng đều, cá thường
bị xây xát trong quá trình đánh bắt vận chuyển nên dễ bị mắc bệnh. Mặc khác
nguồn giống cá Thát Lát Còm ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức nên
không đáp ứng về cả số lượng lẫn chất lượng cho người nuôi trong khi nhu
cầu con giống ngày càng cao. Trong khi đó con giống sản xuất nhân tạo có thể
khắc phục được nhược điểm này. Tuy cá có thể sinh sản ngoài tự nhiên tốt
nhưng sinh sản nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động nguồn
giống, bảo vệ nguồn cá tự nhiên cũng như đóng góp vào việc thuần hóa đối
tượng này thành đối tượng nuôi đạt hiệu quả cao. Trước nhu cầu bức thiết về
con giống với số lượng lớn, chất lượng cao như hiện nay thì việc đầu tư
nghiên cứu ở giai đoạn con giống là rất phù hợp. Do đó đề tài “Ảnh hưởng
của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát Lát Còm (Chitala
Ornata) giai đoạn bột lên giống ương trong bể composite” đã được tiến
hành.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá
Thát Lát Còm bột trong điều kiện ương với các mật độ khác nhau nhằm tìm
được mật độ ương thích hợp để ương nuôi cá đạt hiệu quả, từ đó làm tư liệu
góp phần xây dựng qui trình ương cá Thát Lát trong vùng.
1.3 Nội dung của đề tài
Để đạt được những mục tiêu trên, cần thực hiện những công việc sau đây:
(1) Theo dõi một số chỉ tiêu môi trường: pH, nhiệt độ, COD, NH
4
+
.
(2) Khảo sát sự tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Thát Lát ương với 3 mật độ
Thát Lát Còm có hình thái và màu sắc đẹp, hình dáng bên ngoài rất giống với
cá Thát Lát nhưng trên thân có nhiều đốm tròn đen vó viền trắng và phân bố
dọc theo vây hậu môn. Cá có thân hình dẹp bên, cao, phủ vẩy tròn rất nhỏ.
Viền lưng cong và nhô cao. Độ cong của lưng tăng dần theo sự lớn lên của cá.
Đầu nhọn, miệng rộng hướng về phía sau ổ mắt. Vây lưng nhỏ và nằm ở giữa
4
lưng. Vây hậu môn rất dài bắt đầu từ mép vây ngực kéo dài về phía sau và nối
liền với vây đuôi nhỏ.
Vây lưng: 8 - 9, vây ngực: 13 - 15, vây đuôi, vây hậu môn: 128 - 130, vảy
đường bên 168 - 185. Gai sườn bụng 37 - 38. Đầu nhỏ, dẹt bên. Miệng trước,
rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mặt, xương hàm trên phát triển. Răng nhiều,
nhọn, mọc trên hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khầu
cái, trên xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám răng nhỏ mịn trên xương
bướm phụ, có một đôi râu mũi ngắn nhỏ, mặt nhỏ (Sách đỏ Việt Nam).
Cá có màu xám bạc, lưng sẫm hơn. Cá trưởng thành có 4 -10 đốm đen, viền
trắng nằm dọc phía trên vây hậu môn. Lúc cá còn nhỏ thân có 10 -15 sọc đen
ngang thân. Khoảng 2 tháng tuổi phần dưới của các sọc này xuất hiện các đốm
nâu tròn. Cá càng lớn, đốm càng rỏ nét trong khi các sọc mờ dần rồi mất hẳn.
Trong điều kiện tự nhiên, cá nàng hai sống ở tầng giữa và tầng đáy. Ban ngày
cá thường ẩn nấp trong đám thực vật thủy sinh. Ban đêm cá hoạt động nhiều
hơn, cá bơi lội chậm , nhẹ nhàng, vây hậu môn hoạt động liên tục như làn
sóng. Cá thích sống môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn , nước trung
tính pH dao động từ 6,5 - 7. Cá có kích thước và trọng lượng nhỏ thì tiêu hao
oxy lớn và ngược lại. Tiêu hao oxy trung bình của cá là 0.59 mgO
2
/g/giờ ở
nhiệt độ 28 - 29
o
C nhiệt độ thích hợp cho cá từ 26 - 28
Chép nhưng không nuôi với cá Lóc. Ngoài ra cá cũng có khả năng sống ở điều
kiện nước có độ cứng khoảng 6ppm (Dương Nhựt Long, 2004).
2.4 Đặc điểm sinh sản
Cá có chiều dài 20 cm, trọng lượng có thể đạt đến 2 kg có sức sinh sản tối đa
khoảng 1.500 trứng. Trong điều kiện tự nhiên cá tự tái phát dục sau 7 - 10 tuần
và có thể sinh sản hai đến ba lần trong mùa mưa. Cá được nuôi trong ao, hồ có
thể chủ động nuôi thành thục cho sinh sản kéo dài từ tháng 2 đến tháng 11 nếu
được nuôi dưỡng đúng mức và cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng.
Sau khi con cái đẻ xong con đực sẽ theo sau thụ tinh cho trứng và bảo vệ
trứng, dồn trứng thành cụm và quạt nước cung cấp dưỡng khí cho trứng. Số
lượng trong một lần đẻ khoảng 100 - 150 trứng và đẻ thành nhiều đợt, mỗi đợt
khoảng 10 - 15 trứng. Trong tự nhiên cá thường đẻ ở vùng nước cạn có thực
vật thủy sinh. Tuỳ vào nhiệt độ, thời gian nở của trứng sẽ khác nhau, ở 24
o
C
trứng sẽ nở 5 - 6 ngày (Dương Nhựt Long, 2004).
2.5 Sinh học của Moina
Moina thuộc họ Daphnidae. Toàn bộ cơ thể phủ bởi vỏ giáp, hình dẹp, không
phân đốt. Moina sinh sống trong các ao hồ chứa nhưng chủ yếu chiếm cứ
trong các ao hoặc mương tạm thời. Thời gian đạt tới thành thục sinh sản chiếm
khoảng 4-5 ngày ở 26
0
C. Vào giai đoạn trưởng thành những đặc điểm lưỡng
hình theo giới tính rõ ràng có thể quan sát thấy về kích thước của con vật và
hình thái học của râu. Con đực (0,6-0,9 mm), con cái (1,0- 1,5 mm). Con đực
có đôi càng dài dùng để giữ con cái trong lúc giao cấu. Con cái thành thục giới
tính mang chỉ có hai trứng được bao bọc trong một hố yên mà hố yên này là
một phần của vỏ giáp ngoài phần lưng (Trần Ngọc Hải và Trần Thị Thanh
Hiền, 2000).
Cá nước ngọt có 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống, trong đó có nhiều loài
có giá trị kinh tế cao; cá nước lợ, mặn có 186 loài chủ yếu. Ngoài ra còn có
tôm, nhuyễn thể…là những loài có giá trị kinh tế trong vùng. Tuy nhiên khả
năng khai thác thủy sản nội địa chỉ khoảng 200 ngàn tấn/năm do diện tích khai
thác bị thu hẹp dần và sự quản lí khai thác thiếu chặt chẽ.
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng được thiên nhiên rất ưu
đãi về tiềm năng thủy sản. Nơi đây có diện tích mặt nước và có nhiều điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản (Phụ
lục E), với sự phong phú và đa dạng về các chủng loại cá cũng như các loại
7
hình thủy vực và chất nước nhất cả nước. Nghề khai thác thủy sản ở đây đã
được người dân biết đến từ rất sớm với những cấp độ thô sơ và hiện đại khác
nhau. Song song đó nuôi trồng thủy sản cũng được chú ý ngay từ buổi đầu, và
nó cũng không ngừng được cải tiến theo sự phát triển của xã hội. Nuôi trồng
thủy sản đã phát triển từ những hình thức đơn giản như giữ nuôi cá trong nhà
để phục vụ những bữa ăn gia đình cho đến những mô hình đơn canh, đa canh,
thâm canh, Các hình thức nuôi này đã trở nên quen thuộc với những nông
dân trong nghề thủy sản. Không dừng lại ở phạm vi nuôi trong vùng nước
ngọt, mà đã có rất nhiều thử nghiệm ương nuôi cá ở nước lợ và những vùng
nước có độ mặn tương đối cao (Phụ lục F). Và phần lớn kết quả của những
nghiên cứu đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thu nhập cho người
dân. Nếu như giá trị từ sản phẩm khai thác đã từng đóng góp phần lớn vào
kim ngạch xuất khẩu, thì ngày nay giá trị đó đã giảm nhiều và thay vào đó là
các sản phẩm từ nuôi trồng. Trong đó nuôi trồng thủy sản nước ngọt chiếm từ
54-56% trong sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước. ĐBSCL là vùng cung
cấp sản phầm nuôi nước ngọt lớn nhất cả nước chiếm 63,1% (2003) tổng sản
lượng cả nước (Phụ lục G).
Ba nghiệm thức thí nghiệm I, II, III và 3 lần lập lại 1, 2, 3. Các bể được đặt
song song nhau một cách ngẫu nhiên. Mỗi bể đều có lưới đậy kín để phòng cá
nhảy ra ngoài. Lưới đậy phải đảm bảo được giặt sạch trước khi sử dụng nhằm
tránh mầm bệnh.
Nước được lấy từ sông vào ao lắng lục bình, nước được bơm từ ao lắng vào hệ
thống bể lọc. Hệ thống bể lọc gồm 5 bể lọc trung gian và một bể chứa trung
tâm, tất cả được âm dưới đất. Trong mỗi bể lọc chứa đá to, đá nhuyễn và cát.
9
Nước được cấp lên hệ thống bể thí nghiệm thông qua máy bơm đặt ở bể chứa
trung tâm. Nước qua lưới lọc và được kiểm tra các yếu tố môi trường, đảm bảo
các yếu tố môi trường thõa mãn những chỉ tiêu môi trường trong ương nuôi cá
Thát Lát.
Bảng 3.1: Những chỉ tiêu môi trường trong nuôi Thát Lát Còm (Nguyễn
Chung, 2006).
Chỉ tiêu pH DO (mg/l) H
2
S (mg/l) CO
2
(mg/l) NH
4
(mg/l)
Giá trị 6.5- 8.0 > 4 < 0.1 8-14 < 1.0
3.2.2 Thực nghiệm ương
Sau khi đã cấp nước từ bể lọc vào các bể composite đã chuẩn bị, lượng nước
cấp đều (50l/1bể) cho 9 bể. Đặt giá thể ny lông (màu đen) vào mỗi bể. Giá thể
dài khoảng 60 cm, được xé nhỏ và cột lại thành chùm, giặt và phơi vài nắng
(đối với ny lông mới mua về), ny lông cũ có thể dùng ngay sau khi đã được
giặt sạch và buộc đá vào giữa giá thể để tránh cho chúng nổi lên mặt nước.
Lấp hệ thống sục khí để đảm bảo cung cấp đủ oxi cho cá trong mọi điều kiện.
100
150
3.2.3 Quản lý thức ăn và nước trong bể
3.2.3.1Thời gian cho cá ăn
Cá được cho ăn mỗi ngày 2 lần (9h và16h30) với 3 loại thức ăn ứng với các
giai đoạn khác nhau.
10
3.2.3.2 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương
Cá ở giai đoạn 5-8 ngày tuổi cho ăn Moina, kế đó là trùn chỉ đến ngày thứ 35,
sau đó chuyển hẳn qua cá tạp biển.
3.2.3.3 Cách thức cho ăn và bảo quản thức ăn
a. Moina: Moina mua về được đổ vào trong thao lớn chứa 2/3 nước và có
sục khí mạnh; đến khi cần vớt Moina thì tắt sục khí và dùng vợt mịn đảo theo
vòng tròn, việc đảo theo vòng tròn giúp ta loại bỏ được xác của những con
Moina chết. Sau khi vớt đủ lượng Moina cần thì ta đặt sục khí vào ngay để
tránh thiếu oxi cho những con còn lại. Với cách bảo quản này thì Moina có thể
được bảo quản trong vòng 1-2 ngày và tỉ lệ sống khoảng trên 70%. Khi sử
dụng Moina cho cá ăn ta có thể rải đều trong bể hoặc để ở một góc bể, đều
không ảnh hưởng tới khả năng bắt mồi của cá.
b. Trùn chỉ: Trùn chỉ mua về được rửa vài lần để loại bỏ bớt bùn, sau đó
đặt trùn chỉ vào một cái thao chứa một ít nước. Cho nước chảy tràn nhẹ trong
suốt quá trình bảo quản trùn chỉ. Với cách này ta có thể giữ cho trùn chỉ không
bị chết nhiều và trùn sẽ sạch hơn. Khi vớt trùn chỉ cho cá ăn ta chỉ cần dùng
vợt vớt và rửa lại bằng nước sạch vài lần là được. Khi cho cá ăn bằng trùn chỉ
ta nên gom lại một góc nhưng lấy một ít trùn khuấy động trên mặt nước để
kích thích khả năng nhận biết thức ăn của cá.
c. Cá tạp: Cá tạp mua về được trữ trong tủ đông, do đó ta có thể mua đủ
bể)
1-8 0.5
0
0
9-16 0
0.5
0
17-24 0
0.7
0
25-32 0
0.9
0
33-59 0
0
1
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG, g/ ngày) = 3.2
3.4 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu
Thông tin thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp chí.
Số liệu sơ cấp lấy từ kết quả đo đạt trong quá trình thí nghiệm.
Số liệu sau khi nhập được xử lý bằng chương trình Excel và so sánh thống kê
bằng phương pháp phân tích ANOVA với phần mềm Statistical 11.5. Wc - W đ
t
Tổng số cá giống thu
đươc
Tổng số cá bột
13
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các yếu tố môi trường
yếu tố nhiệt độ có thể là nhờ vào nguồn nước cấp luôn đầy đủ cộng với việc si
phông đáy bể thường xuyên, thay nước đều đặn hệ thống bể thí nghiệm và
không có sự thay đổi nhiệt độ đột ngột của môi trường. Nhiệt độ là nhân tố
quan trọng vì nó ảnh hưởng rất nhiều tới các hoạt động sống của sinh vật như:
sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư thủy sinh vật Và nhiệt độ đặt biệt
quan trọng đối với những loài động vật biến nhiệt. Khi nhiệt độ cao thì nhu
cầu oxi của chúng tăng và ngược lại. Nhiệt độ cơ thể cá chỉ chênh lệch với
nhiệt độ môi trường khoảng 0,5 – 1
0
C. Thường nhiệt độ thích hợp cho đa số
các loài cá nuôi là từ 20 – 30
0
C. Giới hạn cho phép là từ 10 – 40
0
C, nếu nhiệt
độ lớn hơn 40
0
C hay nhỏ hơn 10
0
C ít loài nào có khả năng sống sót (Trương
Quốc Phú, 2006).
Bảng 4.1: Kết quả trung bình của các chỉ tiêu môi trường
Các chỉ tiêu theo dõi Nghiệm thức
I II III
Nhiệt độ trung bình (
o
C)
Sáng 26,9±0,55
0,5±0,00
0,5±0,00
NH
+
4
trung bình (mg/L) Sáng 0,5±0,00
0,5±0,00
0,5±0,00
Chiều 0,5±0,00
0,5±0,00
0,5±0,0014
4.1.2 Thủy hóa
4.1.2.1 pH
Kết quả thí nghiệm có độ pH buổi sáng từ 7,6- 7,8 buổi chiều từ 7,9- 8,1. Ở
mật độ 1 con/L có giá trị pH thấp nhất (sáng: 7,6; chiều:7,9), mật độ 2 con/L
có pH cao hơn (sáng: 7,7; chiều: 8,1) và pH cao nhất ở mật độ 3 con/L (sáng:
7,8; chiều: 8,1) (Bảng 4.1). Độ biến động pH trong ngày không lớn, pH chênh
lệch giữa buổi sáng và buổi chiều khoảng 0,3 đơn vị do đó ta có thể kết luận
pH trong suốt quá trình thí nghiệm không gây hại đến sự tăng trưởng của cá.
4
+
trong nước
rất cần thiết cho sự phát triển của các sinh vật làm thức ăn tự nhiên, nhưng nếu
15
hàm lượng NH
4
+
quá cao sẽ làm cho thực vật phù du phát triển quá mức không
có lợi cho cá (thiếu oxi vào sáng sớm, pH dao động ). Hàm lượng NH
4
+
thích
hợp cho ao nuôi thủy sản là 0,2- 2 mg/L.
4.2 Ảnh hưởng của mật độ lên sự tăng trưởng của cá ương từ 1 ngày tuổi
đến 30 ngày tuổi.
Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng cá trong 30 ngày đầu được trình
bày ở Bảng 4.2.
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của cá Thát Lát Còm
ở 2 giai đoạn 1-30 ngày tuổi và 30- 60 ngày tuổi.
Nghiệm thức
Các chỉ tiêu tăng trưởng
I
(Mật độ 1
con/L)
II
(Mật độ 2
con/ L)
III
1,63±0,15
1,60±0,38
Chiều dài trung bình cá giống 30 ngày
(cm/con)
7,77±0,60
7,27±0,15
6,83±0,91
Chiều dài trung bình cá giống 60 ngày
(cm/con) 10,12±0,32
a
9,08±0,15
ab
8,18±0,93
b
Độ tăng chiều dài trung bình (cm/con) 6,13
5,64
5,23
(Những giá trị trong cùng một hàng có những chữ cái a, b, c khác nhau là khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p<0,05)
4.2.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi
Trong giai đoạn 30 ngày tuổi đầu, sự tăng trưởng về chiều dài của cá không