SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Quế là loại nguyên liệu dễ trồng, dễ kiếm, có giá trị kinh tế rất cao. Trong sản xuất
thực phẩm, tinh dầu quế được bổ sung vào các loại bánh, kẹo, nước giải khát… nhằm
tăng giá trị cảm quan và hương thơm đặc trưng cho sản phẩm.
Bên cạnh đó tinh dầu quế rất tốt trong việc chữa cảm cúm và bị lạnh hay co thắt vùng
ngực hoặc chữa chứng ho. Tinh dầu quế có thể làm dừng lại cơn ho trong một vài giờ sau
khi thoa tinh dầu lên ngực của mình. Chúng ta có thể pha chế tinh dầu quế với một vài
loại kem dưỡng và xoa bóp quanh cổ để chữa đau đầu, có thể sử dụng riêng tinh dầu quế
hoặc có thể pha chế cùng với Lavender. Tinh dầu quế rất có ích cho việc chữa trị các
chứng đau đầu, căng thẳng hay những chứng bất an, những vấn đề có liên quan đến áp
lực về tâm lý. Tinh dầu quế cũng rất tốt trong việc chữa các chứng bệnh về đường tiêu
hóa, tinh dầu quế có thể tạo ra hơi hoặc làm co bóp, thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động tốt
hơn sau các bữa ăn.
Tuy nhiên để trích ly tinh dầu quế đạt hiệu quả cao cần phụ thuộc vào các yếu tố
là: chế độ nghiền ( kích cỡ ), thời gian chưng cất, tỉ lệ cái/nước và hàm lượng muối.
Do đó đề tài: “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trích ly tinh dầu quế bằng
phương pháp chưng cất hơi nước tại phòng thí nghiệm công ty Olam Việt Nam”. Nhằm
tìm ra các điều kiện tối ưu để trích ly tinh dầu và sử dụng rộng rãi cho các lĩnh vực thực
phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm,…
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 1
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Chương 1 – TỔNG QUAN NGUYÊN LIỆU
1.1. Giới thiệu về Quế
Tên khoa học: Cinnamomum cassia.BL
Thuộc giống: Cinnamomum
Họ: Lauraceae
Tên Việt Nam: cây quế
Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quan, Quế Đơn, Quế Bì, Quế Trung Quốc
Tên tiếng Anh: Cinnamon
1.2.2. Thời vụ trồng
Cây trồng bằng hạt (phổ biến), chồi non hoặc chiết cành. Hạt lấy từ quả chín đem đi
ươm. Sau 18 - 26 tháng, khi cây cao 60 - 70cm thì bứng đem đi trồng. Cây được trồng
vào 2 mùa chính là mùa xuân và mùa thu. ( Vũ Ngọc Lộ và ctv, 2009)
1.2.3. Thu hái
Trồng theo mật độ là 3m x 3m thì thu hoạch một lần sau 10 năm (phổ biến) hoặc 1.5m
x 1.5m thì thu hoạch nhiều lần sau 4 – 5 năm.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 3
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Quế thường thu hoạch vào tháng 4 - 5 (đầu vụ mưa) và tháng 8 - 9 (cuối vụ mưa).
Năng suất có thể đạt 2 - 2.2 tấn vỏ/ha/năm, chưa kể cành và lá nhỏ để cất tinh dầu. ( Vũ
Ngọc Lộ và ctv, 2009)
1.3. Giới thiệu về các loại quế
1.3.1 Quế Thanh
Tên tiếng Anh: Cinnamomum Loureirii Garc.ex BL.
Tên gọi khác: Quế Quỳ
Hình 1.2: Quế thanh
Đặc điểm: Quế thanh, quế quỳ hay quế Thanh Hóa C. loureirii là loài cây cao 12-20m,
cành mọc có bốn cánh, dẹt, nhẵn, lá hơi hình trứng đầu hẹp lại, hơi nhọn, hoa màu trắng
mọc thành chùy ở kẽ lá hay đầu cành, quả hạch hình trứng, lúc đầu xanh lục, khi chín ngả
màu nâu tím, mặt quả bóng
(*)
. Như quế quan, trồng quế thanh có ba cách : gieo hạt, chiết
cành (quế mỏng, kém giá trị) hay bới cây hoang về. Sau 5 năm, có thể bắt đầu thu hoạch
nhưng theo kinh nghiệm, cây quế càng lâu năm (20-30 năm hay lâu hơn) càng tốt. Lúc
trước quế thanh được xếp thành 4 hạng : quế phiến thuộc hạng tốt nhất, thứ đến quế tâm
thẻ tương đối nhỏ hơn,, sau là quế bao tức quế vụn và sau cùng quế nhọn là vỏ các cành
nhỏ. Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi, việc bóc vỏ quế tiến hành vào các tháng 4-5 và 9-10, lúc
quế lắm nhựa, dễ bóc, tránh bóc sót lòng bị coi là kém giá trị. Phần vỏ lấy từ cách mặt đất
0,20-0,40 cm đến 1,20 m gọi là quế hạ căn coi là kém. Từ 1,20 m trở lên đến chỗ quế
humulen oxyd, α-muurolol, α-cadinol. Còn trái cây thì chứa đựng nhiều linalool bên cạnh
α- và β-pinen, β-caryophyllen, γ-cadinen, α-muurolol. Hóa chất trong tinh dầu chiết xuất
từ lá cây thay đổi với nơi cây mọc : α-ylangen, methyl và ethyl cinnamat ở Sri Lanka,
eugenol và benzyl benzoat ở Ấn Độ, α-pinen, β-phellandren, p-cymen, α-carophyllen,
benzyl, cinnamyl và eugenyl acetat ở Trung Hoa. Ở Brazyl, tinh dầu lá cây chứa đựng
(%) 58,7-55,1 eugenol, 29,6-38,5 safrol và dầu vỏ cây 54,7-58,4 cinnamaldehyd.
Về mặt dược liệu, quế Sri Lanka là một cây có tính chất sát trùng
(5)
, rất có hiệu quả
chống những trùng Gram-âm và Gram-dương với nồng độ 200 và 500 ppm
(12)
. Vỏ cây
chống nấm mạnh hơn lá cây
(5)
. Tinh dầu cây có tác dụng khử nấm, đặc biệt nấm da
(9)
.
Dầu vỏ cây bên Ấn Độ có khả năng khử những nấm Aspergillus niger, A. fumigatus, A.
nidulans, A. flavus, Candida albicans, C. tropicalis, C. pseudotropicalis và Histoplasma
capsulatum gây bệnh trong các ống hô hấp nên có thể dùng hơi dầu để chữa bệnh nấm
nầy ; hoạt chất được xác định là cinnamaldehyd
(6)
. Dầu cây ở Pakistan, ngoài Aspergillus
niger, A. flavus, Candida albicans, còn rất hiệu nghiệm chống những nấm Fusarium
oxysporum, Microsporum canis, Pseudallescheria boydii, Trichophyton mantagrophytes,
T. simii
(16)
. Ở Ghana, dầu đã được dùng để ức chế một số độc tố aflatoxin trên những bao
chứa đậu phụng do các loài nấm như Aspergillus flavus, A. parasiticus, A. niger, A.
candidus, A. tamarii, A. ochraceous, Fusarum spp., Penicillum spp., Mucor sp.,
thùy (ĐTL). Phần chiết nước chứa đựng cinzeylanin, cinzeylanon, anhydrocinzeylanin,
anhydrocinzeylanon. Có tính chất suy giảm miễn dịch, nó gồm có coumarin, t-cinnamic
acid, α-sitosterol và protocatechuic acid. Những chất nầy cũng được tìm ra trong cành
cây. Vỏ cành cây chứa cinnamic acid, coumarin, cinnamyl acetat, hydroxy
cinnamaldehyd… bên cạnh thành phần chính (62,4%) cinnamaldehyd. Chất nầy cũng là
thành phần chính của dầu vỏ cây với eugenol, coumarin, t-cinnamic acid, α-sitosterol, …
Quế đơn đem từ Việt Nam qua trồng bên Trung Hoa có tên là C. cassia macrophyllum :
số lượng dầu chiết xuất nói chung vượt hẳn quế bản xứ (%) : 2,0 (so với 1,98) ở vỏ ; 0,36
(so với 0,69) ở cành ; 1,96 (so với 0,37) ở lá ; cinnamaldehyd sản xuất cũng lớn hơn (%) :
61,20 (so với 52,92) ở vỏ ; 77,34 (so với 64,75) ở lá. Người Trung Hoa đánh giá quế ta
tốt hơn quế họ để sản xuất thuốc chữa bệnh
(19)
.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 7
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Về mặt dược liệu, quế Trung Quốc là một thuốc khử nấm (26), chống dị ứng (17), ung
thư dạ dày, tiêu chảy, làm đổ mồ hôi
(18)
, kháng những chất gây đột biến benzopyren và
cyclophosphamid. Chống oxi hóa, nó kháng lại H
2
O
2
phá hoại tế bào V-79-4 , chất 1,1-
diphenyl-2-picryl hydrazyl có tính chất ngăn chặn mọi hoạt động của prolyl
endopeptidase với nồng độ 40 ppm
, hơn 80% hoạt động của aldose reductase ở chuột với
0,01 mg/mL ; những nhà khảo cứu Hàn Quốc đề nghị dùng nó làm thuốc chữa bệnh đái
tháo đường. Riêng cinnamaldehyd giảm sự cấu tạo malondialdehyd và hoạt động
Trong thực vật, tinh dầu được tạo ra và tích trữ trong các mô dưới những tên gọi khác
nhau như:
Tế bào tiết: tế bào tiết ra tinh dầu rồi giữ luôn trong lòng tế bào (mô tiết), ví
dụ: cánh hoa hồng, củ gừng, củ nghệ, hạt tiêu…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Hình 1.5: Tế bào tiết
Lông tiết: giống tế bào tiết nhưng nằm nhô ra ngoài bề mặt thực vật thường có
ở các họ hoa môi, cúc, phong lữ, cà…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 9
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Hình 1.6: Lông tiết
Túi tiết: các tế bào tiết ra tinh dầu như không giữ lại bên trong mà dồn chung chứa
vào một xoang trống, tròn nằm dưới biểu bì, ví dụ như các túi chứa tinh dầu trong vỏ
các trái cam, chanh, quýt, bưởi…( Lê Ngọc Thạch, 2003)
Hình 1.7: Túi tiết
Ống tiết: cách tạo thành giống túi tiết nhưng nằm sâu bên trong phần thân gỗ và chạy
dài theo sớ gỗ, thường thấy trong các cây thông, thiên tuế, trắc bá diệp…( Lê Ngọc
Thạch, 2003 )
Hình 1.8: Ống tiết
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 10
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
1.5.2. Tính chất hóa lý
1.5.2.1. Tính chất vật lý
Tinh dầu ở dạng lỏng ở nhiệt độ thường, trừ một số trường hợp đặc biệt như menthol,
camphor là ở thể rắn.
Tinh dầu có mùi thơm, ít khi có màu hoặc màu vàng nhạt, tuy nhiên có những tinh dầu
chứa azulen có màu xanh, nâu sẫm như tinh dầu quế, và đỏ như tinh dầu Thymus.
Tinh dầu dễ bay hơi nên có thể thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi
nước. Mặc dù không tan hay tan ít trong nước nhưng chúng cũng làm cho nước chưng có
mùi thơm.
Vị của tinh dầu thường cay và hắc, một số có vị ngọt như tinh dầu quế.
+ Thành phần hóa học của tinh dầu
− Hydrocacbon :
• Terpenic : Limonen, Camphen, Pinen …
• Parafin
• Ancol : methanol, ethanol, citronellol, geraniol, linalol, mentol…
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 12
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
• Phenol và ete phenolic : aneton, safrol tymol, anetol, eugenol …… có tính chất
sát trùng và được sử dụng để điều chế các chất tẩy trùng. Các phenol khác có
đặc tính estrogen hay kìm hãm nội tiết tố.
• Aldehyde: có tính khử trùng, diệt vi khuẩn, nên thường dùng trong các chất diệt
côn trùng, chất tẩy uế.
− Xeton : mentol, campho, ionon
− Ester
− Acid tự do
− Các hợp chất chứa sulfua, nitơ, halogen …
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 13
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
1.5.3. Hoạt tính sinh học
Hoạt tính kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu trong điều kiện phòng thí nghiệm được hiểu như là
khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn thông qua việc đo đường kính vòng vô khuẩn.
Tinh dầu quế có hoạt tính kháng khuẩn ở nồng độ cao. Mỗi loại tinh dầu quế sẽ có
hoạt tính kháng lại một số chủng vi khuẩn nhất định. Tinh dầu thường tác dụng lên tế bào
chất của vi sinh vật, để tiêu diệt chúng. Do trong tinh dầu quế có thành phần cinnamal có
khả năng kháng khuẩn chiếm tỉ lệ cao trong tinh dầu quế.
Hoạt tính kháng oxy hoá
Tinh dầu có hoạt tính kháng oxy hóa do có chứa dẫn xuất của phenol là cấu phần
chính. Những hợp chất này bắt lấy gốc tự do, không cho phản ứng peroxid xảy ra, bảo vệ
các lipid.
Lượng đường máu cao gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như: tiểu đường, béo phì và các
bệnh tim mạch.
Quế giúp điều chỉnh hàm lượng đường máu bằng cách tăng cường tiêu hóa glucose,
kích thích hấp thụ isulin tốt cho cơ thể.
• An toàn
Các nhà khoa học đã kiểm chứng về độ an toàn của quế, kết quả đã chỉ ra rằng quế có
tác dụng giảm các hợp chất độc hại tiềm ẩn trong cơ thể vì thế rất an toàn cho sức khỏe.
• Chống đông máu
Quế chứa thành phần có khả năng giúp ngăn ngừa việc hình thành những cục máu
đông trong thành mạch vì thế giảm nguy cơ gây đột tử do bệnh tim.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 15
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Kết hợp dùng quế với chế độ ăn uống và tập luyện điều độ sẽ giảm đáng kể nguy cơ
mắc bệnh liên quan đến tim mạch.
• Tốt cho hệ tiêu hóa
Quế là loại gia vị nóng vì thế rất phù hợp với những người hay bị lạnh bụng, uống trà
cho thêm chút quế và gừng sẽ rất dễ chịu.
• Giảm Cholesterol
Tiêu thụ một lượng quế nhỏ có thể giúp làm giảm Cholesterol LDL (Cholesterol xấu).
Đơn giản, chúng ta chỉ cần ăn nửa thìa cà phê bột quế hằng ngày hoặc thêm quế vào cà
phê hoặc trà như một chất làm ngọt dịu nhẹ.
• Chữa bệnh nhức đầu và loại bỏ chứng đau nửa đầu
Quế là một biện pháp tự nhiên khắc phục và loại trừ cơn đau đầu và giảm chứng đau
nửa đầu.
• Chữa ho và cảm lạnh thông thường
Y học Trung Quốc từ lâu đã sử dụng quế như một phương thuốc tự nhiên điều trị
hiệu quả chứng ho và cảm lạnh thông thường.
• Chữa bệnh sâu răng
Quế đã được biết đến với tác dụng giúp giảm đau nhức răng. Đơn giản chỉ cần thực
hiện một miếng dán sử dụng 5 muỗng cà phê mật ong trộn với 1 muỗng cà phê bột quế.
mang thai nên tránh tiêu thụ quế số lượng lớn vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến tử cung của
họ.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 17
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
1.6. Các phương pháp chiết tinh dầu
1.6.1 Phương pháp cổ điển
1.6.1.1. Phương pháp cơ học
Nguyên tắc
Dùng lực cơ học tác dụng vào phần vỏ quả làm vỡ túi tinh dầu, tinh dầu thu được còn
lẫn nước, dịch quả cần phân ly tách khỏi tinh dầu, làm khan, lọc sạch thu được tinh dầu
tinh.
Phương pháp cơ học chủ yếu áp dụng để ly trích tinh dầu vỏ của các trái thuộc họ
Rutaceae như: chanh, cam, quýt, bưởi, tắc…vì trong trường hợp này các túi tinh dầu nằm
sát mặt ngoài vỏ và hàm lượng tinh dầu thường rất cao. Có nhiều cách tiến hành ly trích
hoặc bằng tay hoặc bằng máy như : vắt, ép, nạo xát.
Ưu điểm
Tinh dầu thu được từ phương pháp này có mùi thơm tự nhiên hơn các phương pháp
khác vì sự ly trích xảy ra ở nhiệt độ phòng, không sử dụng dung môi.
Khuyết điểm
Hiệu suất thu hồi tinh dầu thấp, những thủ thuật vắt, nạo xát thủ công không phù hợp
cho sản xuất quy mô lớn. ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
1.6.1.2. Phương pháp tẩm trích
Phương pháp này thường được sử dụng để ly trích tinh dầu từ các loài hoa, hoặc từ các
loại nguyên liệu dùng làm gia vị.
Tẩm trích bằng dung môi không bay hơi,
Nguyên tắc
Dựa vào tính chất tinh dầu có thể hòa tan trong chất béo động vật, thực vật, ngày xưa
người ta đã dùng mỡ động vật (heo, bò, trừu…) và dầu thực vật (olive, hạnh nhân…) làm
dung môi ly trích tinh dầu. Đầu tiên, ngâm hoa tươi vào trong dung môi đang đun chảy
lỏng trong một khoảng thời gian nhất định, tùy theo các loại hoa, làm nhiều lượt cho tới
Thường không có dung môi nào thỏa mãn tất cả những điệu kiện kể trên. Tùy vào điều
kiện cụ thể mà lựa chọn dung môi thích hợp. ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Ưu điểm
Sản phẩm thu được theo phương pháp này thường có mùi thơm tự nhiên. Hiệu suất sản
phẩm thu được thường cao hơn các phương pháp khác.
Khuyết điểm
Yêu cầu cao về thiết bị.
Thất thoát dung môi.
Quy trình tương đối phức tạp.
1.6.1.3. Phương pháp hấp thụ
Phương pháp ướp
Nguyên tắc
Một vài loài hoa như hoa huệ, hoa nhài… có khả năng đặc biệt là sau khi thu hái khỏi
cây vẫn còn tiếp tục tạo ra tinh dầu. Đồng thời dựa vào tính chất của các chất béo động
vật và thực vật có khả năng hấp thụ những hợp chất dễ bay hơi trên bề mặt của chúng. Do
đó, khi hoa tiếp xúc với các chất béo có trong một khoảng thời gian nhất định, hương
thơm do hoa tiết ra sẽ được chất béo hấp thụ. ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Ưu điểm
Phương pháp này cho hiệu suất ly trích cao đối với những loại hoa sau khi hái vẫn còn
tạo thêm tinh dầu. Vì tiến hành ở nhiệt độ thường nên sản phẩm sẽ giữ được mùi thơm tự
nhiên của hoa.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 20
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Khuyết điểm
Phương pháp thủ công, khó cơ giới hóa. Chất béo khó bảo quản. Đối với loại hoa sau
khi thu hái không tạo thêm tinh dầu thì phương pháp này cho hiệu suất bình thường. Sản
phẩm thiếu chất định hương tự nhiên nếu không nhập phần tẩm trích vào.
Phương pháp hấp thụ động học
Nguyên tắc
Khi thổi không khí vào giữa các lớp hoa, tinh dầu trong hoa sẽ bay hơi theo không khí.
bốc hơi lên qua lớp vỉ rồi đi vào lớp nguyên liệu và qua đó kéo theo lớp hơi tinh dầu đi ra
thiết bị làm lạnh. ( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Chưng cất bằng hơi nước
Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
• Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu bị vỡ và
cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi. Phần lớn tinh dầu còn lại
trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩm
thấu.
Trong quá trình chưng cất hơi nước, tại nhiệt độ nước sôi, tinh dầu trong tế bào thực
vật sẽ khếch tán ra ngoài bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi. Còn nước thẩm thấu
vào trong nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị cuốn vào lượng
nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoài
hết”.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sử
dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô. Nhưng nếu lượng nước
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 22
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa những
cấu phần tan dễ trong nước.
Ngoài ra, vì nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm cho lớp
nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp này đồng đều
và dễ dàng.
Vì các cấu phần trong tinh dầu được chưng cất hơi nước theo nguyên tắc nói trên cho
nên thông thường những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ được lôi cuốn trước.
(F.M.C Gamarra và ctv, 2007)
• Sự thủy giải
Những cấu phần ester trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra acid và alcohol khi
đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng này, sự chưng
cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng tốt. ( Trần Xuân
thành phần của tinh dầu dễ bị phân hủy trong quá trình chưng cất.
− Không thể tách được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu, mặc dầu nhựa và
sáp rất cần thiết để làm các chất định hương có giá trị.
− Trong nước chưng sau khi đã tách tinh dầu còn có một lượng lớn tinh dầu hoà tan
trong đó.
− Cần tiêu tốn một lượng nước khá lớn để làm ngưng tụ hỗn hợp hơi.
− Những tinh dầu có độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém.
1.6.2. Phương pháp hiện đại
1.6.2.1. Chưng cất dùng dung môi CO
2
Nguyên tắc
Dioxid carbon được hóa lỏng trong những thiết bị đặc biệt. Sau đó, CO
2
lỏng được dẫn
qua thiết bị chưng cất, dung môi CO
2
khi ở áp suất thường sẽ bốc hơi nhanh chóng để lại
tinh dầu tinh chất. Khí CO
2
sau đó lại được hóa lỏng để tiếp tục quá trình chưng cất.
( Nguyễn Quỳnh Như, 2009)
Ưu điểm
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆPPage 24
SVTH: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Cô lập sản phẩm dễ dàng vì CO
2
bốc hơi ở áp suất thường để lại tinh dầu tinh chất.
Không độc hại cho môi trường. Trong nhiều trường hợp tinh dầu sản xuất bằng phương
pháp này cho chất lượng cao.
Khuyết điểm