Thảo luận lịch sử học các thuyết kinh tế - Pdf 13

Thảo luận lịch sử học các thuyết kinh tế
a.Lý luận về giá trị-lao động
Kế thừa và phát huy tư tưởng của Adam smith, D. Ricardo đã xây dựng
và phát triển hơn về giá trị lao động.
+D.Ricardo cho rằng:giá trị có nguồn gốc duy nhất từ lao động.
+Về giá trị hàng hóa:
+Ông định nghĩa về giá trị hàng hóa:”Gía trị hàng hóa hay số lượng của
một hàng hóa nào khác mà hàng hóa đó trao đổi,là do số lượng lao động
tương đối,cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định,chứ không
phải do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động quyết định”
- Gía trị trao đổi của hàng hóa,do lượng lao động trong hàng hóa quyết
định.(lượng lao động hao phí+sự khan hiếm=>giá trị trao đổi)
-Gía trị xã hội của hàng hóa,do lượng lao động lớn nhất(hao phí lao
động trong điều kiện xấu)quyết định.
+Thuộc tính của hàng hóa bao gồm:giá trị sử dụng và giá trị trao đổi
-Gía trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi(chỉ là điều kiện cần để
trao đổi),đồng thời nó cũng khác của cải.
+Về cơ cấu giá trị:được quyết định bởi lao động trực tiếp và lao động
quá khứ.(những chi phí kết tinh trong máy móc,thiết bị nhà xưởng).
+Về thước đo giá trị: ông cho rằng cả vàng hay bất cứ một hàng hóa nào
không bao giờ là thước đo giá trị hoàn thiện cho tất cả mọi vật.Mọi sự
thay đổi trong giá cả hàng hóa là hậu quả của sự thay đổi trong giá trị
của chúng.
+Về giá cả:ông khẳng định rằng:Gía cả hàng hóa là giá trị trao dổi của
nó,những biểu hiện bằng tiền,còn giá trị được đo lường bằng lượng lao
động hao phí để sản xuất ra hàng hóa.
Theo ông giá cả không phải do cung cầu quyết định mà quyết định mức
giá là của người sản xuất,cung cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả.
+D.Ricardo còn phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường:
-Gía cả tự nhiên:phản ánh giá trị hàng hóa
-Gía cả thị trường:là giá cả chịu sự tác động của cung cầu.

giá trị của tiền là do giá trị của vật liệu làm ra tiền quyết định. Nó bằng
số lượng lao động hao phí để khai thác vàng bạc quyết định. Tiền giấy
chỉ là ký hiệu giá trị của tiền tệ, được so sánh tưởng tượng với một
lượng vàng nào đó, do nhà nước và ngân hàng quy định.
-D.Ricardo đã dựa vào lý thuyết xuất phát từ lý thuyết giá trị-lao động
và thuyết số lượng tiền tệ.
- Dựa vào lý luận giá trị - lao động để vạch ra bản chất hàng hóa của
tiền, chức năng thước đo giá trị của tiền.
- Dựa vào thuyết số lượng tiền để khẳng định số lượng tiền (giấy) càng
nhiều thì giá trị của tiền tệ càng ít và ngược lại để lý giải sự thay đổi
trong quan hệ quốc tế và điều tiết bảng cân đối thanh toán. Bản thân
Ricardo không phân biệt quy luật lưu thông tiền giấy và quy luật lưu
thông tiền vàng.
-Khi phân tích lưu thông ông đã nhận thấy được tiền giấy không có giá
trị nội tại,giá trị tiền giấy được quyết định bởi giá trị của số vàng mà
chúng đại diện.
 Giá cả hàng hóa là giá trị trao đổi của hàng hóa được trao đổi bằng
tiền.
+Đóng góp:
-Ông đã đưa ra được phương án lưu thông tiền giấy đổi được vàng.
- Ông đối chiếu giá trị của khối lượng hàng hoá với giá trị của tiền tệ và
cho rằng tác động qua lại giữa số lượng hàng hoá với lượng tiền trong
lưu thông diễn ra trong những khuôn khổ nhất định.
+Hạn chế:
-Lý thuyết của ông chưa phân biệt rõ lưu thông tiền giấy và lưu thông
tiền vàng và cũng chưa đi sâu nghiên cứu nguồn gốc,bản chất và các
chức năng của tiền tệ.
- Ông không hiểu được nguồn gốc của tiền (vàng) và đã đơn giản hóa
chức năng của tiền (vàng)
c)Lý luận về các nguồn thu nhập:

thay đổi của lợi nhuận tùy thuộc vào thay đổi của tiền lương.
-Những tư bản có đại lương bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau.(ở
đây đại lượng là các tư liệu sản xuất,vốn…)
Đóng góp:
-Ông đã phát hiện ra quy luật vận động của tư bản:Nếu năng suất lao
động tăng thì tiền lương giảm.
Hạn chế:
-Chưa phân biệt được giá trị thặng dư với lợi nhuận và tỷ suất giá trị
thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư với tỷ suất lợi nhuận.
+Lý luận địa tô;
-Địa tô là gì? Là sản phẩm thặng dư do những người sản xuất trong nông
nghiệp tạo ra và nộp cho người chủ sở hữu ruộng đất.
-Ricardo cho rằng,địa tô là một phần khấu trừ vào sản phẩm lao động
của công nhân.Quan điểm này chứng tỏ Ricardo đã thấy được nguồn
gốc-bản chất của địa tô trong chủ nghĩa tư bản.
-Ông cho rằng do ruộng đất có giới hạn,độ màu mỡ của đất đai giảm
sút,năng suất đầu tư bất tương xứng,dân số tăng nhanh,dẫn đến nông sản
khan hiếm cho nên xã hội phải canh tác tất cả ruộng đất xấu và giá trị
nông phẩm là do hao phí lao động trên ruộng đất xấu quyết định.
-Độc quyền chiếm hữu ruộng đất dẫn đến vấn đề địa tô.
+Đóng góp:
-phân biệt chính xác địa tô và tiền tô.
-Ông đã phê phán giai cấp địa chủ thu địa tô cao
+Hạn chế:
-Ông không thừa nhân địa tô tuyệt đối và chưa nghiên cứu loại địa tô
chêch lệch II.(. Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi
nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi
hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi
điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên
ruộng đất tốt và trung bình. Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch

sản suất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh.
Tương tự như vậy, ở Anh, sản xuất lúa mỳ rẻ hơn tương đối so với Bồ
Đào Nha (vì chi phí cơ hội chỉ có 0,5 đơn vị rượu vang trong khi ở Bồ
Đào Nha phải mất 2/3 đơn vị rượu vang). Hay nói một cách khác, Bồ
Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vang còn Anh có lợi thế so
sánh về sản xuất lúa mỳ. Để thấy được cả hai nước sẽ cùng có lợi nếu
chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà mình có lợi thế so sánh: Bồ Đào
Nha chỉ sản xuất rượu vang còn Anh chỉ sản xuất lúa mỳ rồi trao đổi
thương mại với nhau
+Liên hệ thực tế ở Việt Nam:
+ ưu điểm:
-Lợi thế so sánh của Việt Nam là các lợi thế tĩnh hay còn gọi các lợi thế
cấp thấp, nếu các lợi thế này không có khả năng tái sinh thì nó sẽ mất
dần đi. Điều này thấy rất rõ ở hai lợi thế mà Việt Nam đang có là :
-Tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào.
Mặc dầu Việt Nam được coi là một đất nước phong phú về các loại
khoáng sản.
Về lao động, Việt Nam có nguồn lao động trẻ dồi dào.
+Nhược điểm:
-Mặc dù khoáng sản nhiều nhưng nếu tính theo mức đầu người thì không
phải là nước giàu khoáng sản.
-Nguồn lao động dồi dào nhưng lực lượng này lại chưa quen với lối lao
động công nghiệp, việc tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế . Do đó chất
lượng lao động không cao, thế nhưng tiền công lao động lại quá cao.
-So với các nước ASEAN, hoạt động thương mại và đầu tư của Việt
Nam vẫn ở trình độ thấp nếu chỉ dựa vào lợi thế này thì thương mại của
Việt Nam trong ASEAN chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và được coi là kém
phát triển.
-Hiện tại lợi thế so sánh cấp thấp (sản xuất ra sản phẩm sử dụng nhiều
yếu tố lao động, giá trị gia tăng thấp) đang là một nhân tố quan trọng hấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status