Lời nói đầu :
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và chủ tịch Hồ Chí Minh;
dân tộc Việt Nam đã làm nên những chiến công hiển hách và những thắng lợi có
ý nghĩa lịch sử cũng như thời đại. Đảng ra đời đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo của
cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến. Trong những thời gian đầu mới
thành lập cơ sở đảng tuy chưa nhiều, song đã trở thành hạt nhân của phong trào
cách mạng. Những tổ chức quần chúng cách mạng được thành lập ở nhiều nơi.
Đưòng lối của đảng đã phản ánh đúng nguyện vọng của quần chúng, được tuyên
trưyền rộng rãi, làm cho ý thức giác ngộ của quần chúng ngày càng được nâng
cao.
Dưới sự lãnh đạo của đảng phong trào đấu tranh của quần chúng bùng lên một
cách mạnh mẽ.Đảng đã vạch ra những đường lối,chính sách để đưa dân tộc ta đi hết
thắng lợi này đến thắng lợi khác,điều này thể hiện rõ ở đường lối kháng chiến
chống thực dân pháp xâm lược của đảng cộng sản Đông Dương những năm đầu
kháng chiến 1946-1950
Chương 1 :Hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta sau cách mạng tháng tám
1945
1) Những thuận lợi
Cách mạng tháng 8 thắng lợi đem lại cho Việt Nam thế và lực mới. Đảng ta từ
một Đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành Đảng cầm quyền, nhân dân ta được giải
phóng khỏi cuộc đời nô lệ trở thành người chủ đất nước mình
Cách mạng Tháng Tám đã sau 15 năm Đảng đã rút ra được những bài học kinh
nghiệm:
Một là: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ
chống đế quốc và kháng chiến chống phong kiến
Hai là: toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công – nông
Ba là: lợi dụng mâu thuẫn trong kho hàng ngũ kẻ thù
Bốn là: kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng cách mạng một cách
thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân
Năm là: nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ
Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo khởi nghĩa giành chính
đồng, trong đó quả nửa là tiền rách. Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư
bản Pháp. Quân tưởng tung tiền quốc tệ và quan kim gây ra rối loạn thị trường. 95%
dân sốmù chữ, các tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại hết sức nặng nề.
Trong những năm đầu Cách Mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà chưa có nước nào công nhận và đặt mối quan hệ ngoại giao với Chính Phủ ta.
Đất nước bị bao vây bốn phía, vận mệnh dân tộc như “ ngàn cân treo sợi tóc”. Tổ
quốc lâm nguy!
Chương 2 : Nội dung chính của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược của ĐCS Đông Dương những năm đầu kháng chiến 1946-1950
Thực hiện chính sách hòa hoãn, Đảng và chính phủ ta đã nhân nhượng, tỏ thiện
chí, cố gắng trì hoãn chiến tranh, nhưng với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, thực
dân Pháp đã tăng cường khiêu khích và lấn chiếm. Ngày 20-11-1946, quân Pháp mở
cuộc tấn công chiếm đóng thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà
Nẵng. Ngày 16-12-1946, những tên trùm thực dân Pháp ở Đông Dương đã họp tại
Hải Phòng bàn triển khai kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực Bắc vĩ tuyến 16.
Ngày 17 và 18-12-1946 tại Hà Nội, quân Pháp tàn sát thảm khốc đồng bào ta ở các
phố Yên Ninh, Hàng Bún. Chúng ngang ngược đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội,
đòi kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô. Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng
và Chính phủ ta trước một tình thế không thể nhân nhượng thêm với chúng được
nữa, vì tiếp tục nhân nhượng sẽ dẫn đến họa mất nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời
nô lệ.
Chúng đã công khai tuyên bố sẽ hành động sáng ngày 20 - 12 nếu Chính phủ ta
khước từ những điểm nêu trong tối hậu thư của chúng. Trong thời điểm lịch sử đó,
Trung ương Đảng đã kịp thời hạ quyết tâm phát động toàn dân kháng chiến và chủ
động mở cuộc tổng giao chiến lịch sử trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch
đảo chính quân sự ở Hà Nội vào ngày 20-12-1946 như chúng đã nêu lên trong tối
hậu thư gửi cho Chính phủ ta trong những ngày 18, 19. Mệnh lệnh đã được phát đi.
Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, tất cả các chiến trường trong cả nước đồng loạt nổ
súng. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Với lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ thị của Ban Thường vụ Trung
là "thầy chiến lược", là "bí quyết của sự thắng lợi" của ta.
Những chủ trương, sách lược kháng chiến trong"Kháng chiến nhất định− thắng
lợi" đã vạch ra 1 phương châm "tử chiến"(quyết chiến) với TD phản động Pháp để
dành độc lập, thống nhất thực sự cho đất nước. Đây vừa là niềm tin, là động lực và
cũng là sức mạnh kháng chiến của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch HCM chỉ thị của ban thường vụ
TW Đảng và tác phẩm của Trường Chinh...tất cả tập hợp lại và được xem la cương
lĩnh kháng chiến của Đảng ta. Trên cơ sở của cương lĩnh đường lối này, Đảng ta đã
dẫn dắt và tổ chức nhân dân ta đấu tranh giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến lâu
dài,gian khổ anh dũng và nhất định thắng lợi. Cả dân tộc ta đã tiến hành kháng
chiến toàn dân,toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính với tinh thần quyết
tâm, dũng cảm và mưu trí,sang tạo. Bởi vậy, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi
về mọi mặt và đưa cuộc kháng chiến ngày càng phát triển về thế và lực, khẳng định
rõ vị thế của dân tộc ta trên trường quốc tế cũng như năng lực lãnh đạo sáng suốt,
tài tình,linh hoạt và sáng tạo của Đảng ta trong mọi hoàn cảnh lịch sử đầy biến động
và phức tạp của đất nước,tạo tiền đề cho sự phát triển và thành công cho phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc ở những giai đoạn sau.Với việc xác định một cách
đúng đắn mục tiêu, đường lối của cuộc kháng chiến, ta đã đập tan âm mưu đánh
nhanh thắng nhanh của địch, bảo vệ được thành quả cách mạng, thu được những
thắng lợi bước đầu, cũng qua đó quân đội non trẻ nước nhà có sự trưởng thành vượt
bậc về trình độ tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch, giành thế chủ động chiến
lược trên chiến trường bắc bộ, chủ động tiến công và phản công ngày càng lớn
Chương 3 : Cơ sở khoa học của đường lối kháng chiến chống thực dân
pháp xâm lược của đảng cộng sản Đông Dương những năm đầu kháng chiến
1946-1950
3.1 chỉ thị ‘Kháng chiến kiến quốc’ngày 25/11/1945 của ban chấp hành trung
ương
Sau thắng lợi vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ 2, lực lượng cách
mạng thế giới phát triển mạnh, phong trào giả phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở
châu á – phi và mĩ la tinh, phong trào đấu tranh của gia cấp công nhân trong các
tiêu diệt Đảng Cộng sản, thủ tiêu nền độc lập non trẻ của nhân dân ta. Chỉ thị xác
định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải
phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được
hoàn toàn độc lập… Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong. Giai cấp vô
sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy… Kẻ thù
chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh
vào chúng”1.
Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của nhân dân lúc này là củng cố chính quyền, chống
thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Trong
những nhiệm vụ đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Để củng cố chính
quyền cách mạng, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ "kháng chiến" và "kiến quốc",
Chỉ thị vạch ra những biện pháp toàn diện và cơ bản để thực hiện:
Về chính trị, tăng cường khối đoàn kết toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược và
xây dựng đất nước, củng cố chính quyền nhân dân bằng cách kiên quyết trừng trị
bọn phản quốc, tiến hành tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức
và ban hành Hiến pháp; có thể cải tổ chính phủ trước khi bầu cử; sửa đổi cách làm
việc của chính quyền nhân dân địa phương.
Về quân sự, động viên toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc
kháng chiến lâu dài, dùng lối đánh du kích cùng với phương pháp bất hợp tác triệt
để của nhân dân ở vùng địch chiếm đóng, mở rộng chiến tranh du kích ở
Campuchia và phát triển tuyên truyền vũ trang trên đất Lào.
Về ngoại giao,kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc "bình
đẳng, tương trợ". Phương châm là "làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng
minh hơn hết"1 và "muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực"2.
Đối với Tưởng thì chủ trương Hoa - Việt thân thiện; đối với Pháp, độc lập về chính
trị, nhân nhượng về kinh tế.
Về kinh tế và tài chính, mở lại các nhà máy do Nhật bỏ, khai thác các mỏ, cho tư
nhân được góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy, khuyến khích các
giới công thương mở hợp tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết lại nước
nhà. Thực hiện khuyến nông, sửa chữa đê điều, lập ngân hàng, phát hành giấy bạc,
Đêm 19 rạng sáng ngày 20-12-1946, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến".
Hai khổ đầu trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói lên được lòng yêu hòa bình, sự nhân nhượng để đổi lấy hòa bình,
nhưng kiên quyết đứng lên thà hy sinh tất cả để bảo vệ tự do và độc lập: "Chúng ta
muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ".
Hà Nội, với tiếng súng từ pháo đài Láng đã mở đầu cho cuộc kháng chiến
toàn quốc của nhân dân ta. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân và dân Hà Nội
không chỉ đã tiêu diệt, tiêu hao một phần sinh lực địch, mà còn kìm chân địch
trong thành phố để hậu phương tổ chức triển khai thế trận kháng chiến lâu dài, để
bảo vệ cuộc tổng di chuyển các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ và các bộ,
ngành về căn cứ an toàn, tiếp tục cuộc kháng chiến thần thánh, trường kỳ nhưng
kết thúc thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.
Lời kêu gọi Người viết đã vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, trình bày
lập trường và nguyện vọng thiết tha với hòa bình của dân tộc ta, biểu lộ rõ càng
thiết tha với hòa bình, càng kiên quyết đập tan mọi âm mưu quỷ kế của bọn phá
hoại hòa bình. Người cũng đã vạch ra chiến lược chiến tranh nhân dân, huy động
sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đồng thời khẳng định cuộc kháng chiến sẽ
nhất định đi đến thắng lợi vẻ vang.
Hội nghị đã nghiên cứu và thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do đồng
chí Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Ðây là bản chỉ thị nêu rõ đường lối, chính
sách và cách tiến hành cũng như lực lượng của cuộc kháng chiến. Chỉ thị của Ðảng
cũng đã khẳng định cuộc kháng chiến tuy lâu dài, gian khổ nhưng nhất định sẽ
thắng lợi vẻ vang. Ðặc biệt, Hội nghị Thường vụ Trung ương đã được Chủ tịch Hồ
Chí Minh đề nghị góp ý kiến cho lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Người soạn
thảo. Các đồng chí đã thảo luận và được Người đồng ý cho sửa thêm một số chữ
vào lời kêu gọi. Ðây là một cách làm việc dân chủ và là nền nếp thường xuyên của
dân Pháp chống phản động thực dân Pháp;
Cách đánh: triệt để dùng du kích, vận động chiến, bảo toàn thực lực, kháng chiến
lâu dài, phá hoại nhiều hơn bắn, triệt để làm cho địch đói khác, què, mù, điếc, câm,
tiêu hao, mỏi mệt, chán nản. Vừa đánh vừa vũ trang thêm, vừa đánh vừa đào tạo
thêm cán bộ”.
3.4 Tác phẩm ‘Kháng chiến nhất định thắng lợi’ của đồng chí Trường Chinh năm
1947
Cuối năm 1946, sau một thời gian hòa hoãn tạm thời, thực dân Pháp bắt đầu tỏ ra
khiêu khích chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa một cách không che đậy. Sự
nhẫn nhịn của chính phủ và nhân dân ta trước hàng loạt những vụ nổ súng vô cớ của
quân Pháp càng làm chúng thêm hung hăng hơn. Đến cao trào là ngày 18, 19 tháng
12 năm 1946, chúng gửi tối hậu thư cho chính phủ ta đe dọa đảo chính thì chúng ta
không thể nhân nhượng thêm nữa.
Đúng 20 giờ ngày 19-12-1946, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn
quốc bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Và ngay trong
những ngày đầu, đường lối kháng chiến đã được vạch ra cụ thể và kịp thời qua 3
văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” và
tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”.
Nội dung chủ đạo của đường lối kháng chiến:
- Xác định rõ đối tượng, tính chất và mục đích của cuộc kháng chiến:
+ Đối tượng: “đánh phản động thực dân Pháp xâm lược” (“Chỉ thị …”)
+ Mục tiêu: giành độc lập và thống nhất cho dân tộc.
+ Tính chất: tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
- Kháng chiến toàn dân: chiến tranh nhân dân, toàn dân dánh giặc
+ “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc.” (“Lời kêu gọi …”)
+ Khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất của dân
tộc ta qua 4000 năm dựng nước và giữ nước.
+ Tạo nên thế trận “cả nước đánh giặc”, huy động được sức mạnh tối đa của cả dân
kiến quốc.
+ Về văn hóa: chống lại văn hóa nô dịch của địch, tăng cường bình dân học vụ, giải
quyết giặc dốt, bài trừ mê tín dị đoan, tuyên truyền đường lối kháng chiến, tư tưởng
cách mạng làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự thắng lợi
của cuộc kháng chiến. …
+Về ngoại giao: mở rộng quan hệ quốc tế nhằm tranh thủ thêm nhiều bạn, làm cho
nhân dân thế giới kể cả nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân
dân ta, tranh thủ kết thúc chiến tranh bằng con đường ngoại giao khi có thể .
- Kháng chiến trường kỳ dựa vào sức mình là chính: Nghệ thuật quân sự: hạn chế
điểm mạnh của Pháp. Thực dân Pháp bản chất là xâm lược, với đội quân trang bị vũ
khí hiện đại. Chúng luôn có âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” để tiết kiệm chi phí
chiến tranh và tránh những rắc rối từ dư luận quốc tế. Ngược lại, quân đội ta vừa
mới thành lập, nhân lực vật lực chưa dồi dào, kinh nghiệm chiến đấu chưa phong
phú. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” nêu ra ba giai đoạn: cầm cự,
phòng ngự và phản công với ý đồ đánh lâu dài. Với thế trận chiến tranh nhân dân,
quân địch càng đánh càng yếu, quân ta càng đánh càng mạnh.
Sự lãnh đạo của đảng thể hiện đường lối kháng chiến đúng đắn: độc lập, tự chủ và
sáng tạo. Đường lối đó là sự kết tinh những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-
Lênin về cách mạng bạo lực, về chiến tranh nhân dân được vận dụng sáng tạo vào
điều kiện cụ thể của nước ta. Đường lối kháng chiến trải qua thực tiễn chiến đấu
được phát triển và hoàn chỉnh, là nguyên nhân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Lời kêu gọi TQKC của Người là một trong những văn kiện lịch sử vĩ đại của dân
tộc Việt Nam. Điều kỳ tuyệt là cho đến tận bây giờ, âm vang của những ngôn từ
ngắn nhưng có sức sống mãnh liệt của nó vẫn làm xúc động trái tim của hàng triệu
con người.
198 chữ của Lời kêu gọi TQKC là một kỳ văn của sức mạnh, một tuyệt bút bất tử
với thời gian. Đó thực sự là bản tuyên ngôn thứ hai của nền độc lập. Hơn ai hết,
Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ sự đắng cay, tủi nhục của kiếp sống nô lệ, chính vì
vậy, Người đã đoan quyết bằng ý chí và tâm huyết của 20 triệu con người rằng:
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
- 2006).
1.Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục-2005).
2.Bách khoa toàn thư mở wikipedia: vi.wikipedia.org
3.Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam: www.dangcongsan.vn
4.Bách khoa toàn thư Việt Nam: www.bachkhoatoanthu.gov.vn
5.Website lịch sử Việt Nam: www.lichsuvietnam.vn