ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
KHOA KIẾN TRÚC
BÀI GIẢNG
QUY HOẠCH XÂY DỰNG
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
(DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KIẾN TRÚC – HỆ TRUNG CẤP)
Ths. KTS Lê Đàm Ngọc Tú THÁNG 4/2012
1
CÁC THUẬT NGỮ
- Đô thị trung tâm tổng hợp: Nhiều chức năng: văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội…
- Đô thị trung tâm chuyên ngành: Giữ chức năng chủ yếu về một mặt cơ bản nào đó: công
nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi…
- Vùng lãnh thổ đô thị: Bao gồm nội thị, ngoại thị (nội thành và ngoại ô).
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp: Tính cho điểm dân cư đô thị (chỉ tính ở vùng phạm vi
nội thị).
- Hạ tầng kỹ thuật đô thị: Bao gồm các công trình kỹ thuật đô thị:
◦ Hệ thống giao thông;
◦ Hệ thống cung cấp năng lượng;
◦ Hệ thống chiếu sáng công cộng;
◦ Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước;
◦ Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường;
◦ Hệ thống nghĩa trang;
◦ Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác.
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐÔ THỊ
VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm về đô thị
Một cách chung nhất: Đô thị là nơi tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp,
họ sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Theo luật quy hoạch đô thị của Quốc Hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 số 30/2009/QH12 ngày
17 tháng 6 năm 2009, một số thuật ngữ về đô thị được hiểu như sau:
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh
thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã;
thị trấn.
Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai theo định hướng quy hoạch tổng
thể hệ thống đô thị quốc gia, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chí của đô thị theo quy
định của pháp luật.
Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở.
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công
trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp
cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.
Nhiệm vụ quy hoạch là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị.
Đồ án quy hoạch đô thị là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các
bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị.
1.2. Phân loại đô thị
Ở nước ta,theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ, các tiêu chí
cơ bản để phân loại đô thị gồm:
- Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị;
- Quy mô dân số (tối thiểu đạt 4000 người trở lên)
1. Chức năng đô thị
Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ
thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước
và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc
của cả nước.
Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật,
hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai
trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh.
2. Quy mô dân số đô thị
a) Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành
a) Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao
động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo
đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công
nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh;
hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các
điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; bảo vệ những khu vực đất đai thuận
lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý
kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% các trục phố
chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị. Phải có các không gian công cộng,
phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu
biểu mang ý nghĩa quốc gia.
1.2.3. Đô thị loại II
mang ý nghĩa quốc gia.
1.2.4. Đô thị loại III
1. Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du
lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh. Có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng
liên tỉnh.
2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
3. Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng
số lao động.
5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
a) Khu vực nội thành: từng mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn
chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được
trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: từng mặt được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; hạn chế việc
phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư
nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát
triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái.
5
6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý
kiến trúc đô thị. Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố
chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng, phục
vụ đời sống tinh thần nhân dân và có công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa vùng hoặc quốc
gia.
1.2.5. Đô thị loại IV
1. Chức năng đô thị.
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hoá, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du
lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh. Có vai trò
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo: quy mô dân số và mật độ dân
số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70%
mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương.
Đô thị đặc thù: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định,
các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp
với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.
1.3. Phân cấp quản lý đô thị
6
Đô thị được phân thành 6 loại, gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị
loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V.
Cấp quản lý hành chính đô thị được quy định như sau:
- Thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I;
- Thành phố thuộc tỉnh phải là đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III;
- Thị xã phải là đô thị loại III hoặc loại IV;
- Thị trấn phải là đô thị loại IV hoặc loại V.
1.4. Phân loại theo tính chất đô thị
Sự hình thành đô thị thường xuất phát từ sự tập trung dân cư do những yêu cầu hoạt động
của sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, những hoạt động hành chính, chính
trị hoặc văn hóa xã hội.
Có thể phân loại đô thị theo tính chất như sau:
- Đô thị có chức năng kinh tế:
+ Đô thị công nghiệp: hình thành trên cơ sở phát triển các cơ sở công nghiệp, thủ công
nghiệp ở trung ương và địa phương, bao gồm các loại công nghiệp khai thác, công nghiệp
chế biến và các loại công nghiệp phục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, …
+ Đô thị là đầu mối giao thông vận tải và kho tàng: được hình thành tại những nơi tiếp
giáp giữa những loại giao thông khác nhau hoặc những nơi có điều kiện thuận lợi để thiết
lập những cơ sở phục vụ giao thông vận tải như những bến cảng lớn, những nơi chuyển
tiếp giữa các loại giao thông sắt, thủy, bộ - những nơi đặt sân bay.
- Đô thị có chức năng hành chính: Những đô thị giữ vai trò trung tâm về chính trị, văn
hoặc trực
thuộc tỉnh,
trung tâm
của cả nước
hoặc vùng
liên tỉnh
Trung tâm
1 tỉnh hoặc
vùng liên
tỉnh
Trung tâm
1 vùng
trong tỉnh,
1 tỉnh hoặc
một số lĩnh
vực thuộc
vùng liên
tỉnh
Trung tâm
1 vùng
trong tỉnh,
hoặc 1 số
lĩnh vực
đ/v 1 tỉnh
Trung tâm
của huyện
hoặc 1 cụm
xã
7
người
3MĐ dân
số KV nội
thành
≥ 15.000
người/km2
ĐT (Trung
ương)
≥12.000
người/km2
≥10.000
người/km2
≥6.000
người/km2
≥4.000
người/km2
≥2.000
người/km2
ĐT (Tỉnh)
≥10.000
người/km2
≥8.000
hoàn chỉnh,
100%
CSSX mới
áp dụng
công nghệ
sạch &
trang bị
giảm thiểu
ô nhiễm
môi trường
Nhiều mặt
đồng bộ &
cơ bản hoàn
chỉnh, 100%
CSSX mới
áp dụng
công nghệ
sạch &
trang bị
giảm thiểu ô
nhiễm môi
trường
Hạ tầng
đồng bộ &
cơ bản
hoàn chỉnh,
100%
CSSX mới
áp dụng
công nghệ
tiến tới
đồng bộ,
CSSX mới
áp dụng
công nghệ
sạch &
trang bị
bảo vệ môi
trường
8 Khu vực
ngoại
thành
Từng mặt
đồng bộ,
hạn chế dự
án ô nhiễm
môi
trường, hạ
tầng điểm
dân cư
nông thôn
được xây
dựng đồng
bộ, bảo vệ
đất nông
nghiệp,
vùng xanh
được đầu
tư xd, bảo
vệ đất nông
nghiệp,
vùng xanh
và vùng
cảnh quan
sinh thái
Từng mặt
xd tiến tới
đồng bộ,
hạn chế dự
án ô nhiễm
môi
trường, hạ
tầng điểm
dân cư
nông thôn
cơ bản
được đầu
tư xd, bảo
vệ đất nông
nghiệp,
vùng xanh
và vùng
cảnh quan
sinh thái
Từng mặt
xd tiến tới
đồng bộ,
tuyến phố
văn minh đô
thị.
Xây dựng
theo quy
chế quản lý
kiến trúc
đô thị. 40%
trục phố
chính đạt
tiêu chuẩn
tuyến phố
văn minh
đô thị.
Xây dựng
theo quy
chế quản lý
kiến trúc
đô thị. 40%
trục phố
chính đạt
tiêu chuẩn
tuyến phố
văn minh
đô thị.
Từng bước
thực hiện
theo quy
chế quản lý
kiến trúc
sử dụng đất đai phù hợp điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương, phong tục tập quán và truyền
thống của đô thị.
Hình 1.1: T
ổ
ch
ứ
c các khu
v
ự
c
s
ả
n xu
ấ
t trong đô th
ị
10 Hình 1.
2
: T
ổ
ch
Các đặc điểm đô thị hóa:
Đối với các nước phát triển và phát triển cao, quá trình công nghiệp hóa đã ổn định, chất
lượng đô thị hóa được phát triển theo các nhân tố chiều sâu: nâng cao chất lượng cuộc sống, tận
dụng tối đa lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa, nâng cao
chất lượng môi trường đô thị.
Đối với các nước đang phát triển, sự tăng nhanh dân số bên cạnh sự yếu kém của công
nghiệp làm quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mất cân đối, mâu thuẫn giữa đô thị và nông
thôn thêm gay gắt. Sự chênh lệch về đời sống thúc đẩy dân cư ồ ạt đổ về đô thị, tạo nên những
điểm dân cư đô thị cực lớn gây mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư.
2.1.2. Sự phát triển của đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với sự phát triển không gian kinh tế - xã hội. Nó gắn
liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới. Quá trình đô thị
hóa có thể chia làm 3 thời kỳ:
2.1.3. Các quá trình đô thị hóa
Đô thị hóa tăng cường: đô thị hóa chính là quá trình công nghiệp hóa đất nước. Là quá
trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ
12
cấu tổ chức không gian kiến trúc từ dạng nông thôn sang thành thị, tạo ra các tiền đề cho sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Đô thị hóa giả tạo: đặc trưng là sự bùng nổ về dân số do sự mở rộng tự nhiên của dân cư
hiện có và sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị. Hậu quả của quá trình này là đô thị
bị quá tải, mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn trở nên sâu sắc do sự phát triển mất cân đối của
các điểm dân cư, tạo nên những hiện tượng độc cực trong phát triển các đô thị.
2.2. Lược khảo về quá trình phát triển đô thị thế giới
Quá trình lựa chọn vị trí, quy hoạch và xây dựng đã diễn ra cách đây hàng ngàn năm. Từ
thời cổ đại, con người đã rất có ý thức khi chọn cho mình một nơi ở và cách ở thích hợp.
Sự phát triển về đô thị gắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội và có thể chia làm các
thời kỳ sau:
13
b. Đô thị Tây Á – Lưỡng Hà cổ đại (từ 4300 năm TCN):
Vùng đất còn gọi là Mesopotamia, nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates. Đất đai phì
nhiêu, nông nghiệp và chăn nuôi phát triển tạo điều kiện nảy nở nền văn minh rực rỡ, thuộc loại
sớm nhất nhân loại.
Các đô thị ban đầu mang tính chất trung tâm hành chính và tôn giáo, sau trở thành trung
tâm thương mại trên cơ sở phát triển thủ công nghiệp và thương mại.
Thành phố xây dựng trên bệ cao để tránh lũ lụt, xung quanh bao bọc bởi tường thành mang
tính phòng ngự.
Vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch phơi khô từ phù sa sông.
Đô thị tiêu biểu: Babylon.
TP Babylon (602-562 TCN): Là thành phố lớn nhất nằm bên bờ sông Euphrates, do vua
Netmucazera II xây dựng, được bao bọc bởi hệ thống kênh đào thông với sông Euphrates và tiếp
đến là hệ thống thành cao xây bằng gạch. Trung tâm của thành phố là cung điện và nhà thờ
(Ziggurat) xây theo kiểu Kim tự tháp dật cấp cao đến 90m. Bên cạnh thành phố là vườn treo
Babylon, một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.
thức, binh lính và thợ thủ công. Về bố cục: thừa nhận tính hợp lý của đô thị Hyppodamus nhưng
vì lý do an ninh nên ông bố trí Agora phía dưới Acropolis giữa các công trình cộng cộng và khu
ở của chức sắc cao cấp. Quảng trường buôn bán được chuyển ra phía ngoài.
Hình 2.2: MB Thành phố Mile
Kích thước các lô phố là 47,2m x 25,4m. Tuyến
đường chính Đông Tây rộng 7,5m đi qua trung
tâm có thể đi xe, còn tuyến Bắc Nam rộng 3-4m
có độ dốc lớn nên chủ yếu đi bộ
Hình 2.3: MB Thành phố Priene
15
d. Đô thị cổ La Mã:
Quy hoạch và kiến trúc La Mã đã tiếp thu có chọn lọc các nền văn hóa trước đó và chịu
ảnh hưởng sâu sắc bởi nền văn minh Hy Lạp.
TP phản ánh tính chất xã hội của chế độ cộng hòa đế quốc La Mã. Thành phố có rất nhiều
quảng trường cùng hệ thống các CTCC lớn như nhà hát, đấu trường, nhà tắm, mậu dịch, chợ,
cung điện, nhà thờ, đền thờ và đài kỷ niệm. Thành phố mang tính chất phòng thủ với mặt bằng
có dạng như trại lính: Hình vuông, có tường lũy bảo vệ, có 4 cổng chính, có các trục chính Nam
Bắc (Cardo) và Đông Tây (Decumanius), trung tâm ở vị trí giao của 2 trục đường và phát triển
thêm các KV dân cư ở phía ngoài.
e. Đô thị cổ Trung Quốc:
Vào thế kỷ III TCN, Mencius đã đề xuất hệ thống quy hoạch sử dụng đất theo bố cục 9 ô
vuông. Mỗi ô có chức năng riêng, mỗi cạnh dài khoảng 1000 bước.
Cách bố trí này được ứng dụng cho Bắc Kinh về sau. Bắc Kinh hình thành từ 2.400 năm
TCN và trở thành thủ đô Trung Quốc năm 878 SCN.
Đô thị được bao bọc bởi tường thành cao xây bằng gạch bên ngoài hào sâu mang tính
thành lũy quân sự. Cấu trúc hình vuông, trục chính theo hướng Bắc – Nam, đô thị thường có 3
vòng thành giới hạn từng khu vực cho 3 tầng lớp trong xã hội.
nhỏ, không vượt quá 5-10.000 dân, hầu hết có thành quách bao ngoài.
- Đến thế kỷ XII, thủ công nghiệp phát triển mạnh, sự giao thương và vận tải hàng hóa
bằng đường thủy đã làm xuất hiện các đô thị cảng và đô thị nằm trên đầu mối giao thông. Bố cục
thành phố phong phú, phát triển một cách hài hòa với tự nhiên. Vị trí thành phố tương đối có lợi
thế về vấn đề bảo vệ. Các công trình quảng trường chợ, nhà thờ và tòa thị chính là các yếu tố
trọng tâm của bố cục.
- Thời kỳ phục hưng: Xã hội văn hóa Phục Hưng thế kỷ XV, XVI đã chuyển từ phong
kiến sang tư bản, quy hoạch đô thị thời kỳ này đã phản ánh những nhu cầu của xã hội mới và
được phát triển mạnh ở châu Âu. Bộ mặt của đô thị thời kỳ này đã thay đổi mạnh mẽ kết hợp với
nền kiến trúc Phục hưng đang thăng hoa. Hầu khắp các quốc gia ở châu Âu, bên cạnh các đồ án
cải tạo, mở rộng thành phố, các xu hướng, lý thuyết mới về quy hoạch đã xuất hiện.
Ở Ý: Quảng trường văn nghệ phục hưng có quy mô lớn với chức năng xã hội, văn hóa,
tinh thần là chính. Do áp dụng các nghiên cứu về toán học, hình học và học tập phương thức xây
dựng đô thị và kiến trúc Hy-La nên các quảng trường có hình dáng hình học, chú ý đến hiệu quả
phối cảnh nhằm mang lại không gian hài hòa và có tính thẫm mỹ cao.
Ở Pháp: Nước Pháp là một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thời kỳ phục
hưng ở châu Âu. Hàng loạt những hoạt động xây dựng quy hoạch cải tạo thành phố Paris được
tiến hành dưới thời vua Louis XIV.
Hình 2.6: Một số dạng mặt bằng thành
phố trung đại của Italia
a. Thành phố Poli xây dựng trên đồi cao, quy
mô nhỏ có bố cục tự do phát triển theo 1
trục giao thông chính.
b. Thành phố Vigevano: bố cục tự do phát
triển quanh trung tâm là quảng trường chợ.
17
cư tập trung đông nhất lúc bấy giờ, ước
tính tới hàng ngàn người.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, một số
thành thị mang tính chất quân sự và thương
mại như thành Lung Lâu, Long Biên, Từ
Phố, được hình thành. Một trong những
đô thị lớn nhất thời này là thành Tống Bình
(Hà Nội ngày nay). Sử cũ chép rằng: năm
865 tướng Cao Điền (Trung Quốc) đã mở
rộng thành để chống quân khởi nghĩa.
Thành dài 1982,5 trượng (7930m), cao 2,5
trượng (10m), trên tường thành có 55 điếm
canh. Một vài đoạn còn sót lại ngày nay.
Năm 1010, Lý Thải Tổ quyết định
dời đô về trung tâm Đại La (thành Tống
Bình cũ), đổi tên là Thăng Long. Đây là cái
mốc khai sinh cho thành phố Hà Nội ngày
nay.
Thăng Long có hệ thống thành dài 25km bao bọc xung quanh cung đình , điểm dân cư và
các công trình khác như đền chùa, miếu mạo. Đây là thời kỳ thịnh vượng nhất của nền phong
kiến Việt Nam, rất nhiều đền chùa bảo tháp được xây dựng: 950 ngôi chùa được xây vào năm
1031 dưới sự đài thọ của nhà vua. Chùa Diên Hựu (Một Cột) được xây năm 1049 đánh dấu một
bước phát triển cao về nghệ thuật kiến trúc. Văn miếu Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1070
là khu đại học đầu tiên của Việt Nam, là chỗ chọn nhân tài của đất nước, hàng năm có hàng ngàn
người đến xin học và dự thi.
Hình 2.8. MB thành Cổ Loa
thành là cung thành, là nơi xây dựng các cung
điện, nơi làm việc của các quan lại phong kiến,
phần sau của thành so với bờ sông Hương là khu
ở. Kiến trúc trong thành xây dựng theo kiểu
truyền thống, nhà bằng gỗ. Dưới thời nhà Nguyễn
có quy định rất chặt chẽ về xây dựng: nhà dân
không được giống và cao hơn nhà của vua quan. Hệ thống đường sá cơ bản được xây dựng theo
hệ hình học ô cờ. Trên trục chính có cột cờ cao ba tầng và cổng chính của thành với kiến trúc rất
phong phú.
Dưới thời nhà Nguyễn, các đô thị khác cũng bắt đầu phát triển. Hàng loạt các tỉnh thành
được xây dựng ở khắp nơi trên toàn quốc đặt nền móng cho hệ thống quản lý hành chính của
triều đình. Một số thành quách thời kỳ đó như thành Gia Định, thành Sơn Tây, Cao Bằng, thành
Bắc Giang, Phú Yên, Bình Định, thành Vinh, …
Thời Pháp thuộc, các khu dân cư, phố xá bắt đầu phát triển. Nhiều đô thị trở thành những
trung tâm thương mại lớn và dần dần lấn át cả khu vực thành quách, thậm chí có nơi mất hẳn
ranh giới. Với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, nước ta đã xuất hiện một loạt các đô thị
Hình 2.10. MB thành Huế
20
mới mang tính chất khai thác, thương mại, công nghiệp, nghỉ ngơi giải trí như Hòn Gai, Cẩm
Phả, Lào Cai; Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, …; Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo.
2.4. Những xu thế và quan điểm về quy hoạch phát triển đô thị
2.4.1. Lý luận về thành phố không tưởng
a. Robert Owen 1771 – 1858
Mô hình đô thị không tưởng dựa trên cơ sở tổ chức xã hội thành các tập đoàn nhỏ
(khoảng 1.200 người) mang tính chất độc lập cao. Con người sống trong các tập đoàn xã hội của
Robert Owen là con người biết lao động toàn diện: chân tay và trí óc, lao động trên đồng ruộng
và trong nhà máy, còn lại hoạt động đời sống, sinh hoạt văn hóa giáo dục, … đều được tổ chức
tập thể.
Cụ thể là:
- Phân bố lại dân cư đô thị thành từng đơn vị thành phố vệ
tinh tập hợp xung quanh thành phố trung tâm hay còn gọi là
thành phố mẹ, có quy mô lớn nhất là 58.000 người.
- TP vườn là những đơn vị thành phố vệ tinh, có quy mô
dân số khoảng 32.000 người, quy mô đất đai khoảng 400 ha với
nhà ở gia đình thấp tầng có vườn, cách thành phố mẹ khoảng
1km.
- Tp được bao quanh bởi các khu cây xanh và đất đai sản
xuất nông nghiệp.
22
- Các đơn vị thành phố liên hệ với nhau bằng hệ thống giao thông đường sắt vòng tròn nối
liền các thành phố vườn và hệ thống giao thông nối từ thành phố vườn đến thành phố trung tâm.
- Mỗi thành phố vườn được quy hoạch với 6 đại lộ xuất phát từ trung tâm (36m), chia
thành phố ra 6 phần bằng nhau là các khu vực ở. Trung tâm là vườn hoa khoảng 2,2 ha. Tất cả
các công trình hành chánh, thương mại, văn hoá,… đặt xung quanh vườn hoa này. Ở ngoài rìa bố
trí các khu công nghiệp không độc hại. Tuyến đường sắt đi xung quanh thành phố đến các nhà
máy không xuyên thành phố. Nhằm đảm bào sự trong lành cho thành phố.
Hình 2.14: Thành phố vườn của Ebenezer Howard
Năm 1940, theo Ebenezer Howard, R.Unwin và Parker thiết kế xây dựng thành phố vườn
đầu tiên cách London 55 km (thành phố Letch worth). Năm 1920 Louis de Soissons thiết kế xây
dựng thành phố vườn thứ hai cách London 25km (thành phố Welwyn).
Lý luận thành phố vườn và thành phố vệ tinh của Ebenezer Howard đã có ảnh hưởng lớn
trên thế giới, đặt nền tảng phát triển cho lý luận quy hoạch đô thị hiện đại.
2.4.3. Lý luận thành phố chuỗi
a. Aturo Soria Y Mata, 1844-1920
Tháng 3/1882 ở thành phố Madrid, Tây Ban Nha xuất hiện một loạt các bài báo của Soria
Y Mata giới thiệu về ý đồ tổ chức quy hoạch đô thị theo hệ thống chuỗi. Theo Soria Y Mata,
Đây là sự tiếp tục của quan điểm xây dựng
đô thị theo hệ thống chuỗi công trình liên tục ở mức
độ cao hơn trong đó vấn đề tổ chức đường phố đi bộ
tách khỏi đường giao thông cơ giới.
Quan điểm này được trình bày lần đầu tiên
trong phương án quy hoạch cải tạo khu phố London
năm 1952.
Ví dụ điển hình là thành phố Le Mireil,
Toulouse, Pháp do Candilis, Josic và Woods quy
hoạch năm 1961.
Hình 2.16: Sơ đồ quy hoạch thành phố
Le Mireil, Pháp
24
d. Hệ thống thành phố dải
Hệ thống thành phố dải là sự phát triển tiếp tục của hệ thống thành phố chuỗi ở mức độ
cao hơn phù hợp với tính chất hiện đại của các thành phố sản xuất công nghiệp và sự phát triển
nhanh chóng của quá trình đô thị hóa trong nửa đầu thế kỉ XX.
Hệ thống thành phố dải là hệ thống trong đó các công trình được tổ chức thành từng dải
chức năng khác nhau song song theo trục giao thông chính được trang bị đầy đủ các công trình
kỹ thuật đô thị. Chiều rộng của dải công trình được khống chế, còn chiều dài phát triển tùy theo
yêu cầu của thành phố.
Năm 1929 – 1930, Milutin quy hoạch thành phố Stalingrad theo từng dải chức năng dọc
theo sông Vonga dài 70km với chiều rộng của dải không quá 5km. Đồ án đã vận dụng thành
công lý luận thành phố dải vào điều kiện thực tế, đặc biệt lợi dụng điều kiện tực nhiên thuận lợi
để tổ chức cơ cấu quy hoạch hợp lý về các mặt tổ chức sản xuất và đời sống.
Hình 2.17: Sơ đồ quy hoạch thành phố
Stalingrad của Milutin 1930
1. Sông Vonga