nghiên cứu công tác thống kê du lịch tại thừa thiên huế - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, du lịch đang trở thành nhu cầu không
thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội của con người, những nước coi các chỉ tiêu
phản ánh kết quả kinh doanh du lịch là một trong những chỉ tiêu phản ánh đời sống,
thể hiện sự nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Với tốc độ phát triển mạnh mẽ,hoạt động du lịch đã và đang trở thành một hoạt
động kinh doanh hấp dẫn đem lại nguồn thu nhập ngày càng cao cho các nước. ví dụ ở
Trung Quốc, doanh thu du lịch năm 2012 vượt 2.570 tỉ nhân nhân tệ(407,94 tỷ usd)
đóng góp đáng kể về mặt tài chính cho phát triển kinh tế của nước này hay hoạt động
du lịch của Thái Lan là một trong những hoạt động mang lại mức doanh thu cao nhất
của nước này, năm 2012 ước tính đạt hơn 30 tỷ USD.
Thừa thiên Huế là một trong những địa phương có thế mạnh phát triển du lịch,
và được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa
phương. Để có những luận cứ khoa học cho việc đề ra những giải pháp cụ thể nhằm
phát triển kinh doanh du lịch tại Thừa thiên Huế, việc nghiên cứu thống kê, đánh giá
kết quả hoạt động kinh doanh du lịch, xác định vai trò vị trí cũng như tác động của
ngành du lịch trong sự phát triển chung của toàn tỉnh là hết sức cần thiết.
Tuy là một trong những địa phương có thế mạnh phát triển du lịch nhưng việc
thống kê du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được đầu tư nhiều và còn rất nhiều hạn
chế.Công tác thống kê du lịch hiện nay của tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu do hai cơ
quan Chi Cục Thống Kê Tỉnh và sở Văn Hóa Thể Dục Thể Thao đảm nhiệm,với
nguồn nhân lực, cở sở vật chất cũng như hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch hiện tại thì
công tác thống kê du lịch của tỉnh vững chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các
cấp quản lý cũng như người tham gia hoạt động du lịch
Để du lịch của tỉnh ngày càng phát triển mạnh. Tương xứng với tiềm năng của
tỉnh thì công tác thống kê của tỉnh cần phải được chú trọng và đầu tư nhiều hơn,cung
1
cấp nhưng thông tin cần thiết,đầy đủ và chính xác để các cấp các ngành cũng như các
cơ sở du lịch. Từ đó xây dựng du lịch Thừa Thiên Huế ngày một lớn mạnh hơn.
Nhận thấy được điều đó cho nên em đã chọn đề tài “ Nghiên cứu công tác thống

Huế; Niên giám thống kê Tỉnh Thừa thiên Huế; các trang web về du lịch của Việt nam.
Phương pháp xử lý thông tin: Luận án đã sử dụng các phương pháp tổng hợp
thông tin, phân tích thông tin để thấy được những vấn đề cơ bản nhằm định hướng cho
công tác thống kê du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sử dụng phần mềm spss để dự đoán doanh thu,số khách du lịch nội địa, quốc tế.
Bên cạnh đó luận án còn sử dụng một số công thức tính toán của thống kê kinh doanh
để phân tích các chỉ tiêu du lịch như : doanh thu du lịch, doanh thu xã hội từ du lịch,
tốc độ phát triển bình quân liên hoàn của khách du lịch trong nước và nước ngoài v v
5.Những đóng góp của luân án:
Làm sáng tỏ những kết quả đạt được và chưa đạt được của công tác thống kê du
lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nêu lên những thuận lợi và khó khăn mà các cơ quan thống kê du lịch gặp phải
trong quá trình làm việc.
Làm rõ một số vấn đề lý luận về tài khoản vệ tinh du lịch và các chỉ tiêu trong
tài khoản vệ tinh du lịch do UNWTO đề xuất;
Nghiên cứu mối quan hệ giữa Thống kê du lịch và Tài khoản vệ tinh du lịch, để
từ đó xây dựng Tài khoản vệ tinh du lịch đối với các tỉnh thành phố trong điều kiện
của Việt nam hiện nay.
Đề xuất giải pháp trong việc biên soạn và vận dụng tài khoản vệ tinh du lịch ở
Việt nam hiện nay;
6.Kết cấu của luận án:
3
Ngoài phần mở đầu vầ kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lucjn
luận án gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận,thực tiễn về công tác thống kê du lịch và khái quat du
lịch Thừa Thiên Huế.
Chương 2: Thực trạng công tác thống kê du lịch tại Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm khắc phục và phát triển công tác thống kê du
lịch.


5
đến các quan hệ quốc tế dẫn tới sự thiếu hụt các chính sách công cần thiết và khả thi.
Tương tự như vậy, các chủ thể kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu du lịch có thể không
nhận đủ số liệu công khai về lĩnh vực kinh doanh của họ hay các yếu tố có liên quan
tới kinh doanh du lịch để lập kế hoạch, quản lý và tiếp thị một cách hiệu quả.
Ngoài ra còn có một vài nguyên nhân nữa. Nhiều quốc gia vẫn chú trọng các
chính sách công và nông nghiệp, khai khoáng và chế biến như là nguồn lực chính để
phát triển kinh tế, không đánh giá đúng mức sức mạnh kinh tế của du lịch và ngành du
lịch nói chung. Một ví dụ minh hoạ thành kiến này trong các chính sách công đựơc thể
hiện rõ nếu xem xét chính sách phân bổ quốc gia khi khủng hoảng năng lượng. Rõ
ràng rằng nếu có sự thiếu hụt nhiên liệu hay vấn đề về phân bổ nguồn lực có thể so
sánh khác, công nghiệp nặng và nông nghiệp có được ưu tiên nhất định so với nhu cầu
của du lịch và hoạt động giải trí trong phần lớn các quốc gia. Các hoạt động giải trí
được xem như là “phù phiếm” và vì thế dành được ưu tiên thấp trong khủng hoảng
thiếu hụt nhiên liệu năm 1974 và 1979 theo tiêu chí về mức độ giải quyết việc làm hay
các khoản thu từ ngoại thương.
Đối với thống kê vấn đề cũng một phần do du lịch cùng với toàn bộ khu vực
dịch vụ, từ trước tới nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong các chương
trình thống kê quốc gia so với các ngành công nghiệp “cơ bản”. Trong khi các hoạt
động đang được diễn ra trong nhiều quốc gia đều bù đắp lại sự mất mát cân bằng này,
vẫn còn sự khác biệt lớn trong quy mô đối xử. Các mã phân loại công nghiệp chuẩn
quốc gia (SIC) hay phân loại ngành kinh tế đã có phản ánh và có lẽ là nhân tố gây ra
sự mất cân bằng này.
Trong bối cảnh yếu kém sẵn có của các phân loại hiện hành về các hoạt động
kinh tế hướng du lịch, công tác báo cáo các hoạt động kinh tế du lịch càng trở nên yếu
kém hơn do sự thiếu hụt các ranh giới rõ ràng của các hoạt động liên quan tới du lịch.
Hoạt động kinh tế du lịch đã được xem như một “hoạt động tổng hợp” mà các thành
phần thuộc về các nhánh hoạt động khác nhau

theo nghĩa này, sẽ là không thích hợp

quốc gia. Được kết hợp một cách đúng đắn với cấu trúc thống kê dựa trên nguồn cung
7
các mối quan hệ của du lịch với các khu vực kinh tế khác và tầm quan trọng thích đáng
so sanh với các khu vực khác có thể được nhận diện rõ hơn. Một yếu tố trung tâm
trong quá trình này là sự mô tả của Phân loại chuẩn quốc gia các hoạt động du lịch
SICTA.
- Các mục tiêu và mục đích
UNWTO đã nhận diện 5 đích cơ bản gắn với nâng cao một hệ thống thống kê
du lịch thế giới.
Định nghĩa các biến thống kê phản ánh các viễn cảnh khác nhau của du lịch và
các đặc trưng nhận diện của nó.
Hài hoà các định nghĩa du lịch nội địa và quốc gia, vì chúng là các khía cạnh bổ
sung của hiện tượng du lịch,
Giúp tạo thông tin du lịch có tính so sánh quốc tế và quốc gia, hướng dẫn các
nước thành viên cũng như không phải thành viên, chấp nhận và phỏng theo các khái
niệm được chuẩn hoá cho từng nước để bảo đảm tính có thể so sánh.
Điều phối và tích hợp thống kê du lịch với những hoạt động kinh tế khác, đặc
biệt chú ý tới các định nghĩa và phân loại của thống kê kinh tế và nhân khẩu học cơ
bản, Hệ thống Tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán.
Xem xét những giới hạn hiện hành về tính sẵn có và khả năng truy cập tới
những thông kê cần thiết, dẫn đến tính phức tạp của hoạt động du lịch bất kể nó được
định nghĩa thế nào.
Các tài liệu tương tự miêu tả tập hợp các hoạt động thống kê được thực hiện bởi
WTO để tạo ra một cơ cấu nền tảng cho hệ thống thống kê du lịch thế giới trong việc
cùng theo đuổi những mục đích cơ bản. Có thể thấy rằng một khu vực ưu tiên cao
nhưng đã không được đánh giá đúng mức chính là sự tích hợp của du lịch vào trong
phân loại các hoạt động kinh tế, phân loại hàng hoá và dịch vụ. Việc thành lập một
8
bảng phân loại các hoạt động du lịch đúng đắn sẽ là nhân tố cơ bản trong toàn bộ hạ
tầng được thiết kế nhằm thống kê WTO.

mục này có thể không được xem xét một cách đúng đắn trong hệ thống thống kê.
1.1.2. Tiêu chuẩn thống kê du lịch
Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch trong những thập kỷ gần đây, ngày càng
có nhiều quốc gia nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế quốc
dân. Điều này dẫn tới công tác đo lường trong du lịch được chú trọng, đảm bảo sự
chính xác và tin cậy.
Tuy nhiên, không giống như những ngành khác – như các ngành kinh tế có tính
chất truyền thống, hiện nay không có những tiêu chuẩn về thống kê giúp thực hiện
mục tiêu này. Trong qúa trình thu thập các số liệu có liên quan đến du lịch, các cơ
quan có trách nhiệm trong nước thường áp dụng những khái niệm, định nghĩa và cách
thức phân loại khác nhau, dẫn tới thực trạng là các số liệu thống kê được thực hiện
trong nước thường không thể so sánh được.
Số liệu thống kê ngay chính trong một nước đã khác nhau, cũng dẫn tới việc so
sánh về số liệu giữa các nước càng khó khăn hơn, do các định nghĩa, cách tiếp cận
được sử dụng cũng khác nhau.
Vì vậy, để có những số liệu đáng tin cậy và có thể so sánh được - cả ở trong nội
bộ một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO),
với sự hỗ trợ của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, đã nhận thấy nhu cầu xây dựng hệ
thống tiêu chuẩn quốc tế về thống kê.
Tài liệu đầu tiên về tiêu chuẩn thống kê trong du lịch được giới thiệu lần đầu
tiên năm 1993. “Khuyến nghị về Thống kê Du lịch năm 1993” chính là tài liệu về tiêu
10
chuẩn quốc tế trong thống kê du lịch đang được sử dụng. Tuy nhiên, sau một thời gian
sử dụng, vì một số lý do, những tiêu chuẩn này không còn cập nhật nữa và cần được
sửa đổi bổ sung. Bởi vì:
Kể từ khi hệ thống tiêu chuẩn về thống kê du lịch được giới thiệu vào năm
1993, nhiều vấn đề đã trở lên cấp thiết và cần được giải quyết: lao động trong du lịch,
đầu tư, xác định sự tham gia của chính phủ trong du lịch, tác động đến môi trường, đo
lường du lịch ở cấp độ quốc gia…
Kể từ khi trở thành một cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc năm 2004, tổ

hoạt động vẫn được coi là “điển hình” như tham quan, tắm nắng, chơi hoặc xem thể
thao… Ở đây, trạng thái là khách du lịch có ý nghĩa tạm thời; khi chuyến đi kết thúc,
cá nhân sẽ không còn ở trạng thái là khách du lịch nữa.
Du lịch là một hiện tượng được xác định theo hướng nhu cầu, đóng góp về kinh
tế của du lịch cần được tiếp cận theo hướng các hoạt động của khách du lịch và việc
khách du lịch tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên, cũng có thể xác định theo
hướng cung ứng, trong đó du lịch được hiểu là hệ thống các hoạt động hiệu quả nhằm
chủ yếu phục vụ khách du lịch, hoặc một phần quan trọng trong đầu ra của các hoạt
động này được tiêu thụ bởi khách du lịch.
1.1.3. Đánh giá chất lượng trong thống kê du lịch
Thống kê du lịch là sản phẩm cuối cùng của quá trình phức tạp bao gồm nhiều
giai đoạn, kể từ bước thu thập và xử lý số cho tới việc phổ biến thông tin.
Chất lượng số liệu thống kê du lịch được liên hệ với việc cung cấp cho người sử
dụng lượng thông tin đầy đủ để đánh giá những số liệu đó có phù hợp với mục đích sử
dụng hay không Ví dụ, người sử dụng cần xác định khái niệm và định nghĩa sử dụng
trong quá trình thu thập và xử lý các thông tin cơ bản, phương pháp thu thập thông tin,
12
cũng như là tính chính xác của các số liệu kết quả, trong đó có các dữ liệu thoả mãn
nhu cầu về thông tin.
Hầu hết các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia phát triển hệ thống đánh giá chất
lượng. Cho dù những hệ thống đánh giá hiện nay có khác nhau đôi chút về cách thức
tiếp cận về chất lượng, liên quan tới số lượng, tên gọi và phạm vi, những hệ thống này
hỗ trợ lẫn nhau và có những cơ sở có tính chất linh động và toàn diện để có những
đánh giá định tính về số liệu thống kê.
Ví dụ:
Hệ thống đánh giá chất lượng dữ liệu của IMF (DQAF) bao gồm 5 nhóm nội
dung về chất lượng - đảm bảo tính thống nhất, sự đảm bảo về phương pháp luận, sự
chính xác và độ tin cậy, khả năng tiếp cận và tính dịch vụ.
Hệ thống thống kê Châu Âu (ESS) tập trung vào đầu ra của thống kê và có đề
cập 6 tiêu chí - có sự liên hệ, chính xác, kịp thời và đúng thời gian, khả năng tiếp cận

S ự liên h ệ : Sự liên hệ của thống kê du lịch phản ánh mức độ mà số liệu thống kê du
lịch đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Khó khăn đối với những người thu thập số liệu thống kê là xác định những
nhóm sử dụng khác nhau, đánh giá và ghi nhận những yêu cầu khác nhau của người sử
dụng và xây dựng một chương trình có thể đáp ứng được những nhu cầu quan trọng
nhất, cùng với những hạn chế về nguồn lực đã có.
14
Sư tin c ậy : Sự tin cậy của số liệu thống kê du lịch phản ánh mức độ tin tưởng của
người sử dụng đối với dữ liệu, dựa trên uy tín của cơ quan sản xuất và cung cấp những
dữ liệu đó.
Số liệu thống kê du lịch vì thế cần được thực hiện một cách chuyên nghiệp, phù
hợp với các tiêu chuẩn về thống kê, sử dụng một cách minh bạch các cách thức thu
thập dữ liệu, chính sách và tập quán truyền đạt thông tin.
Chính xác: Sự chính xác của số liệu thống kê du lịch phản ánh mức độ mà các số liệu
này dự báo và miêu tả chính xác về đặc điểm và số lượng những yếu tố mà những số
liệu này đo lường.
Có nhiều yếu tố gắn kết và trong thực tế không có một phép cộng thống nhất và
tổng thể đo lường sự chính xác. Nói chung, sự chính xác được xác định theo những sai
số trong dự báo thống kê. Có thể bao gồm lỗi về chủ quan hoặc lỗi khách quan trong
các mẫu khảo sát.
Sự chính xác và việc đo lường đối với các thống kê dựa trên các quy trình hành
chính - có khá nhiều đối với du lịch (ví dụ như kiểm soát biên giới và giao thông, số
liệu về lao động ).
Sư kịp th ời: Sự kịp thời của số liệu thống kê du lịch phản ánh khoảng thời gian giữa
thời gian tham chiếu mà các số liệu này có sự liên hệ, với ngày mà dữ liệu được công
bố và giới thiệu ra công chúng.
Sự kịp thời có thể được đo lường bởi độ dài của những khoảng thời gian như
thế.
Sự kịp thời gắn liền với thời gian công bố công trình. Thời gian công bố có thể
bao gồm nhiều thời điểm gắn với việc công bố này.

UNWTO khuyến nghị rằng các quốc gia cần xử lý tình huống đánh đổi này
bằng cách đưa ra các dự báo tạm thời dựa trên cơ sở dữ liệu hạn chế hơn, ngay sau
thời điểm tham chiếu. Những sự ước tính này có thể được sửa đổi, bổ sung vào thời
gian muộn hơn, dựa trên hệ thống dữ liệu hoàn thiện hơn nhưng sẽ không kịp thời nữa.
Cần ghi nhận rằng những phương pháp chất lượng như thế sẽ rất khó để phát
triển. Ví dụ, trong trường hợp về sự chính xác, hầu như là không thể đo lường những
xu hướng không có sự phản hồi, do đặc điểm của các yếu tố phản hồi này khó có thể
được đảm bảo. Trong vấn đề này, tỷ lệ phản hồi được sử dụng như một chỉ số chất
lượng, trong đó cung cấp phương pháp đo lường các yếu tố không có sự phản hồi.
Bởi vì xác định một phương pháp định tính chung về chất lượng trong thống kê
du lịch là không thể, UNWTO khuyến nghị rằng các quốc gia phát triển hệ thống chất
lượng thống kê du lịch dựa trên các nội dung đã được đề cập, đồng thời thường xuyên
có báo cáo như là một phần của hệ thống dữ liệu.
UNWTO khuyến nghị rằng việc đánh giá chất lượng của thống kê du lịch cần
được tiến hành trong vòng 4 đến 5 năm một lần, hoặc thường xuyên hơn nếu có những
thay đổi lớn về phương pháp hoặc thay đổi trong cơ sở dữ liệu.
1.1.4. Hợp tác giữa các cơ quan về thống kê du lịch
Dựa trên hệ thống pháp lý và cơ cấu tổ chức của chính phủ, một số cơ quan có
thể tham gia vào quá trình thu thập và truyền đạt số liệu thống kê du lịch, bao gồm cơ
quan du lịch quốc gia, cơ quan phụ trách xuất nhập cảnh, Hiệp hội du lịch, cơ quan
thống kê quốc gia và ngân hàng trung ương.
Tất cả các cơ quan này có những ưu tiên riêng và nhiệm vụ riêng.
Cơ quan thống kê quốc gia (Tổng cục Thống kê) chịu trách nhiệm thu thập và
công bố 6 chỉ tiêu về du lịch (Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia năm 2005)
Các chỉ tiêu khác do ngành du lịch xây dựng, thu thập và công bố
17
Trong đó cần được ghi nhận thành văn bản và xác định một cách cụ thể về loại
hình số liệu thống kê du lịch mà mỗi một cơ quan chịu trách nhiệm, phương pháp
được sử dụng trong quá trình trao đổi thông tin, đảm bảo tính bảo mật, đặc biệt khi
khu vực tư nhân và cơ quan thuế vụ có tham gia. Như vậy sẽ tăng tính hiệu quả trong

là để kiếm sống) do đó sẽ loại trừ những trường hợp chuyển nơi cư trú cho mục đích
công việc. Vì thế những người đi với các mục đích sau đây sẽ được tính vào khách du
lịch :
- Đi vào dịp thời gian rỗi, giải trí và các kỳ nghỉ
- Đi thăm bạn bè, họ hàng
- Đi công tác
- Đi điều trị sức khoẻ
- Đi tu hành hoặc hành hương
- Đi theo các mục đích tương tự khác.
Dựa theo khái niệm này mà khách du lịch được chia làm hai loại : Khách Quốc tế và
khách trong nước.
1.2.2 Khách quốc tế
Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên và
ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với
mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác
là không phải để kiếm sống), không bao gồm các trường hợp sau:
19
- Những người đến và sống ở nước này như một người cư trú thường xuyên ở
nước đó kể cả những người đi theo sống dựa vào họ.
- Những người công nhân cư trú ở gần biên giới nước này nhưng lại làm việc
cho một nước khác ở gần biên giới nước đó
- Những nhà ngoại giao, tư vấn và các thành viên lực lượng vũ trang ở nước
khác đến theo sự phân công bao gồm cả những người ở và những người đi theo sống
dựa vào họ
- Những người đi theo dạng tị nạn hoặc du mục
- Những người quá cảnh mà không vào nước đó (chỉ chờ chuyển máy bay ở sân
bay) thông qua kiểm tra hộ chiếu như những hành khách transit ở lại trong thời gian
rất ngắn ở ga sân bay. Hoặc là những hành khách trên thuyền đỗ ở cảng mà không
được phép lên bờ.
1.2.3. Khách trong nước

so với số khách. Nó có tác dụng trong việc lập kế hoạch các chỉ tiêu có liên quan,
hoạch định khách sạn, chuẩn bị các phương tiện phục vụ công cộng
Tổng số ngày khách được thu thập từ các báo cáo của các đơn vị và các cơ sở
kinh doanh lưu trú.
1.2.6: Khái niệm “tiêu dùng của khách du lịc
h

21
Vì khách du lịch là trung tâm của hoạt động du lịch, vì thế tiêu dùng của
khách du lịch chính là trung tâm của việc đo lường kinh tế hoạt ñộng du lịch.
Tiêu dùng của khách du lịch là lượng tiền chi trả cho việc tiêu thụ hàng hóa và
dịch vụ, cũng như là những ñồ có giá trị, do khách du lịch sử dụng hoặc làm quà
tặng, thực hiện để chuẩn bị hoặc trong thời gian diễn ra chuyến đi du lịch, bao gồm
chi phí của bản thân khách du lịch và chi phí được trả hoặc hoàn trả bởi người
khác.
Khái niệm về tiêu dùng của khách du lịch theo TSA cũng tuân theo khái
niệm “tiêu dùng cuối cùng” trong SNA, đó là “tổng chi tiêu cho tiêu dùng của
khách du lịch hoặc của người thay mặt cho khách du lịc
h
trong suốt chuyến đi và
nghỉ lại tại điểm đế
n
”.
Phạm vi tiêu dùng của khách du lịch có thể được xác định từ các định nghĩa về
tiêu dùng cuối cùng thực tế của hộ, tiêu dùng trung gian của Chính phủ và tiêu dùng
cuối cùng của Chính phủ và cơ quan phi lợi nhuận phục vụ hộ gia đình đã được
trình bày trong SNA 1993, trong đó lưu ý ba điểm là:
-Tiêu dùng của khách du lịch bao gồm tiêu dùng của khách cho công việc,
nghỉ ngơi hoặc các mục đích du lịch khác.
-Tiêu dùng của khách du lịch bao gồm các dịch vụ cá nhân do Chính phủ và

(đây có thể là tiêu dùng trung gian hoặc tích lũy tài sản cố định của đơn vị sản xuất)
1.2.7 Doanh thu du lịch
23
Khái niệm doanh thu được cả chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14) và
chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS18) thống nhất định nghĩa: "Doanh thu là tổng giá
trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động
sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở
hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu".
Theo đó có thể định nghĩa: Doanh thu du lịch là toàn bộ số tiền thu được từ
khách du lịch trong kỳ nghiên cứu do hoạt động phục vụ các loại, bao gồm các chi phí
của khách về dịch vụ hàng hóa du lịch, trừ các chi phí cho vận tải hành khách quốc tế.
Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ, tính theo tháng, quý, năm; với đơn vị tính là đồng
Việt Nam (VNĐ) hoặc ngoại tệ (USD).
Doanh thu du lịch bao gồm: Doanh thu hướng dẫn du lịch, doanh thu vận
chuyển, doanh thu lưu trú, doanh thu kinh doanh hàng ăn uống ngoài ra còn có doanh
thu từ các dịch vụ khác như giặt là vui chơi giải trị, điện thoại, doanh thu bán đồ lưu
niệm
- Công thức tính:

=
i
DD
Trong đó:
+ D là tổng doanh thu
+ D
i
doanh thu từ loại hình kinh doanh du lịch thứ i
Chỉ tiêu doanh thu được thu thập thông qua báo cáo định kỳ của các tổ chức đơn vị
kinh doanh du lịch, số liệu tổng hợp của Tổng Cục Du Lịch và Tổng Cục Thống kê
Ngoài ra, có thể tính thêm chỉ tiêu doanh thu xã hội về du lịch, là tổng số tiền

theo quan điểm cung cầu và trong mối quan hệ qua lại với các ngành kinh tế quốc dân
khác theo cùng một nguyên tắc của tài khoản quốc gia, nhằm đảm bảo tính so sánh
được giữa các vùng, các nước hoặc các nhó nước”.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status