PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Khi nhắc đến những di sản văn hóa của Việt Nam nói chung, và đặc biệt
đối với Cố đô Huế nói riêng, thì không thể không nhắc đến hệ thống các
chùa chiền đã gắn liền với lịch sử của dân tộc, với lịch sử của Cố Đô. Mỗi
khi nghĩ đến Huế ngoài những lăng mộ, cung điện của triều Nguyễn ra, thì
người ta còn luôn nghĩ đến những ngôi chùa cổ trang nghiêm mà gần gũi
với đời sống tinh thần của người dân xứ Huế.
Đến với những danh lam cổ tự, bên cạnh thưởng ngoạn cảnh chùa trong
một thiên nhiên mỹ lệ hay tận hưởng một bầu không khí trầm lắng, thanh
thoát và nhẹ nhàng, người ta còn có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn những di
sản văn hóa phi vật thể, những cái đã làm nên phần hồn sâu sắc trong các
ngôi chùa, đó là những hoành phi và câu đối được bài trí tại đây.
Trong ý nghĩa bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, việc tìm hiểu
hoành phi câu đối ở các danh lam sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn một mảng
văn hóa tinh thần mà bao đời nay đã dày công sáng tạo và gìn giữ. Đó
cũng là một cách giới thiệu hiệu quả để nhiều người hiểu được một phần
nào thế giới tinh thần, tín ngưỡng của người dân Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lâu nay việc nghiên cứu về chùa Huế đã được rất nhiều giới quan tâm.
Nhiều công trình đã đi sâu khảo cứu về mặt lịch sử hình thành, những thế
hệ cao Tăng đã khai sáng ra chùa chiền, như Lịch sử Phật giáo xứ Hếu
của Thích Hải Ấn và Hà Kim Liên(2011); Những ngôi chùa nổi tiếng Việt
Nam của Võ Văn Tường (1994); Văn bia chùa Huế (lưu hành nội bộ) của
Giới Hương Việc khảo sát hoành phi, câu đối cũng đã được nhiều cán bộ
ở các trường Đại học trong và ngoài Huế quan tâm. Tuy nhiên đây là một
mảng nghiên cứu không mấy dễ dàng, bởi số lượng các chùa và các danh
lam ở Huế quá nhiều, việc dịch thuật không chỉ một lần là xong vì nội
dung uyên áo của giáo lý nhà Phật được thể hiện trong các hoành phi câu
đối đòi hỏi có sự hợp sức của nhiều người và nhiều thế hệ, mới mong có
được một hệ thống nghiên cứu thích đáng về mảng di sản văn hóa đáng
ngạch横横横横 hoặc bài biển横横横横.
Hoành phi vốn là bức thư họa横横横横,
tức là bức “tranh chữ”. Thay vì viết
những nét chữ “rồng bay, phượng múa”
lên giấy, vải, lụa…, người xưa đã
chạm, khắc, sơn thiếp
(4)
… văn tự lên
những chất liệu bền vững như gỗ, đá…
để tạo ra những bức “tranh chữ” bề thế,
sang trọng. Người ta còn gọi là hoành
phi-đại tự, vì những chữ được thể hiện trên hoành phi thường rất to. Số
lượng chữ trong một bức hoành phi không bắt buộc nhưng phổ biến là
các hoành phi hai, ba và bốn chữ. Một hàng hoành phi hoàn chỉnh thường
có ba bức ( bức chính ở giữu và hai bức tả liên
(5)
, hữu liên
(6)
ở hai bên).
Khi đọc chữ hoành phi ta đọc từ phải sang trái.
Có hai loại hoành phi khá phổ biến ở nước ta: hoành phi trang trí và
hoành phi thờ tự. Hoành phi trang trí thường được treo ở phòng khách
hay ở chính đường (gian giữa của tòa nhà), vừa để trang trí, vừa thể hiện
một tín niệm nào đó của chủ nhân, có khi là một lời khuyên dạy của tiền
nhân với hậu duệ trong gia tộc. Hoành phi thờ tự là loại hoành phi phổ
biến trong các đình chùa, miếu vũ, nhà thờ họ tộc… Đó có thể là những
biển ngạch định danh những nơi này, hoặc là những danh ngôn, mỹ tự
được thờ phụng, tôn trí trang nghiêm.
1.2 Đặc điểm của hoành phi
Thường hoành phi, câu đối bao giờ cũng đi cùng một diềm gỗ sơn
hình chữ nhật có khung bao
quanh, văn tự thể hiện chân
phương, sơn son thiếp vàng;
có khi hoành phi được thể
hiện kiểu cuốn thư
(13)
, văn tự
khắc nổi hay chạm sâu theo
các kiểu chữ triện, chữ lệ
(14)
rất cầu kỳ, được sơn thiếp rực rỡ, khung
ngoài có khắc chạm các đồ án trang trí rất tinh xảo.
2. Câu đối
2.1 Nguồn gốc
Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi
câu đối là Đối liên横横横横 nhưng tên gọi xưa của nó là Đào phù (横横).
Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán, người Trung
Quốc quan niệm: "Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là
tinh hoa của tinh hoa".
Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng
theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家)
(15)
, câu đối đầu tiên được ghi
lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên
tấm gỗ đào vào năm 959
.
Nguyên bản:
新年納餘慶
3
câu bên trái là thanh bằng.
Vd: 横横横横横横横
横横横横横横横
4
(Câu đối chùa Quốc Ân-Huế)
Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt
( Trắc)
Vạn lý vô vân vạn lý thiên
( Bằng)
2.2.3 Số chữ và các thể câu đối
Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt
câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:
1 Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.
Vd: 横横横 横横横
Tánh tương cận - Tập tương viễn
(Tam tự kinh)
2 Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của
thể thơ ngũ ngôn
(16)
hoặc thất ngôn
(17)
.
Vd: 横横横横横横横
横横横横横横横
Liên tọa đài tiền hoa hữu thực
Bồ đề thụ thượng quả thanh nhàn.
Dịch nghĩa:
Tòa sen đài trước hoa đầy đủ
Cổ thụ bồ đề quả thanh nhàn.
3 Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu
(Câu đối chùa Linh Mụ-Huế)
Dịch nghĩa:
Thuyền nhỏ sương mờ, nhấc chèo khua gậy, tiếng sóng dứt giữa
chín trời, xướng mãi vô ngã vô thanh,
Cây cao bên vực, vén mây nhìn tỏ,bóng trăng nổi chốn thinh
không, ai hay là giả là chân.
2.2.4 Luật bằng trắc
1. Câu tiểu đối:
- Vế phải: trắc-trắc-trắc
- Vế trái: bằng-bằng-bằng
VD: 横横横
横横横
Nhân chi sơ
Tánh bản thiện
6
2. Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu
thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
3. Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn
phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế
đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ
cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu
hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật
thơ thất ngôn.
2.3 Phân loại câu đối
2.3.1 Câu đối Trung Quốc
Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ
thuật:
Phân loại theo cách dùng
• Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở
cửa. Vd横
横横横横横
横横横横横
Anh linh chiếu nhật nguyệt
Can đảm ánh sơn hà
(ST)
Dịch nghĩa:
Anh linh ngời nhật nguyệt
Can đảm ánh non sông
(câu đối phúng điếu anh hùng liệt sĩ)
• Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích
người khác.
横横横横横
横横横横横
Hung hoài thiên lý chí
Cước đạp vạn trùng san
(ST)
Lòng mang chí ngàn dặm
Chân đạp núi muôn trùng
• Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những
khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp
với bút hoạch (thư pháp). Vd:
横横横横横横横
横横横横横横横
Hoa đường hỷ đối sơn hà tú
Phúc trạch hân nghinh nhật nguyệt huy.
(ST)
Dịch nghĩa:
Nhà hoa mừng ngắm non sông đẹp
Đất phúc hoan nghinh nhật nguyệt ngời.
Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật
phong truyền tự cổ,
Cảnh Hưng dĩ tiền Vĩnh Thịnh dĩ hậu sổ bách niên
phạm vũ tráng vu kim.
9
(Câu đối ở chùa Báo Quốc, Huế)
• Xích (sách) tự liên (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối
tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở
chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析
字) v.v.
VD: 木木林森木
人人拆拆人
Mộc mộc lâm sâm mộc
Nhân nhân tùng chúng nhân
(ST)
• Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị
âm cùng với điệp vận.
VD: 白云峰,峰上拆,拆吹拆拆峰不拆
拆拆路,路拆拆,露打拆拆路未拆
Bạch vân phong, phong thượng phong, phong truy phong
động phong bất động.
Thanh tư lộ, lộ biên lộ, lộ đã lộ phi lộ vị phi.
(ST)
• Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín.
VD: 童子看椽,一二三四五六七八九十;
先生拆命,甲乙丙丁戊已庚辛壬癸。
Đồng tử khán mục, nhất nhị tam tứ ngũ lục thất bát cửu
thập,
Tiên sinh giảng mạng, giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân
nhâm quý.
(ST)
cửa.
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc
vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ)
Tết đến không tiền vui chi Tết
Xuân về kết gạo đón chi Xuân.
• Câu đối thờ: Là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần
thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.
Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.
(Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng
mùa xuân. Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu
thảo là cần trước hết)
hoặc:
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
11
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang
(Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia)
Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh
tự tại.
Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.
(Câu đối khắc ở chùa Diệu Đức, Huế).
• Câu đối tự thuật: Là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và
thường dán hoặc treo ở những chỗ thưởng ngoan sơn thủy, tân giao với
bạn bè.
Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc
bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.
Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm,
cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh
(Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)
đứt đuôi.
• Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối
oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối
này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm khác nghĩa
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc,
nó cạch đến già
Con công đi qua chùa kênh, nó nghe
tiếng cồng nó kềnh cổ lại
(Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối
với bốn chữ công kênh cồng kềnh)
Có những vế câu đối rất khó đối như:
Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.
Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về
quê") và phụ tử (cũng có nghĩa "cha con") đồng thời
lại là tên gọi các vị thuốc.
Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây,
Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.
Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa
lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam).
Đặc điểm câu đối của Việt Nam
Câu đối là một loại hình văn hóa rất được người Việt ưa thích, từ
tầng lớp thường dân cho đến các bậc thức giả, quyền quý. Câu đối
xuất hiện trong rất nhiều sinh hoạt đời thường của dân ta: đón Tết,
mừng xuân, tân gia, hôn sự, sinh con, đỗ đạt, thăng tiến, vinh danh,
tuyên dương, vịnh cảnh, bài trí ở các nơi thờ tự, tôn miếu, chùa
chiền… Thậm chí có cả những câu đối dùng để chê người, chửi
đời…
13
Câu đối ngày trước viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm. Câu đối
đời nay viết bằng chữ Quốc ngữ, theo kiểu “thư pháp Việt”. Câu
“Chân”, “Lệ” và “Triện”. Tuy nhiên, chưa bao giờ thấy trên hoành
phi câu đối sơn thếp những nét “cuồng thảo”
(21)
.
CHƯƠNG II:
HOÀNH PHI VÀ CÂU ĐỐI TẠI MỘT SỐ CHÙA Ở HUẾ
1. Vài nét về lịch sử Phật giáo Huế và đặc điểm kiến trúc chùa
Huế
1.1 Vài nét về lịch sử Phật giáo Huế
Thuận Hóa – Huế nguyên là hai châu Thuận và Hóa thời Trần. Châu
Ô nguyên là đất Ô Mã và Rí nguyên là đất Việt Lý của vương quốc
Chiêm Thành. Đây là hai châu nằm phía cực bắc của vương quốc này,
tiếp giáp với vùng đất cực nam của nước Đại Việt, cụ thể là đất Ma
Linh, mà cùng với Địa Lý và Bố Chính đã được vua Lý Thánh Tông
(22)
sáp nhập vào Đại Việt khoảng năm 1064. Vấn đề hình thành châu
14
Thuận và châu Hóa liên quan đến việc vua Trần Nhân Tông
(23)
quyết
định gả con gái là công chúa Huyền Trân
(24)
cho vua Chiêm Thành là
Chế Mân. Điều này trong sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư nói đến rất
nhiều. Qua những ghi chép của Đại Việt Sử Kí Toàn Thư thì tên Thuận
Hóa xuất hiện đầu tiên vào tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), bằng
việc đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Người đầu
tiên được chính quyền cử đến tiếp quản vùng đất mới sáp nhập này là
Đoàn Nhữ Hài
(25)
của Trung Quốc, bên cạnh đó Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử cũng có với sự truyền bá của Thiền sư Hương Hải
(31)
, nhưng
ảnh hưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử rất ít và về sau dường như
không còn. Và có thể nói sự truyền bá thịnh hành nhất của Phật giáo
tại Huế là tông Lâm Tế.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Phật giáo Huế hoàn toàn là
phiên bản của các thiền phái Trung Quốc. Điều này thấy rõ nhất sau sự
xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán
(32)
một người Việt Nam học đạo với các
vị Tổ sư Trung Hoa sang truyền đạo tại Huế như Ngài Giác Phong, Tế
Viên Về sau đắc pháp với Ngài Minh Hoằng Tử Dung
(33)
khai sơn
chùa Ấn Tôn, Từ Đàm, cũng là một vị Thiền sư Trung Hoa sang Việt
Nam truyền đạo. Phật giáo Huế thật sự phát triển mạnh chính là bắt
15
đầu từ sự xuất hiện của Ngài Liễu Quán, khai sơn chùa Thiền Tôn. Và
chúng ta có thể nói Ngài Liễu Quán là người đã khai sáng thiền phái
Việt Nam thứ hai tại Việt Nam và là thiền phái Việt Nam đầu tiên tại
Huế với dòng kệ “Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng, tâm nguyên
quảng nhuận ”. Cho đến bây giờ thiền phái Liễu Quán là thiền phái
phát triển nhất từ Huế vào đến tận cực nam của Tổ quốc. Hiện nay tại
Huế trừ chùa Quốc Ân, Hải Đức, và một vài chùa thuộc hai tổ đình
này, còn lại tất cả đều được truyền thừa theo dòng kệ của Thiền phái
Liễu Quán.
1.2 Vài nét về đặc điểm kiến trúc chùa Huế
Nói đến tổng thể cảnh quang cố đô Huế, chúng ta không thể không
hay nhà bếp. Kiểu nhiều lối vào như thế cũng gợi lên ý nghĩa của
16
nhiều pháp môn có thể dẫn dắt tín đồ tùy duyên đến với đạo pháp.
Ngay giữa Tam Quan là trục chính đạo dẫn vào tiền đường và chính
điện ngang qua khuôn sân ngoài của chùa. Qua khỏi sân ngoài là tiền
đường, ngày xưa là kiểu nhà vỏ cua trải dài theo chiều ngang, về sau
thường là kiểu tiền đường đúc cốt thép có mái ngói. Hai bên là hai lầu
chuông trống kiểu tứ giác hoặc lục giác.
Sau tiền đường là chính điện, thường được gọi là Đại Hùng Bảo
Điện, đây là phần kiến trúc chính của ngôi chùa. Phần này thường là
một tòa nhà lớn gồm có ba gian hai chái, tòa nhà này thường có bề
ngang lớn hơn bề dài, tức là có dáng hình chữ nhật. Đây cũng là một
trong các đặc điểm của kiến trúc chùa Huế. Kết cấu của chính điện
theo lối nhà rường cổ với ba gian hai chái với kèo cột gỗ, sau này dù
có trùng tu sửa chữa bằng bê tông cốt thép nhưng cũng giữ gìn lối kiến
trúc này. Ba gian giữa là điện thờ Tam Thế Phật
(36)
vào Bồ Tát
(37)
, phía
sau là Tổ đường
(38)
. Hai chái tả hữu làm phương trượng của vị trụ trì,
cũng có lúc là nơi ở của tăng chúng và khách đường.
Sau chính điện là mảnh sân trong trồng hoa và cây cảnh, còn gọi là
hoa viên, hai bên của hoa viên này là hai dãy nhà gọi là Đông lan và
Tây lan. Phía trước hoa viên là Tổ đường và hậu đường, phía sau hoa
viên là hậu liêu. Phía sau hậu liêu, hoặc nối theo Đông lan, Tây lan là
tịnh trù (nhà bếp). Hai bên sân chùa và phía sau là vườn chùa. Chùa
Huế thường có vườn rất rộng, trong đó một phần trồng cây ăn trái, rau
loại theo số lượng chữ, theo vị trí trang trí, theo nội dung…nhưng dù
hoành phi được phân loại như thế nào đi nữa, thì nội dung chủ yếu của
hoành phi trong các chùa ở Huế thường mang những nội dung chủ yếu
sau:
2.1 Hoành phi tên chùa, điện các
Đây là loại hoành phi phổ biến nhất trong các chùa ở Huế, trên
hoành phi ghi tên của chùa, tên của các điện các hay các nơi thờ
phụng, tổ đường, thiền đường, tàng kinh các, bảo tháp, phương
trượng…
Nội dung loại hoành phi này thường là một danh từ chỉ nơi chốn
nào đó mà thôi, vì thế nội dung chỉ thường là hai chữ, ba chữ và không
quá bốn chữ ( ngoại trừ một số hoành phi đặc biệt).
Các hoành phi loại này thường được đặt ngay trên cửa chính ở lối ra
vào, hoặc ngay chính giữa gian nhà trung tâm. Thông thường mỗi khu
vực chỉ đặt duy nhất một bức hoành phi loại này mà thôi. Với chức
năng chủ yếu của nó là tạo thêm vẽ uy nghi, trang trọng và nhằm chỉ
cho mọi người biết chỗ đấy là chỗ nào ở trong khuôn viên chùa.
Trong các chùa ở Huế những khu vực thường được thiết trí kiểu
hoành phi này gồm các khu vực sau:
- Cổng chính
Là cổng nằm ngay chính giữa, đối diện với chánh điện. Cổng
chính của đa số các chùa ở Huế thường được xây theo kiến trúc
cổng “tam quan” một tầng hoặc hai tầng; hoặc theo kiểu kiến trúc “
trụ biểu”
(39)
, thường gồm bốn trụ, có chùa là bốn trụ độc lập nhau,
có chùa bốn trụ được liên kết lại với nhau.
Hoành phi cổng chính thường có các nội dung sau:
18
横横横 Bát Nhã Môn ( cách cửa của Bát Nhã), 横横横 Trí Tuệ Môn
lớn và quý báu) hay tên cụ thể của tháp ấy như:横横横 Phước
Duyên Tháp; 横横横 Vạn Phật Tháp ( tháp vạn Phật)
- Nhà thiền
Là nơi để chư Tăng Ni và các tín đồ tọa thiền tĩnh tâm. Nhà
thiền trong các chùa ở Huế không phổ biến lắm, thường thì các
chùa theo tông phái thiền tông và các thiền viện thì mới có xây
dựng nhà thiền.
Thường có các nội dung sau:
横横 Thiền Đường, 横横横 Tịnh Tâm Đường
- Phương trượng
Là nơi ở, nghỉ ngơi, sinh hoạt của vị trú trì trong chùa hay thiền
viện.
横横
19
Phương trượng
Ngoài ra các vị trí khác trong các chùa ở huế rất ít khi có đặt
hoành phi loại này.
2.2 Một số loại hoành phi đặc thù khác
• Hoành phi truyền đạt tư tưởng, quan điểm phật giáo
Đây là một trong những loại hoành phi rất phổ biến và quan
trọng trong các chùa ở Huế. Bên cạnh hoành phi mang tên chùa,
điện các thì trong các chùa vẫn không thể thiếu đi loại hoành
phi truyền đạt tư tưởng, quan điểm Phật giáo.
Hoành phi truyền đạt tư tưởng, quan điểm Phật giáo thường có các nội
dung sau:
横横横横
Từ bi vô lượng ( lòng thương không hạn lượng)
Thuật ngữ Từ bi trong Phật giáo được hiểu: “bi” là xót thương,
thương tưởng, nghĩa là chúng ta phải biết thương, biết nghĩ đến
những ai đang gặp đau khổ, hoạn nạn, khó khăn……( vì thế chữ
dùng từ bi, trí tuệ, hỷ xã để đối xữ với nhau, giữa các quốc gia, dân
tộc đều có thể dùng từ bi, trí tuệ và hỷ xã để đến với nhau thì thế
giới sẽ không bao giờ có khói lửa chiến tranh, nghèo đói, bất
công tồn tại trong xã hội loài người.
横横横横
Báo phật ân thâm ( đền đáp ân đức thâm sâu của đức Phật)
Đây là thể hiện quan điểm và tinh thần tri ân-báo ân trong Phật
giáo. Trong cuộc sống mỗi chúng ta ai cũng đang mang ơn của bốn
bậc ân đức mà chúng ta cần phải biết ơn và đền trả, Phật giáo gọi là
Tứ đại trọng ân, tức là ân cha mẹ sinh thành, nuôi nấng; ân thầy
bạn dạy dỗ, chỉ bày; ân của những người đã từng giúp đỡ, cứu giúp
mình; ân của các bậc lãnh đạo quốc gia, đất nước đã cho ta có được
một đất nước hòa bình, an ninh, nhân dân được an cư lạc nghiệp.
Báo Phật ân thâm là phải luôn luôn biết ơn và báo ơn đức Phật-
một trong tứ đại trọng ân ở trên, bởi đức Phật chính là người thầy
cao quý nhất đã đưa đường chỉ lối cho chúng sinh giải thoát ra khỏi
những khổ đau, phiền não và hệ lụy trong cuộc sống nhân sinh.
横横横横
Công viên quả mãn( sự tu hành đạt đến chánh quả viên mãn)
Đây là quan điểm báo đáp ân thâm của đức Phật trong Phật giáo,
muốn báo đáp ân đức đấng giác ngộ mà mình đang tôn kính Phật
giáo không đặt nặng vấn đề phải cung phụng hay sùng bái quá mức
vào đức Phật, mà Phật giáo chủ trương chính mình hãy cố gắng nỗ
lực tu tập, thực hành giáo pháp để giải thoát, đạt đến chánh quả
viên mãn cho chính mình và mọi người thì đấy mới chính là đền
đáp công ơn của đức Phật thật sự. Trong Thủy sám
(43)
văn do ngài
Thích Trí Quang dịch có đoạn viết: “ Muốn báo ơn Phật, thì ngay
đời này cố gắng nỗ lực, chịu khó chịu nhọc, không tiếc thân mạng
hòa, không có thiên tai, hoạn nạn cho mọi người.
横横横横
Quốc thái dân an
Cầu nguyện cho tổ quốc luôn được thái bình, thịnh vượng,
không có khói lửa binh đao của chiến tranh, nhân dân được an
cư lạc nghiệp, sống ấm no hạnh phúc.
• Hoành phi mang ý nghĩa tán thán, ca tụng
Nội dung của loại hoành phi này có thể mang ý nghĩa ca
tụng, khen ngợi về Phật Pháp, Đức Phật, Chư Tổ hay các bấc
bậc Trưởng lão, Cao tăng có công hạnh và oai đức lớn lao mà
mọi người đều kính ngưỡng.
Hoành phi mang ý nghĩa tán thán, ca tụng thường mang các
nội dung sau:
横横横横
Quảng đại thế giới ( Thế giới rộng lớn)
Ca tụng sự lớn lao và rộng lớn bao la của Phật pháp. Phật
pháp như một thế giới rộng lớn, không biên giới, không rào cản,
bất kỳ ai cũng đều có thể hòa mình, đều có thể bước vào trong
thế giới bao la như vũ trụ ấy. Trong Phật pháp là “ tối bình
đẳng” không còn ranh giới của giai cấp, chủng tộc, địa vị…
22
横横横横
Vô thượng y vương ( Bậc đại phu cao thượng nhất)
Ca tụng đức Phật là người đã giác ngộ và đêm sự giác ngộ ấy
đến với mọi người, mọi loài chúng sinh. Đức phật được ví như
là “ vị vua trong tất cả các bậc đại phu”, bởi ngài có thể chữa trị
hoàn toàn tất cả các bệnh tật của chúng sinh, đấy chính là tâm
bệnh. Ngài như một bậc đại phu khéo léo và tài ba nhất trong
thế giới, ngài có thể làm xoa dịu, xóa tan đi những phiền muộn
và đau khổ của chúng sinh, giác ngộ, thức tỉnh những ai hữu
Khai sơn chùa Từ Hiếu, được cửa đây thêm viên mãn mà
hưởng quốc trạch Phật ân.
(Câu đối ở cổng chùa Từ Hiếu)
Tổ sư Nhất Định lên núi dựng thảo am gọi là am An Dưỡng để
nuôi bệnh mẹ già. Phụng dưỡng mẹ già không ngần ngại sớm hôm
mưa gió khiến tiếng lành vang rộng muôn nơi. Cũng nhờ thế mà
mọi người lấy đây làm gương hiếu hạnh học theo điều lành. Ngài
cũng nhờ đó mà có duyên hóa độ rộng rải quần chúng nhân dân. Về
sau thảo am được vua ban “sắc tứ Từ Hiếu tự” nhằm ca ngợi một
con người hiếu thảo, đạo cao đức trọng, hạnh nguyện độ tha cao cả.
Cũng tại cổng chùa Từ Hiếu chúng ta còn có thể thấy nhiều câu đối
khác cũng có nội dung mang ý nghĩa tán dương Phật pháp, như:
横横横横横横横
横横横横横横横
Tứ hải danh nhân ghi cổ tự
Nhất sơn phong vật mị thiền tâm
Danh nhân bốn biển ghi cổ tự,
Phong cảnh một núi đẹp thiền thâm.
Xa gần trong bốn biển, có biết bao danh nhân đã từng một lần đặt
chân lên cõi an lạc của chốn thiền môn. Ngắm cảnh làm thơ để tâm
hồn lạc bước như đi vào cõi thần tiên. Giữa người và cảnh hòa
đồng vào nhau, ăn nhập vào nhau. Ở giữa chốn không người chìm
đắm không muốn quay về, giữa chốn phong cảnh núi rừng, dù
nhìn vào là sự u tịch nhưng nơi đó là cõi của sự an lạc, là đất lành
để tâm hồn lắng động, thanh tịnh. Trên một dãy núi đẹp, bên một
bờ suối trong, chắc chắn xuất hiện một ngôi chùa đẹp. Cảnh thiền
môn hòa vào vào trong cảnh đẹp thiên nhiên làm cho giá trị của sự
hài hòa tăng lên khiến khách viếng cảnh thăm chùa không muốn
rồi gót quay về.
Hay tại cổng chùa Thuyền Tôn có câu:
những thứ làm sạch làm thơm mà hằng ngày chúng ta thường sử
dụng như hoa tươi, phấm thơm, sáp thơm, nước hoa mà chính là
cái sạch cái thơm của sự trong sạch, thanh liêm, ngay thẳng, vì chỉ
có những thứ “trang sức” này mới có thể làm cho bản thân chúng ta
25