Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
lời mở đầu
Phi thơng bất phú, câu nói của ngời xa ngày càng thể hiện tính đúng
đắn của nó khi mà nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và
đang đạt đợc những thành tích đáng kể trong lĩnh vực thơng mại. Kinh tế Việt
Nam đang chuyển hoá từ nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, mở ra những bớc ngoặt quan trọng, những nấc
thang cao hơn trên tiến trình hội nhập với sự phát triển chung của toàn thế giới.
Trong thời kỳ chuyển hoá này, hoạt động kinh doanh thơng mại đóng một vai
trò vô cùng quan trọng, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy sản xuất trong nớc
cả về số lợng và chất lợng hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
mọi tầng lớp dân c, góp phần mở rộng giao lu hàng hoá, quan hệ trong và ngoài
nớc.
C.Mac đã từng khẳng định : Lu thông vừa là tiền đề, vừa là điều kiện, vừa
là kết quả của sản xuất và ông đa ra biểu thức về quá trình luân chuyển hàng
hoá : T-H-T
.
.
Khi T
> T điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đã tổ chức tốt khâu tiêu
thụ (bán hàng) từ đó tăng vòng quay vốn và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận mau
chóng trở thành hiện thực. Nói nh vậy để thấy đợc vai trò quan trọng của chiếc
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng bán hàng và để chiếc cầu này hoạt
động liên tục, nhịp nhàng thì cần phải có một bộ máy hỗ trợ đắc lực, đó là bộ
máy kế toán trong doanh nghiệp, đặc biệt là kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng. Bộ phận này cung cấp thông tin về tình hình bán hàng và xác
định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp biết rõ từng
khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình mua, bán, dự trữ hàng
1.1. Sự cần thiết của việc tổ chức kế toán bán hàng và
xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm về bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
Bán hàng : Là việc chuyển quyền sở hữu hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ
cho khách hàng đồng thời thu tiền và có quyền thu tiền về số sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ đã cung cấp, số tiền này đợc gọi là doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ.
Hàng bán có thể là thành phẩm do đơn vị sản xuất ra (đối với đơn vị sản
xuất) và cũng có thể là hàng do đơn vị mua vào rồi bán (đối với đơn vị thơng
mại).
Dịch vụ cung cấp đợc thực hiện trên cơ sở những công việc đã thoả thuận
theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán.
Đây cũng chính là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn thành
phẩm, hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả.
Quá trình này chỉ đợc coi là hoàn thành khi có đủ hai điều kiện :
- Doanh nghiệp đã gửi hàng cho khách hàng.
- Khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho doanh
nghiệp.
Đây chính là hai điều kiện cần và đủ để doanh nghiệp hoàn thành quá
trình bán hàng của mình.
Kết quả bán hàng : Khi quá trình bán hàng hoàn thành bao giờ doanh
nghiệp cũng thu về một kết qủa nhất định, đó chính là kết quả bán hàng. Nó đợc
hình thành trên cơ sở so sánh giữa doanh thu bán hàng thuần và các chi phí phát
Nguyễn Thị Minh Hoa
3
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
sinh trong quá trình bán hàng, đó là các chi phí về giá vốn hàng bán, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong một kỳ nhất định.
Kết quả bán hàng có thể là lỗ hoặc lãi. Nếu là lỗ sẽ đợc xử lý bù đắp theo
nắm bắt đợc tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phục vụ cho việc đa ra các
quyết định kinh doanh của mình ví dụ nh có nên tiếp tục quan hệ làm ăn với
doanh nghiệp hay không, có nên cho vay hay đầu t vào doanh nghiệp hay
không?...
Qua những phân tích trên đây, ta thấy đợc mục đích của kế toán bán hàng
và xác định kết quả bán hàng là xử lý, cung cấp những thông tin cần thiết cho
các đối tợng sử dụng khác nhau để đa ra các quyết định kinh doanh phù hợp.
Đó chính là vai trò quan trọng của tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả
bán hàng trong doanh nghiệp.
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
trong doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý,
kế toán bán hàng và xác định kết quả có nhiệm vụ sau :
- Ghi chép đầy đủ, kịp thời khối lợng hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã
bán ra, tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, các khoản chi phí đã bỏ
ra trong quá trình bán hàng nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch phân
phối lợi nhuận, kỷ luật thanh toán và thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc.
- Cung cấp thông tin trung thực và đầy đủ về tình hình bán hàng, xác
định và phân phối kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý
doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, kế toán bán hàng và xác định kết quả
bán hàng cần phải thực hiện đợc các yêu cầu sau :
Thứ nhất : Xác định đúng thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ để kịp
thời lập báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu. Phản ánh thờng xuyên, kịp
thời tình hình bán hàng và thanh toán với khách hàng, đảm bảo giám sát chặt
chẽ lợng hàng tiêu thụ cả về mặt số lợng lẫn chất lợng...Đồng thời đôn đốc việc
Nguyễn Thị Minh Hoa
5
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
6
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao trực tiếp cho ng-
ời mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp. Hàng hoá đợc coi là bán
khi ngời mua đã nhận hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng, còn việc
thanh toán tiền bán hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký giữa hai
bên.
+ Bán qua kho theo hình thức chuyển hàng :
Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho chuyển cho ngời mua
bằng phơng thức vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi nào ngời mua xác nhận đã nhận đợc
hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá mới chuyển quyền sở hữu và đợc
coi là tiêu thụ.
- Bán buôn vận chuyển thẳng : Theo phơng thức bán hàng này, doanh
nghiệp mua hàng của bên cung cấp để bán thẳng cho ngời mua. Phơng thức này
cũng đợc chia thành hai hình thức:
+ Bán vận chuyển thẳng trực tiếp :
Theo hình thức này, doanh nghiệp mua hàng của bên cung cấp để giao
bán thẳng cho ngời mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp ở bên
cung cấp hàng cho doanh nghiệp. Hàng hoá chỉ đợc coi là bán khi ngời mua đã
nhận đủ hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng của doanh nghiệp, còn
việc thanh toán tiền bán hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký kết
giữa hai bên.
+ Bán vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng : Theo hình thức
này, doanh nghiệp mua hàng của bên cung cấp và chuyển hàng đi để bán thẳng
cho bên mua bằng phơng tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Hàng hoá gửi đi
vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi nào bên mua xác nhận đã nhận
đợc hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì doanh nghiệp mới coi là thời điểm bán
hàng.
sau:
- Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt :
Nguyễn Thị Minh Hoa
8
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
Theo phơng thức này, khi ngời mua nhận đợc hàng từ doanh nghiệp thì sẽ
thanh toán ngay cho doanh nghiệp bằng tiền mặt hoặc nếu đợc sự đồng ý của
doanh nghiệp thì bên mua sẽ ghi nhận nợ để thanh toán trong thời gian sau này.
Thông thờng phơng thức này đợc sử dụng trong trờng hợp ngời mua là
những khách hàng nhỏ, mua hàng với khối lợng không nhiều và cha mở tài
khoản tại ngân hàng.
- Thanh toán qua ngân hàng :
Trong phơng thức này ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa doanh
nghiệp và khách hàng làm nhiệm vụ chuyển tiền từ tài khoản của ngời mua sang
tài khoản của doanh nghiệp và ngợc lại. Trong phơng thức này có nhiều hình
thức thanh toán nh:
+ Thanh toán bằng séc.
+ Thanh toán bằng th tín dụng.
+ Thanh toán bù trừ .
+ Uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi...
Phơng thức này thờng đợc sử dụng trong trờng hợp ngời mua là những
khách hàng lớn, hoạt động ở vị trí cách xa doanh nghiệp và đã mở tài khoản ở
ngân hàng.
Trong tơng lai phơng thức này sẽ đợc sử dụng rộng rãi vì những tiện ích
của nó đồng thời làm giảm đáng kể lợng tiền mặt trong lu thông, tạo điều kiện
thuận lợi để nhà nớc quản lý vĩ mô nền kinh tế .
1.2.2. Doanh thu bán hàng.
* Doanh thu : Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đợc
trong một kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông th-
thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền
kiểm soát hàng hoá cho ngời mua.
Trờng hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền
sở hữu hàng hoá thì giao dịch không đợc coi là hoạt động bán hàng và doanh
thu không đợc ghi nhận. Ví dụ nh khi ngời mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng
Nguyễn Thị Minh Hoa
10
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
vì một lý do nào đó đợc nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp cha chắc
chắn về khả năng hàng bán có bị trả lại hay không...
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng đợc xác định và doanh thu đợc ghi
nhận. Ví dụ nh doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hoá chỉ
để đảm bảo sẽ nhận đợc đủ các khoản thanh toán.
Trờng hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố
không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã
xử lý xong. Nếu doanh thu đã đợc ghi nhận trong trờng hợp cha thu tiền thì khi
xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu đợc thì phải hạch toán vào chi
phí sản xuất kinh doanh.
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải đợc ghi nhận
đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí bao gồm cả chi phí phát sinh
sau ngày giao hàng thờng đợc xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận
doanh thu đợc thoả mãn. Các khoản tiền nhận trớc của khách hàng không đợc
ghi nhận là doanh thu mà đợc ghi nhận là một khoản nợ phải trả tại thời điểm
nhận tiền trớc của khách hàng. Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trớc của khách
hàng chỉ đợc ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thoả mãn 5 điều kiện quy định
trên.
* Doanh thu bán hàng thuần (DTT) : Là khoản chênh lệch giữa doanh
thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm : Giảm giá hàng bán,
(4a) Các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trong kỳ.
(4b) Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu sang TK511 để xác định
DTT.
(5) Cuối kỳ kết chuyển DTT sang TK911 để xác định kết quả kinh doanh.
1.2.3. Các khoản giảm trừ doanh thu.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, để đẩy nhanh quá trình
tiêu thụ sản phẩm, thu hồi nhanh chóng tiền bán hàng, doanh nghiệp cần đa ra
các chính sách nhằm thu hút, khuyến khích khách hàng nh : Nếu khách hàng
mua với khối lợng lớn thì sẽ đợc giảm giá, nếu hàng hoá của doanh nghiệp kém
phẩm chất thì khách hàng có thể trả lại hoặc không chấp nhận thanh toán hoặc
yêu cầu doanh nghiệp giảm giá...Cụ thể :
Nguyễn Thị Minh Hoa
12
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
- Chiết khấu thơng mại : Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
cho khách hàng mua hàng với khối lợng lớn.
- Giảm giá hàng bán : Là khoản giảm trừ cho ngời mua do hàng hoá kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Giá trị hàng bán bị trả lại : Là giá trị khối lợng hàng bán đã xác định là
tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
- Các khoản thuế : thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.
1.2.4. Phơng pháp xác định trị giá vốn hàng bán.
Để xác định đúng đắn kết quả kinh doanh, doanh nghiệp cần xác định
đúng đắn trị giá vốn hàng bán.
Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh liên quan đến quá
trình bán hàng bao gồm trị giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.
Trị giá vốn hàng xuất kho để bán :
Đối với doanh nghiệp sản xuất, trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán
cuối kỳ là hàng tồn kho đợc mua hoặc sản xuất trớc đó. Theo phơng pháp này
thì giá trị hàng xuất kho đợc tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau
cùng, giá trị của hàng tồn kho đợc tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc
gần đầu kỳ còn tồn kho.
Tính trị giá vốn của hàng đã bán :
Kế toán căn cứ vào trị giá vốn hàng xuất kho để bán, chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp của số hàng đã bán để tổng hợp lại tính trị giá vốn
hàng đã bán nh sau:
Trị giá vốn
hàng đã bán
=
Trị giá vốn
hàng xuất kho
để bán
+
Chi phí BH và
chi phí QLDN
của số hàng đã bán
Trị giá vốn hàng đã bán đợc thể hiện theo sơ đồ tài khoản sau :
Sơ đồ 2
TK 632 TK 911
Nguyễn Thị Minh Hoa
14
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
Giá vốn hàng bán
Giá
TK 641 vốn
CPBH của số hàng đã bán hàng
đã
kết quả kinh doanh tuỳ theo từng loại hình và điều kiện kinh doanh của doanh
nghiệp :
Đối với doanh nghiệp sản xuất, nếu chu kỳ kinh doanh dài, trong kỳ
không có hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ thì cuối kỳ hạch toán phân bổ và kết
chuyển toàn bộ (hoặc một phần) CPBH sang theo dõi ở loại chi phí chờ kết
chuyển tơng ứng với số sản phẩm cha tiêu thụ.
Đối với doanh nghiệp thơng mại, trờng hợp doanh nghiệp có dự trữ hàng
hoá giữa các kỳ có biến động lớn cần phân bổ một phần chi phí bảo quản cho số
hàng còn lại cuối kỳ.
Sơ đồ 3 : Sơ đồ kế toán chi phí bán hàng ( sang trang)
Diễn giải sơ đồ :
(1) Chi phí nhân viên phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
(2) Giá trị vật liệu phục vụ cho quá trình bán hàng.
(3a) CC,DC cho quá trình bán hàng trong trờng hợp phân bổ một lần.
(3b) CC,DC phục vụ quá trình bán hàng trong trờng hợp phân bổ nhiều
lần.
(4) Trích khấu hao TSCĐ cho bộ phận bán hàng.
(5) Trích trớc chi phí bảo hành sản phẩm trong kỳ.
(6) Chi phí bằng tiền khác phát sinh trong quá trình bán hàng.
(7) Các khoản đợc ghi giảm chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
(nếu có)
Nguyễn Thị Minh Hoa
16
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
(8) Cuối kỳ xác định và kết chuyển CPBH để xác định KQKD.
(9a) Phân bổ CPBH cho số sản phẩm, hàng hoá còn lại cuối kỳ cha tiêu
thụ.
(9b) Sang kỳ kế toán sau, kết chuyển CPBH từ TK 1422 vào TK 911 để
xác định KQKD.
quản lý chi tiêu tiết kiệm, hợp lý. Đây là loại chi phí liên quan đến mọi hoạt
động trong doanh nghiệp, do vậy cuối kỳ cần phải đợc tính toán, phân bổ để xác
định kết quả kinh doanh.
Việc hạch toán, phân bổ và kết chuyển CPQLDN vào cuối kỳ cũng tơng
tự nh đối với CPBH.
Sơ đồ 4 : Sơ đồ kế toán CPQLDN ( sang trang)
Diễn giải sơ đồ :
(1) Chi phí nhân viên quản lý phát sinh trong kỳ
(2) Trị giá thực tế vật liệu các loại xuất dùng cho công tác quản lý DN
phát sinh trong kỳ.
(3a) Công cụ, dụng cụ phục vụ cho công tác quản lý DN trờng hợp phân
bổ 1 lần.
(3b) Công cụ, dụng cụ phục vụ cho công tác quản lý DN trờng hợp phân
bổ nhiều lần.
(4) Trích KHTSCĐ dùng chung cho toàn doanh nghiệp.
(5) Thuế, phí, lệ phí phát sinh trong kỳ.
(6) Chi phí bằng tiền khác.
Nguyễn Thị Minh Hoa
18
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
(7) Khoản chi lãi của vốn vay dùng cho SXKD phải trả hoặc đã trả trong
kỳ.
(8) Các khoản đợc ghi giảm CPQLDN phát sinh trong kỳ nếu có.
(9) Cuối kỳ kết chuyển CHQLDN để xác định kết quả kinh doanh.
(10a) Phân bổ CPQLDN cho sản phẩm, hàng hoá cuối kỳ cha tiêu thụ.
(10b) Sang kỳ kế toán sau, kết chuyển CPQLDN từ TK1422 vào TK911
để xác định KQKD.
1.2.6. Xác định kết quả bán hàng .
Trong mọi hình thái xã hội, mọi ngành và mọi doanh nghiệp, khi hoạt
- Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
- Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng
- Phiếu nhận hàng của nhân viên bán hàng
- Hoá đơn vận chuyển hàng hoá
- Phiếu xuất kho
- Phiếu lên hàng ...
Trình tự luân chuyển chứng từ bán hàng đợc thể hiện qua sơ đồ sau :
Sơ đồ 5 :
(1) (2)
(3)
(5) (4)
Diễn giải sơ đồ :
(1) Bộ phận bán hàng tiếp nhận đơn đặt hàng của khách
(2) Chuyển đơn đặt hàng cho phòng tài chính kế toán
Nguyễn Thị Minh Hoa
20
Đơn đặt hàng Bộ phận BH Bộ phận tài vụ
KT tiêu thụ
và thanh toán
Kho Xuất kho HH
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
(3) Bộ phận bán hàng lập hoá đơn bán hàng để thủ kho căn cứ xuất kho
(4) Căn cứ vào các chứng từ hợp lý, hợp lệ, thủ kho tiến hành xuất kho
(5) Chuyển hoá đơn cho bộ phận kế toán có liên quan để làm căn cứ ghi
sổ tiêu thụ và theo dõi thanh toán.
cho ngời mua hàng do việc ngời mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hóa),
dịch vụ với khối lợng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thơng mại ghi trên hợp
đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua,bán hàng.
Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp 2 :
+ TK 521(1) : Chiết khấu hàng hoá
+ TK521(2) : Chiết khấu thành phẩm
+ TK521(3) : Chiết khấu dịch vụ
- TK 531 Hàng bán bị trả lại : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá
của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các
nguyên nhân : Do vi phạm cam kết; vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất,
kém phẩm chất, sai quy cách...
- TK 532 Giảm giá hàng bán : Tài khoản này dùng để phản ánh khoản
giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ kế toán.
- TK 632 Giá vốn hàng bán : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá
vốn của thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây,
lắp (Đối với doanh nghiệp xây, lắp) bán trong kỳ.
- TK 641 Chi phí bán hàng : Tài khoản này dùng để phản ánh các chi
phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nh chi
phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí đóng gói sản
phẩm...
Tài khoản này đợc mở thành 7 tài khoản cấp 2 tơng ứng với các nội dung
của CPBH.
- TK 642 Chi phí quản lý doanh nghiệp : Tài khoản này dùng để phản
ánh các khoản chi phí quản lý chung của doanh nghiệp nh chi phí về lơng nhân
viên bộ phận quản lý, chi phí vật liệu văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng cho
quản lý doanh nghiệp...
Nguyễn Thị Minh Hoa
22
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
(7) Kết chuyển CPBH
(8) Kết chuyển CPQLDN
(9a) Kết chuyển lãi hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
(9b) Kết chuyển lỗ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
* Sơ đồ hạch toán nghiệp vụ bán hàng theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
Sơ đồ 7 ( sang trang)
Diễn giải sơ đồ :
(1) Doanh nghiệp mua hàng hóa
(2a) Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ
(2b) Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ
(3) Xác định tổng trị giá hàng xuất bán
(4a) Giá trị hàng hoá gửi bán nhng cha đợc chấp nhận thanh toán
(4b) Giá trị hàng hoá gửi bán nhng cha đợc chấp nhận thanh toán
(5a) Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thu tiền ngay
(5b) Thuế GTGT phải nộp
Nguyễn Thị Minh Hoa
24
Luận văn tốt nghiệp học viện ti
chính
(6a) Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu sang TK511 để xác định
DTT
(6b) Kết chuyển DTT
(7) Kết chuyển giá vốn hàng bán
(8) Kết chuyển CPBH
(9) Kết chuyển CPQLDN
(10a) Kết chuyển lãi hoạt động SXKD trong kỳ
(10b) Kết chuyển lỗ hoạt động SXKD trong kỳ.
1.3.3. Tổ chức hệ thống sổ, báo cáo kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng.
Số lợng sổ kế toán và kết cấu mẫu sổ kế toán sử dụng ở doanh nghiệp phụ