Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Chương 1
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC
Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học
Trong nhà trường phổ thông, ở mỗi lớp học đều có một giáo viên chủ nhiệm lớp.
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp trong
việc rèn luyện nhân cách cho các em học sinh. Điều này được thể hiện ở các điểm sau:
1. GVCN quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách
Trong trường phổ thông nói chung, trung học nói riêng đều bao gồm một số học sinh nhất
đònh, số học sinh này được chia thành từng lớp với một số lượng nhất đònh. Theo Điều lệ
trường trung học, học sinh được tổ chức theo lớp học, mỗi lớp có không quá 45 học sinh;
mỗi lớp lại được chia thành nhiều tổ học sinh…
Để nắm được tình hình chung của nhà trường và tiến hành tốt công việc của mình, người
Hiệu trưởng phải dựa vào đội ngũ giáo viên, đặc biệt đội ngũ GVCN.
Như vậy, GVCN là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể lớp học. Việc
quản lý toàn diện lớp học của GVCN là quản lý về các mặt sau:
1.1. Có những hiểu biết về gia đình học sinh, những ảnh hưởng của gia đình tới
sự phát triển nhân cách của các em . Từ sự hiểu biết về gia đình học sinh mà giáo viên
chủ nhiệm mới có những biện pháp giáo dục các em phù hợp.
Trong quá trình giáo dục học sinh, đã có những đáng tiếc xảy ra. Trong giờ trả tập
làm văn, thầy T. nhận xét: -Đề bài: “Hãy tả người mẹ của em” kỳ này thật là dễ. Thế mà
có em không chòu làm bài để giấy trắng. Nghe tới đó, H. gục đầu xuống bàn, khóc nức nở.
Thầy giáo ghi điểm 2 vào sổ cho H., trong bụng thầy T. còn nghó : -Thế đấy, con gái thật là
mau nước mắt, bò điểm kém cũng khóc lóc. Cuối giờ học, lớp trưởng lên gặp thầy và nói:
-Thưa thầy, bài văn tả mẹ của em dễ thật đấy, nhưng bạn H. không làm được, vì bạn ấy mồ
côi mẹ từ năm lên ba ạ! Trời ơi! Sao mình lại vô tình với các em đến thế. Tại sao mình
không tìm hiểu kỹ hoàn cảnh của từng học sinh để hiểu biết và thông cảm với các em hơn.
1.2. Nắm được đặc điểm tâm - sinh lí của từng học sinh lớp chủ nhiệm.
Việc tìm hiểu và nắm được đặc điểm tâm - sinh lí học sinh là một công việc vô cùng
quan trọng của người giáo viên nói chung, người giáo viên chủ nhiệm nói riêng. Từ việc
của tập thể lớp để lôi cuốn Cường vào các công việc đúng đắn. Cuối học kỳ hai Cường tiến
bộ hẳn. Cả hai đều được vào phổ thông trung học. Tôi hồi hộp theo dõi bước đi của cả hai
em. Giữa năm lớp 12, cả hai đều được gọi vào bộ đội. Cường chiến đấu dũng cảm, còn
Minh trên đường hành quân ra trận đã đào ngũ.Cường viết thư về cho chò Hằng, báo cho
chò biết em vừa được trao tặng Huân chương chiến công hạng ba.
1.3. Nắm vững mục tiêu, chương trình nội dung giáo dục cấp học, lớp học, khả
năng thực hiện, kết quả dự kiến của lớp học được phân công phụ trách so với yêu cầu,
mục tiêu giáo dục về mọi mặt:
Học tập
Rèn luyện đạo đức, tác phong
Tham gia hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao.
Các hoạt động khác…
Chức năng quản lí toàn diện học sinh lớp mình được phân công phụ trách là nắm
vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, nắm vững mục tiêu đào tạo, giáo dục cả về
phẩm chất đạo đức và năng lực học tập của các em học sinh, đồng thời nắm vững
hoàn cảnh của từng em để kết hợp trong việc giáo dục.
2. GVCN là cầu nối giữa Ban giám hiệu, các tổ chức trong nhà trường, các giáo
viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
- Với tư cách là nhà sư phạm, GVCN có trách nhiệm truyền đạt tới học sinh:
Yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đối với tập thể, từng học sinh lớp chủ nhiệm .
Nội dung giáo dục.
Trong quá trình truyền đạt tới các em học sinh lớp chủ nhiệm, phương pháp truyền đạt là:
thuyết phục, cảm hoá, gương mẫu.
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
2
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Mục đích của các phương pháp truyền đạt trên là giúp các em học sinh chấp nhận một cách
tự nguyện, tự giác các mục đích, yêu cầu , kế hoạch của nhà trường.
- Mặt khác GVCN là người đứng ra tập hợp các ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng của các em
học sinh phản ánh với Ban giám hiệu, các tổ chức trong trường, với các giáo viên bộ
trong tất cả các hoạt động.
Thực chất chức năng cố vấn của GVCN đối với các em và tập thể của các em học
sinh lớp chủ nhiệm là:
Điều khiển, điều chỉnh tư duy, thái độ, tình cảm, hành vi, hoạt động của tập thể và cá
nhân.
Vai trò cố vấn phải được quán triệt trong toàn bộ nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt
động của lớp, từng em.
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
3
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Vai trò cố vấn của GVCN còn được thể hiện ngay trong quan hệ ứng xử, đònh hướng
nghề nghiệp
1.4. GVCN lớp là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt
mục tiêu giáo dục cấp học.
Trong công tác giáo dục học sinh, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều
vào sự liên kết và thống nhất tác động của các lực lượng xã hội.
Sự phối hợp giữa GVCN với các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh được thể
hiện:
Dựa vào đặc điểm, điều kiện của nhà trường, lớp học, gia đình, cộng đồng mà GVCN
phối hợp với các lực lượng xã hội để tạo ra sự thống nhất tác động, đặc biệt là kết hợp với
cha mẹ học sinh.
Trong nhà trường xã hội chủ nghóa, một nguyên tắc giáo dục quan trọng mà Đảng ta
đã khẳng đònh, đó là: phải tạo ra sự thống nhất tác động giữa nhà trường - gia đình - xã hội
trong việc giáo dục học sinh.
Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đích:
Nâng cao hiệu quả giáo dục.
Thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục.
Phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục.
Nguyên tắc này phải được quán triệt trong tất cả các hoạt động của nhà trường.
- Sự liên kết và phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội phải được thể hiện ở
TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt
động giảng dạy và giáo dục học sinh.
Nhận xét, đánh giá, xếp loại học sinh cuối học kỳ, cuối năm học; đề nghò khen thưởng, kỷ
luật học sinh; đề xuất danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải ở lại lớp;
hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ của học sinh.
Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với hiệu
trưởng.
2. Quyền hạn của GVCN lớp
2.1. Với tư cách là giáo viên bộ môn, GVCN có các quyền sau:
Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học
sinh.
Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ theo
các chế độ, chính sách qui đònh đối với nhà giáo.
Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý nhà trường.
Được hưởng nguyên lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ theo qui đònh hiện hành.
Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác nếu
đảm bảo thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình.
Được hưởng các quyền lợi khác theo quy đònh của pháp luật.
2.2. Ngoài các quyền hạn trên, GVCN còn có một số quyền hạn sau:
Được dự các giờ học, các hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình.
Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khi các hội đồng này
giải quyết các vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình.
Được dự các lớp bồi dưỡng, các hội nghò chuyên đề về công tác chủ nhiệm.
Được quyền cho phép học sinh của mình nghỉ học không quá 3 ngày, nếu có lý do chính
đáng.
Được tính thêm giờ lên lớp hàng tuần khi làm công tác chủ nhiệm lớp theo quy đònh hiện
hành.
Nội dung công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp
1. Nghiên cứu, nắm vững đường lối quan điểm lý luận giáo dục để vận dụng vào công
hành các hoạt động của nhà trường trong hàng tuần, hàng tháng, từng học kỳ, từng năm
học.
3. Có hiểu biết sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong nhà
trường, các cán bộ phụ trách các mặt hoạt động, đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn
học ở lớp chủ nhiệm, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường.
- Có những hiểu biết về cơ cấu tổ chức, phân công phụ trách của các tổ chức trong nhà
trường:
Ban giám hiệu
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Hội Liên hiệp thanh niên
Hội phụ huynh
Các tổ chức tự quản
Từ những hiểu biết trên, người GVCN tổ chức thống nhất, liên kết các lực lượng hoạt động
theo những nội dung giáo dục của nhà trường
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
6
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
- Có những hiểu biết về đội ngũ giáo viên nhà trường, đặc biệt là những giáo viên giảng
dạy trực tiếp lớp mình phụ trách để:
Thường xuyên nắm vững tình hình giảng dạy và học tập của lớp.
Tổ chức các hoạt động dạy - học cho tập thể lớp học.
- Nắm được chức năng, nhiệm vụ, năng lực, tình cảm, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán
bộ quản lý, giáo viên trong trường để có phương pháp ứng xử thích hợp, lôi cuốn mọi người
cùng tham gia vào hoạt động giáo dục học sinh.
- Nắm vững cơ sở vật chất kỹ thuật, những trang thiết bò, phương tiện kỹ thuật dạy học của
nhà trường để khai thác những cơ sở vật chất kỹ thuật đó một cách hợp lý và hiệu quả nhất,
phục vụ cho công tác của mình.
4. Nghiên cứu đặc điểm gia đình học sinh
Gia đình là tế bào xã hội, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển
nhân cách thế hệ trẻ.
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Những gia đình quan tâm quá mức và không đúng cách trong giáo dục con cái sẽ mang lại
những hậu quả mà họ không hề mong muốn.
Khi tìm hiểu gia đình học sinh, người GVCN cần tìm hiểu các điểm sau:
Trình độ văn hoá của cha mẹ học sinh
Đặc điểm tâm lí của họ
Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
Điều kiện sinh sống, lao động, học tập cũng như thu nhập của gia đình
Trong các nội dung mà GVCN tìm hiểu gia đình học sinh, vấn đề quan trọng nhất, cần quan
tâm là:
Sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong
gia đình
Phương pháp giáo dục của cha mẹ với các con cái trong gia đình
Việc thực hiện các nghóa vụ của người công dân đối với Tổ quốc
Quan hệ của gia đình với láng giềng
Có thể khẳng đònh việc tìm hiểu gia đình học sinh nhằm mục đích:
Kết hợp gia đình và nhà trường trong công việc giáo dục trẻ em, tránh tình trạng “trống
đánh xuôi, kèn thổi ngược”
Nắm được các yếu tố tác động đến học sinh, từ đó có những giải pháp phù hợp.
5. Nắm được đặc điểm của học sinh
Có nhà giáo dục đã khẳng đònh một điều rất đúng là: muốn giáo dục con người về mọi mặt
phải hiểu con người về mọi mặt.
Liên hệ với công tác chủ nhiệm lớp, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người GVCN
phải nắm được đặc điểm chung của cả lớp và của từng học sinh.
5.1. Nội dung tìm hiểu học sinh của GVCN bao gồm các vấn đề sau:
Sức khoẻ
Đạo đức
Năng lực học tập
Động cơ, thái độ học tập
Quan hệ của học sinh với cha mẹ, ông bà, anh chò em trong gia đình, ở trường học với bạn
6.1. GVCN cần nắm được tình hình đòa phương nơi trường đóng, cụ thể một số
mặt sau:
Đòa bàn
Dân số
Tình hình kinh tế
Tình hình trật tự xã hội
Các ngành nghề
Truyền thống đòa phương
Mục đích của việc này là liên kết, phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là
GVCN với đòa phương trong công tác giáo dục.
6.2. GVCN cần thiết phải nắm được tình hình thời sự trong nước, ngoài nước,
đặc biệt về các vấn đề khoa học kỹ thuật, công nghệ, giáo dục, đào tạo, văn hoá xã hội
để bổ sung cho những hiểu biết của mình thêm phong phú.
7. Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN lớp phải tự hoàn thiện mình
Với đặc trưng về lao động nghề nghiệp, đặc biệt về công cụ lao động sư phạm, nó đòi hỏi
người giáo viên nói chung, GVCN nói riêng phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của
mình. Cụ thể phải rèn luyện các mặt sau:
Đạo đức tác phong
Quan hệ đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng tốt đẹp
Có tầm hiểu biết sâu rộng, đặc biệt môn học mình phụ trách
Luôn luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp, nắm vững kỹ thuật giảng dạy
Quan tâm đến công việc của đồng nghiệp, của nhà trường, quan tâm đến các em học
sinh
Phương pháp tác động trực tiếp
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
9
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
1.1. Được gọi là phương pháp tác động trực tiếp vì có sự tác động trực tiếp, đối
diện giữa GVCN và học sinh. Cụ thể là nhà giáo dục nói chung, GVCN nói riêng tác
động trực tiếp tới đối tượng bằng cách sau:
Đây là phương pháp giáo dục truyền thống, được nhiều nhà giáo dục nói chung, GVCN nói
riêng sử dụng khi cần tác động đến đối tượng giáo dục.
1.2. Khi sử dụng phương pháp tác động trực tiếp, GVCN cần lưu ý mấy điểm
sau:
Tác động kòp thời
Tác động phù hợp với mức độ, tính chất của các hành vi phạm lỗi do học sinh gây ra
Tác động phải phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý học sinh và nguyên nhân dẫn đến các
hành vi phạm lỗi đó.
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
10
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Phương pháp tác động của giáo viên chủ nhiệm lớp
Ngoài việc nắm được các phương pháp giáo dục học sinh của người làm công tác giáo dục,
GVCN cần phải nắm được các phương pháp tác động tới học sinh. Đó là các phương pháp:
Phương pháp tác động trực tiếp
Phương pháp tác động gián tiếp
Phương pháp “bùng nổ sư phạm”
Phương pháp giáo dục bằng “viễn cảnh”
Phương pháp tác động gián tiếp
2.1. Người có công lớn trong việc tạo ra phương pháp tác động gián tiếp là
A.X.Macarencô (1888 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng.
Phương pháp tác động gián tiếp, được Macarencô đặt tên là phương pháp tác động
song song hay còn được gọi là phương pháp giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.
Tác động song song được Macarencô giải thích như sau: chỉ tiếp xúc với tập thể, không tiếp
xúc với cá nhân riêng lẻ, đó là cách biểu hiện chính thức, còn thực chất là hình thức tác
động tới chính cá nhân đó. nhưng biểu hiện thì lại diễn ra song song với thực chất.
Phương pháp tác động song song, về bản chất của nó được hiểu là:
Xây dựng tập thể học sinh thành môi trường giáo dục lành mạnh.
Xây dựng được các mối quan hệ trong tập thể thành những tác động, chi phối nhận thức,
tình cảm, hành động của từng cá nhân trong tập thể đó.
2.2. Cơ sở khoa học của phương pháp tác động song song là:
Dùng dư luận xã hội (tập thể) để điều chỉnh hành vi từng cá nhân.
Phát huy tính tích cực hoạt động của từng thành viên trong tập thể.
Phát huy vai trò tự quản, khả năng tự điều chỉnh của chủ thể trong quá trình tự giáo dục
thông qua hoạt động của tập thể.
2.3. Để phát huy tác dụng của phương pháp này cần đảm bảo một số yêu cầu
sau:
GVCN phải là người có uy tín, có trách nhiệm, nắm vững đặc điểm tâm - sinh lý học sinh.
Tập thể học sinh phải là tập thể mạnh, đoàn kết, có dư luận đúng đắn.
Đó là tập thể học sinh có các đặc điểm sau:
Có mục tiêu phấn đấu rõ ràng: tập thể phải có mục tiêu phấn đấu cụ thể, đó là đảm bảo
quyền lợi, nghóa vụ của từng thành viên trong tập thể.
Có hoạt động chung: Nhà giáo dục phải giúp tập thể tổ chức được các hoạt động chung, đa
dạng. Từ đó tăng cường được các mối liên hệ giữa các thành viên với nhau, giữa tập thể
này và tập thể khác, giữa các tổ chức trong nhà trường.
Xây dựng được đội ngũ tự quản có uy tín với các thành viên trong lớp, có trách nhiệm, có
bản lónh, có năng lực , đủ sức lãnh đạo tập thể lớp tiến lên.
Tập thể học sinh phải xây dựng được một số nội quy, kỷ luật chặt chẽ. Những nội quy này
phải được mọi người trong tập thể tôn trọng và tự giác chấp hành.
Xây dựng được dư luận tập thể lành mạnh và hướng dẫn được dư luận đó theo chiều hướng
mong muốn của nhà giáo dục. Bởi vì chính dư luận tập thể phản ánh sức mạnh, bản lónh
của tập thể và các thành viên của tập thể.
Tóm lại, phương pháp tác động song song được hiểu là phương pháp giáo dục mà nhà giáo
dục sử dụng sức mạnh của dư luận tập thể nhằm điều chỉnh những suy nghó, những hành
động của cá nhân, một nhóm theo yêu cầu của nhà giáo dục . Như vậy, cùng một tác động
giáo dục, cả tập thể và cá nhân học sinh đều chòu ảnh hưởng.
Phương pháp “bùng nổ sư phạm”
3.1. Nếu phương pháp tác động trực tiếp là phương pháp giáo dục có tính chất
truyền thống, nó nảy sinh cùng với sự nảy sinh của hiện tượng giáo dục, thì phương pháp
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
Sau cuộc họp, Macarencô đã giao cho cô gái cả những công việc có liên quan tới tiền bạc
với một lòng tin thực sự. Ông đã hành động liên tiếp nhiều tuần. Cô gái đã không chòu
đựng được nữa, tìm đến Ông khóc lóc thảm thiết và nói: -Con xin cảm ơn thầy ví thầy là
người duy nhất độ lượng và vẫn tin yêu con. Macarencô liền đáp và khẳng đònh một cách
tự nhiên: -Chính con đã ăn cắp. Ta biết rõ. Chính con là thủ phạm. Nhưng từ đây ta tin là
con không ăn cắp nữa. Ta hiểu như vậy nên không nói với ai và vẫn coi con như không hề
phạm lỗi.
Quả thật, sau đó cô gái không tái phạm một lần nào nữa.
- Ví dụ 2: Trong việc tiếp nhận trại viên mới của trại Goócki, Macarencô cùng nhà trường
tổ chức đón nhận rất long trọng, tổ chức đốt hết quần áo cũ của các em
- Ví dụ 3: Ông đã trao cho Karabanốp, một kẻ có tiền án, tiền sự, một trại viên của trại đi
lãnh tiền cho trại với những bùng nổ liên tiếp:
Trao giấy giới thiệu
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
13
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Trao ngân phiếu
Trao ngựa
Trao súng
Khi nhận tiền của em trao lại, ông không đếm và lại còn tuyên bố: -Từ nay, em là người đi
lãnh tiền ở ngân hàng cho trại Goócki (Gorki)
Nhờ những tác động liên tục, bất thần, cường độ mạnh đó đã làm mất đi ở em cái mặc cảm
ở trại giam không ai tin em vì thấy em hay quậy phá. Sau những “pha” bùng nổ liên tiếp
của Macarencô thể hiện lòng tin của ông đối với các em đã làm cho các em suy nghó và
hành động để không làm phụ lòng tin của ông và niềm tin của tập thể đối với các em.
Khi sử dụng phương pháp “bùng nổ sư phạm”, vấn đề cần đặc biệt chú ý là:
- Chọn thời cơ chính xác, đúng lúc. Phải biết chớp thời cơ và phải biết tạo ra thời cơ tác
động đến học sinh.
- Phải xây dựng nội dung bùng nổ một cách có hệ thống, liên tiếp, cường độ tác động mạnh
dần theo một ý đònh nhất đònh.
Đa dạng
Có nhiều hình thức thực hiện
Thực hiện phải có hiệu quả.
Bản thân những thành công trong việc thực hiện những viễn cảnh đó sẽ là nguồn kích thích
mạnh mẽ con người trong cuộc sống và hoạt động.
4.2. Viễn cảnh trung bình:
Đó là những dự án, những kế hoạch của tập thể mà thời gian hoàn thành nó so với thời gian
hoàn thành các viễn cảnh gần thì nó dài hơn một chút, đòi hỏi sự cố gắng chung nhiều hơn.
Ví du:
Kỷ niệm một ngày lễ lớn
Ngày truyền thống của trường hàng năm
Khi tiến hành xây dựng hệ thống mục tiêu, kế hoạch cho viễn cảnh trung bình, cần dựa
vào:
Quyền lợi chung của tập thể
Lấy các kích thích về mặt tinh thần là chủ yếu, như danh hiệu, cuộc sống văn hoá
Giảm dần những kích thích về vật chất ngay cả đối với học sinh lứa tuổi nhỏ
Nên quan tâm đến các mục tiêu xã hội, danh dự của lớp, của ngành
4.3. Viễn cảnh xa:
Viễn cảnh xa là tương lai, là tiền đề cho sự phát triển của tập thể lớn, nói rộng ra là tương
lai của trường, ngành, dân tộc mà tương lai của cá nhân nằm trong đó.
Viễn cảnh xa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có nhiều cố gắng hơn, phải có ý thức trách nhiệm
cao hơn để góp phần xây dựng đất nước, biến những dự kiến thành hiện thực.
Để giáo dục học sinh bằng những viễn cảnh xa, nhà giáo dục cần phải:
Tác động vào mặt nhận thức của từng cá nhân
Giúp học sinh có tinh thần tích cực, chủ động trong việc xây dựng cho mình những phương
hướng trong cuộc sống, học tập, lao động
Tất cả những mặt trên phải được xây dựng dựa trên các yêu cầu của xã hội.
Tóm lại, phương pháp giáo dục học sinh bằng hệ thống viễn cảnh là giúp cho tập thể, mỗi
cá nhân xây dựng cho mình một hệ thống mục tiêu (gần, trung bình, xa) và đặc biệt là chủ
động thực hiện các dự án với tư cách là người chủ tích cực của quá trình giáo dục.
Đủ sức khoẻ theo yêu cầu của nghề nghiệp.
Lý lòch bản thân rõ ràng.
1. Những phẩm chất chủ yếu của người GVCN lớp
Là một nhà giáo dục, người GVCN lớp phải có các tiêu chuẩn như đối với nhà giáo đã nêu
ở trên. Cụ thể là:
1.1. Phẩm chất chính trò, đạo đức của người GVCN
Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với người GVCN. Chính nó tạo nên sự thành công
trong công tác giáo dục thế hệ trẻ của người GVCN lớp. Đảng ta đã khẳng đònh giáo dục là
công cụ của chuyên chính vô sản, người giáo viên là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn
hoá.
Điều này đòi hỏi GVCN phải là người của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể phải có các
phẩm chất đạo đức sau:
Có niềm tin sâu sắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Tin tưởng vào sự đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
Những niềm tin của người GVCN phải có cơ sở vững chắc, phải dựa trên sự hiểu biết
những quy luật của tự nhiên và xã hội.
Trong đạo đức của người GVCN, phải có sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, hành vi;
những phẩm chất đạo đức mà người GVCN có được phải phù hợp với các chuẩn mực xã hội
hiện đại, có sự kế thừa, phát huy những truyền thống đạo đức của dân tộc. Đó là các phẩm
chất đạo đức sau:
Lòng yêu thương con người, đặc biệt yêu thương trẻ em - đối tượng trực tiếp của mình.
Hăng say với công việc dạy học và giáo dục.
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
16
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Quan tâm tới công việc của nhà trường và đồng nghiệp.
Có trách nhiệm đối với công việc được giao (giáo dục, giảng dạy, chủ nhiệm lớp )
Làm chủ được bản thân trong công việc và cuộc sống.
Mẫu mực trong gia đình, trong quan hệ với người khác
Biết giữ đúng lời hứa với mọi người, đặc biệt là đối với học sinh
Biết bộc lộ, hoặc kiềm chế tình cảm, thái độ của mình trong những hoàn cảnh khác nhau.
- GVCN cần có một số năng lực sư phạm sau:
Năng lực tổ chức hoạt động dạy học
Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục
Năng lực ngôn ngữ
Năng lực sáng tạo trong công tác sư phạm
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
17
Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Năng lực tự học, tự nghiên cứu
4. Người GVCN cần phải có lý lòch rõ ràng, chính xác.
5. Người GVCN phải có sức khoẻ đáp ứng được những yêu cầu của
nghề nghiệp.
Phan Minh Nghóa _ Sưu tầm và sửa chửa
18