HIỆU TRƯỞNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC
CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và kinh tế tri thức; Giáo dục Đào tạo trở
thành nền tảng của sự phát triển Khoa học Công nghệ, tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu
trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm của các thế hệ tương lai.
Điều 27, luật giáo dục đã nêu:”Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [khoản 1, điều 27, Luật giáo dục 2009]
Trung học phổ thông là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông. Đội ngũ
giáo viên quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Ngoài việc giảng dạy thì
người giáo viên còn phải kiêm thêm công tác chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm
lớp ở trường phổ thông nói chung và trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng
trong công tác giáo dục của nhà trường. Họ thay mặt Hiệu trưởng làm công tác
quản lý và giáo dục toàn diện học sinh của một lớp học, là cố vấn cho các hoạt
động tự quản của tập thể học sinh, người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường. Họ là một thành phần quan trọng trong mạng lưới thông
tin của nhà trường. Những thông tin này giúp người quản lý nắm được tình hình
thực hiện kế hoạch cũng như những thông tin cơ sở để người quản lý có được
những quyết định đúng đắn và chính xác.
Công tác quản lý chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT trong thời
gian qua đã có nhiều cố gắng và đi vào nề nếp, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế,
1
việc quản lý còn mang tính hình thức, chủ yếu là hồ sơ sổ sách, ít đi vào thực chất,
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu, cần xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ
và vị trí công tác. Một tổ chức phải tập trung vào nhiệm vụ duy nhất, nếu không,
các thành viên của nó hoạt động kém hiệu quả.
Việc phân công bố trí GVCN, lựa chọn tổ trưởng chuyên môn, phân công
giảng dạy sao cho phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi
cá nhân, mỗi nhóm để phát huy khả năng của họ hoàn thành tốt mục tiêu đề ra.
1.2.3. Chức năng chỉ đạo
Chức năng chỉ đạo chính là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực
của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người
với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện và
nhiệt tình phấn đấu thực hiện mục tiêu.
1.2.4. Chức năng kiểm tra đánh giá
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt
tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện hoá các
mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra đánh giá để xem xét việc
triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong
các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định.
1.3. Công tác chủ nhiệm lớp
1.3.1. Khái niệm công tác chủ nhiệm lớp
Trong trường học, lớp học là đơn vị cơ bản được thành lập để tổ chức giảng
dạy và giáo dục học sinh. Để quản lý và giáo dục học sinh trong lớp, nhà trường
phân công một trong những gáio viên đang giảng dạy có năng lực chuyên môn tốt,
có kinh nghiệm làm công tác quản lý và giáo dục học sinh, có tinh thần trách
nhiệm cao và lòng nhiệt tình trong công tác, có uy tín với học sinh và đồng nghiệp
làm chủ nhiệm lớp. Đó là giáo viên chủ nhiệm (GVCN).
1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiêm lớp
1.3.2.1. Chức năng của giáo viên chủ nhiệm
- Giáo viên chủ nhiệm là người quản lý giáo dục toàn diện học sinh một lớp.
hoá giáo dục.
+ GVCN là người đại diện cho học sinh và tập thể học sinh. Năng lực
chuyên môn, đạo đức, uy tín và kinh nghiệm công tác của GVCN là điều kiện quan
4
trọng nhất cho việc tổ chức, phối hợp thành công các hoạt động giáo dục học sinh
của lớp.
- Đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của mỗi học sinh và phong trào
chung của lớp. Chức năng này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với quá trình học
tập, rèn luyện, phát triển nhân cách của mỗi học sinh vì sự đánh giá khách quan,
chính xác, đúng mức là một điều kiện để thầy trò điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch...
hoạt động cho cả lớp và mỗi thành viên.
1.3.2.2. Nhiệm vụ của GVCN
Tại điều 31, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và
trường phổ thông có nhiều cấp học, GVCN trước hết phải là GV giảng dạy bộ
môn. Cho nên ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ quy định của giáo viên bộ
môn ở khoản 1 của Điều này, GVCN còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với
hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng
học sinh;
b) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
c) Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các
tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện,
hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn
lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;
d) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị
kiện thuận lợi cho con em vùng nông thôn có cơ hội học tập.
- Học sinh của trường tuyển đầu vào với số điểm thấp và một số em không
nắm vững kiến thức cơ bản. Đặc biệt nhận thức và động cơ thái độ học tập rất thấp
nên việc giáo dục các em theo đúng yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước
giao cho là cả một thách thức đối với thầy và trò của nhà trường. Do đó để nâng
cao chất lượng giáo dục, ngoài việc giảng dạy, thì công tác chủ nhiệm lớp rất quan
trọng nhằm thúc đẩy mỗi giáo viên tự nâng cao trình độ, tự hoàn thiện năng lực sư
phạm.
2.2. Đội ngũ cán bộ - giáo viên – công nhân viên - học sinh
- Tổng số cán bộ - giáo viên – công nhân viên: 86 người
6
Trong đó: + Lãnh đạo: 03 người, trong đó 01 đang theo học cao học.
+ Giáo viên: 69 đạt chuẩn, trong đó có 02 thạc sĩ và 05 giáo viên đang
theo học cao học (so với biên chế 2,25 gv/ lớp thì trường thiếu 26 giáo viên).
+ Công nhân viên: 15 người
+ Đảng viên: 17 người
Giáo viên tại địa phương ít, phần lớn ở nơi khác đến tham gia công tác giảng
dạy, cho nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó giáo viên hầu hết là mới
ra trường, thiếu kinh nghiệm nhưng lại rất nhiệt tình năng nổ và có tinh thần trách
nhiệm cao trong công tác.
- Học sinh: Tổng số học sinh: 1862 học sinh/42lớp.
+ Khối 10: 15 lớp/ 653 học sinh
+ KHối 11: 14 lớp/ 628 học sinh
+ Khối 12 : 13 lớp/ 581 học sinh
2.3. Công tác chủ nhiệm lớp năm học 2011-2012
2.3.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp cho
các lực lượng giáo dục
- Trước hết bản thân hiệu trưởng tự nâng cao nhận thức và hiểu biết của
chủ nhiệm theo mẫu đã được in sẵn và sử dụng thống nhất trong toàn trường. Yêu
cầu GVCN thực hiện điều tra cơ bản học sinh ngay từ tuần thứ ba của tháng 8,
thông qua việc hướng dẫn giáo viên bàn giao công tác chủ nhiệm giữa giáo viên
lớp trước và giáo viên lớp sau, giáo viên cũ và giáo viên mới.
- Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh. Nắm bắt quá trình học tập, tu dưỡng
đạo đức ở các năm trước. Phân biệt độ tuổi cụ thể nắm chắc đặc điểm tâm lý lứa
tuổi học sinh. Qua đó, GVCN có thể nắm rõ được tình hình học sinh của lớp mình
phụ trách để làm căn cứ xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm một cách cụ thể và
xác định mục tiêu phấn đấu của lớp mình cho phù hợp…Trên cơ sở đó có những
chủ trương và biện pháp triển khai các mặt giáo dục, lựa chọn xây dựng đội ngũ tự
quản của lớp mình phụ trách như: Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng…
- Chỉ đạo GVCN xây dựng kế hoạch chủ nhiệm theo học kỳ, tháng, tuần.
- Chỉ đạo GVCN xây dựng kế hoạch họp phụ huynh học sinh theo định kỳ.
Sau khi giáo viên chủ nhiệm xây dựng xong kế hoạch chủ nhiệm, yêu cầu
GVCN thông qua tổ, tổ góp ý kiến, trình hiệu trưởng ký duyệt và nêu rõ các yêu
cầu thực hiện theo kế hoạch .
8
2.3.3. Thành lập tổ chủ nhiệm lớp
- Phân công đội ngũ GVCN một cách hợp lý. Khi phân công GVCN, cần
dựa vào các yếu tố sau: Năng lực trình độ của giáo viên. Năng lực hiểu biết học
sinh về tâm lý lứa tuổi. Năng lực giao tiếp với học sinh và cha mẹ học sinh. Năng
lực tổ chức các hoạt động tập thể cho học sinh. Năng lực cảm hóa, phán đoán,
thuyết phục học sinh. Điều kiện hoàn cảnh của từng giáo viên. Yêu cầu đảm bảo
chất lượng đào tạo và lợi ích của học sinh.
- Phân công GVCN là năm sau không trùng lớp năm trước. Với cách làm
này giúp giáo viên tiếp cận được nhiều cá tính và nhiều tình huống sư phạm để xử
lý.
- Hiệu trưởng thành lập tổ chủ nhiệm theo từng khối và đề cử một GVCN
+ Lập kế hoạch định kỳ cho giáo viên chủ nhiệm thông báo cho gia đình học
sinh biết kết quả học tập, tu dưỡng hoặc thái độ học tập ở lớp bằng điện thoại. Yêu
cầu gia đình thông báo kịp thời với GVCN tình hình học tập, sinh hoạt, ứng
xử…Từ đó, cùng phối hợp giáo dục học sinh.
- Phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
xã hội như: tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các
sự kiện trọng đại do địa phương tổ chức như là: Hội diễn văn nghệ chào mừng
ngày thành lập Đảng 03/02 hàng năm; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa; tham
gia các hoạt động từ thiện (mua tăm giúp người mù, giúp đỡ các bạn nghèo…);
tham gia các hoạt động công ích "dọn vệ sinh xung quanh trường,…". Trường đã
tổ chức nhiều hoạt động tập thể như thi thuyết trình theo chủ đề ‘An toàn giao
thông’, An toàn thực phẩm’, ‘Bảo vệ môi trường’, tổ chức các giải bóng đá, bóng
chuyền,… Qua các hoạt động này GVCN và học sinh hiểu nhau nhiều hơn.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chủ nhiệm lớp. GVCN truy
cập những thông tin liên quan đến kỹ năng sống, đến những hành vi đạo đức,
phong tục tập quán từng vùng, những câu chuyện vui mang tính giáo dục cao,…
làm sinh động giờ sinh hoạt lớp.
2.3.5. Đổi mới hình thức công tác chủ nhiệm lớp
- Ngoài việc xây dựng đội ngũ cán bộ lớp tốt, GVCN tổ chức giờ sinh hoạt
lớp sao cho cả thầy lẫn trò đều vui vẽ. Học sinh cảm thấy gần gũi với GVCN hơn.
Mỗi giờ sinh hoạt lớp GVCN để lớp tự quản và thực hiện theo nội dung như là:
các lớp phó lên báo cáo phần việc của mình, lớp trưởng đánh giá tình hình của lớp
10
trong tuần, các học sinh khác phát biểu. Sau phần việc này lớp trưởng điều hành
lớp thảo luận về đề tài đã được chuẩn bị trước. Lúc này giáo viên chỉ ngồi phía
dưới theo dõi. Qua giờ sinh hoạt, các em có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình trước
mọi người, có khả năng thuyết trình, có thể trở thành nhà lãnh đạo trong tương lai.
Sắp kết thúc giờ sinh hoạt lớp, GVCN lên tổng kết, khen thưởng những học sinh có
- Để đảm bảo được tính khách quan, công bằng vô tư trong công tác kiểm tra
đánh giá công tác chủ nhiệm, ngay từ đầu năm xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm
tra đánh giá cụ thể. Áp dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, tổ chức kiểm tra định
kỳ hoặc bất kỳ không báo trước để đánh giá đúng thực trạng của GVCN, kịp thời
có hướng điều chỉnh hoặc xử lý khi phát hiện sai lệch.
* Hình thức kiểm tra: Kiểm tra gián tiếp qua tổ chuyên môn. Kiểm tra trực
tiếp qua hồ sơ: Sổ chủ nhiệm, sổ đầu bài, sổ biên bản sinh hoạt lớp. Kiểm tra dự
giờ sinh hoạt lớp. Kiểm tra việc thực hiện các phong trào của lớp.
Kiểm tra để ngăn ngừa là chính: Khi phát hiện ra những vấn đề cần điều
chỉnh góp ý với GVCN chân thành, luôn tôn trọng giữ gìn uy tín cho giáo viên.
Giúp đỡ giáo viên phát huy những mặt mạnh, hạn chế mặt yếu kém. Đánh giá
GVCN không chỉ dựa vào thành tích cao của lớp mà cần phải xem xét công sức
của GVCN bỏ ra để thay đổi tập thể lớp từ yếu, trung bình lên khá, tốt. Giảm học
sinh có học lực yếu hay hạnh kiểm chưa tốt.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
- Trong năm học 2011-2012, nhận thấy tầm quan trọng của công tác chủ
nhiệm tôi đã thực hiện đề tài này đã đạt được một số kết quả khả quan. Tập thể hội
đồng sư phạm ủng hộ nhiệt tình. Giáo viên cảm thấy công tác này thú vị, không bị
áp lực nhiều, mỗi lúc yêu thương học sinh hơn vì họ hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
và học được nhiều từ học sinh. Khi làm công tác chủ nhiệm cần phải có kế hoạch,
có chỉ tiêu phấn đấu, có sự giám sát theo dõi, có kiểm tra, đánh giá sẽ thúc đẩy
giáo viên tự rèn luyện năng lực sư phạm phục vụ cho công việc của mình.
- Phụ huynh học sinh cảm thấy an tâm khi gởi con em mình đến trường. Con
em của họ được chăm sóc chu đáo từ việc học tập đến việc sinh hoạt trong khuôn
viên trường. Mối liên hệ giữa GVCN và phụ huynh học sinh gắn chặt, từ đó tạo ra
sự hợp tác giáo dục học sinh.
- Giáo viên có cơ hội ôn lại kiến thức tâm lý học, giáo dục học mà đã được
học ở trường đại học, đồng thời phát triển kỹ năng giao tiếp.
12
SL
%
SL
%
2010-2011
1350
76.2
332
18.7
70
3.9
20
1.1
0
0
Học lực kém
Năm học
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
2010-2011
73
4.1
108
5.8
06
0.3
So sánh kết quả giáo dục năm 2010-2011 và năm 2011-2012, thì năm học
này chất lượng giáo dục hai mặt tăng so với năm học trước, học sinh khá giỏi tăng,
học sinh trung bình, yếu có giảm, đây là tín hiệu vui là vì đó là chất lượng thật.
Theo tôi quản lý công tác chủ nhiệm lớp là tích cực và đúng đắn, nhằm nâng cao
trách nhiệm quản lý lớp của thầy và hoạt động của trò, làm cho GVCN quan tâm
hơn trong công tác chủ nhiệm lớp. Từ đó có thể nâng cao chất lượng giáo dục và
có cơ sở khoa học trong việc đánh giá xếp loại giáo viên ở cuối học kì và cả năm
học.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
4.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
13
- Bộ GD&ĐT cần có qui định bổ sung điều chỉnh về giảm số tiết giảng dạy
cho GVCN từ 4 tiết / tuần như hiện nay lên 6 tiết / tuần, cho phù hợp với thực tế
công tác của GVCN
- Bộ GD&ĐT nên thường xuyên có các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn
về công tác chủ nhiệm lớp cho GVCN. Cung cấp những tài liệu mang tính cập nhật
và thiết thực với thực tế công tác chủ nhiệm lớp của từng cấp học, bởi mỗi cấp học
có đặc thù riêng. Ngoài ra còn có những chuyên đề giành cho GV vùng sâu vùng
7. Quản lý giáo dục – Bùi Minh Hiển – NXB ĐHSP - 2006
NGƯỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
15