Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp tại trường trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

NGÔ THỊ CHUYÊN
Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp tại
trường trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 601405

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Phụ lục

59 61

61
61
62
62
64
67
73
74
76
79
79
80
84
85
87
88
91

NXB
Nhà xuất bản
ĐHQG
Đại học quốc gia
BCHTW
Ban chấp hành trung ương
CNH
Công nghiệp hóa
HĐH
Hiện đại hóa
UBND
Ủy ban nhân dân

Biện pháp quản lý nâng cao chất lƣợng công tác chủ nhiệm lớp tại
trƣờng trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi quận Dƣơng Kinh

Giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của
đất nước. Đội ngũ thày cô giáo là lực lượng cốt cán đưa các mục tiêu giáo dục
thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Trong
những năm qua ngành GD - ĐT cả nước nói chung, Hải Phòng nói riêng đã
thu được những thành tựu quan trọng cả về số lượng và chất lượng, tạo dựng
những thành tựu đó có vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ quản lí và thày cô
giáo tận tâm, tận lực với nghề. Tuy nhiên GD - ĐT vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
Ở trường trung học phổ thông hiện nay yêu cầu giáo dục toàn diện học
sinh là một yêu cầu bức thiết đang đặt ra cho nhà trường. Việc thực hiện giáo
dục toàn diện học sinh phải thống nhất từ khâu chỉ đạo của Hiệu trưởng cho
tới các tổ nhóm chuyên môn và từng giáo viên, trong đó giáo viên chủ nhiệm
lớp đóng vai trò hết sức quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm lớp là người chủ 9
yếu cùng kết hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên và các tổ chức
chính trị xã hội trong và ngoài nhà trường xây dựng các hoạt động phong trào
vừa mang tính giải trí,vừa liên quan chặt chẽ đến kiến thức các môn học
Khác với học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở, học sinh Trung học
phổ thông (THPT) đã bước sang lứa tuổi thanh niên, đang muốn tự khẳng
định mình, ưa cái mới lạ nhưng cũng rất dễ bị tổn thương, rất cần có sự giúp
đỡ và định hướng của người lớn, nên nhà giáo dục đặc biệt là giáo viên chủ
nhiệm lớp cần nắm vững tâm sinh lí lứa tuổi của các em để từ đó lựa chọn
phương pháp giáo dục cho phù hợp. Nếu không, với vốn kinh nghiệm sống ít
ỏi của mình, các em sẽ khó tránh khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh,
nhất là hệ quả của mặt trái nền kinh tế thị trường hiện nay.
Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng làm công tác quản
lý và giáo dục học sinh của một lớp học, là người gần gũi thân mật, là người
hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khi các em gặp khó khăn, là

Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại một số trường trung học
phổ thông ngoại thành Hải Phòng nói chung và THPT Mạc Đĩnh Chi quận
Dương Kinh trong nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài và các vấn đề liên quan
4.2. Nghiên cứu thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và quản lí công
tác chủ nhiệm lớp
4.3. Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng công tác chủ nhiệm lớp
và việc quản lý công tác này tại một số trường THPT ngoại thành Hải
Phòng nói chung và trường THPT Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh nói
riêng trong giai đoạn hiện nay.
4.4. Đề ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác
chủ nhiệm lớp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
học sinh tại các trường trung học phổ thông, mà trước hết là trường THPT
Mạc Đĩnh Chi của quận Dương Kinh.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác chủ nhiệm lớp là một trong những việc làm quan trọng
thường xuyên ở nhà trường, nếu nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lí phù 11
hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện ở trường trung học phổ
thông Mạc Đĩnh Chi quận Dương Kinh.

6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc quản
lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông.
- Đề xuất được một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT phù hợp với điều kiện thực tiễn trên cơ sở đúc kết những kinh

7.2.4. Phương pháp chuyên gia
7.2.5. Phương pháp dụng toán thống kê để xử lí các số liệu thông qua
phiếu điều tra và thực nghiệm sư phạm.

8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
8.1. Giới hạn của đề tài
- Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Mạc Đĩnh
Chi quận Dương Kinh trong giai đoạn hiện nay(2007-2012).

8.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở thực tế của công tác chủ
nhiệm lớp và biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở một số trường
THPT ngoại thành Hải Phòng nói chung và trường THPT Mạc Đĩnh Chi nói
riêng . 9. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị,
Tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3
chương. 13

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý

126(11/2005)
- Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên
chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí
Giáo dục số 135(Kỳ 1 – 4/2006)
- Quản lí công tác chủ nhiệm lớp.
Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT cũng được Hiệu
trưởng và giáo viên các trường phổ thông quan tâm, song mới chỉ được chỉ
đạo và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ chưa được hệ thống hóa
một cách bài bản, việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp cũng chưa được đề cập
đến nhiều . 15
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục.
1.2.1.1. Những quan niệm về quản lý
- Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại
khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc
gia trong mọi thời đại.
- Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)
đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ
chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
- Quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ
quản lý. Đó là mối quan hệ hình thành giữa con người có liên quan đến hệ
thống và được hình thành theo những quy luật nhất định.
Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ đặc

người đã được tích luỹ và phát triển trong nhiều năm đã và đang trở thành
một nhu cầu không thể thiếu cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình
thái kinh tế - xã hội khác nhau. Giáo dục đứng ở trung tâm của sự phát triển
vừa của cá nhân con người vừa của cộng đồng. Giáo dục đã góp phần làm cho
xã hội loài người không ngừng phát triển. Trong thời đại ngày nay sự tiến bộ
của mỗi quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào số và chất lượng của giáo dục
mà nhân dân của mỗi quốc gia đó thừa hưởng. Vì giáo dục là tiên đề quan
trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như chính trị, kinh tế,
văn hoá , an ninh quốc phòng. Do vậy phải coi giáo dục là một bộ phận hữu
cơ quan trọng nhất trong chiến lược qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi là một trong những mục tiêu
quan trọng nhất của sự phát triển.
Quản lí giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng, hiệu quả của giáo dục. Người quản lí cần phối hợp sử dụng các nguồn
nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục.
Khái niệm “ Quản lí giáo dục” chủ yếu có hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi
mô.
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa
về quản lí giáo dục: 17
- Đối với cấp vĩ mô
* Quản lý giáo dục: Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo
nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội
nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [2;
tr. 31]
Quản lí giáo dục là quản lí một hệ thống xã hội hết sức năng động và
phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử
dụng hàng loạt những biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng,

của nhỳa trường hướng tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự
kiến” [18, tr 27].
Tóm lại, quản lí trường học về bản chất là quản lí con người(tập thể cán
bộ, giáo viên và học sinh) và quản lí các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị
giáo dục của nhà trường. Có thể hiểu quản lí nhà trườnglà hoạt động phối hợp
điều hành của chủ thể quản lí- Hiệu trưởng đối với giáo viên, học sinh và các
lực lượng xã hội liên quan nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Cụ
thể là thúc đẩy phong trào đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu
và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn.

1.2.1.4. Quản lý nhà trường, quản lí trường trung học phổ thông
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Nhà trường
(cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành quá trình giáo dục đào tạo có nhiệm vụ
trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định thực hiện tối đa một quy
luật tiến bộ xã hội là: “Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được các kinh nghiệm xã
hội mà thế hệ trước tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm
những kinh nghiệm đó” [ 9; tr. 15].
Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng
kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân gư nhất định cho xã hội
đó. Nhà trường được tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên đạt được các
mục tiêu xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này
một cách tối ưu theo quan niệm xã hội. Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở
mang tính Nhà nước- xã hội. Trường học là một thành tố khách thể cơ bản
của tất cả các cấp quản lí từ địa phương đến trung ương, lại vừa là một hệ 19
thống độc lập tự quản của xã hội do đó quản lí nhà trường vừa có tính chất
nhà nước vừa có tính xã hội. Quản lí nhà trường chính là quản lí giáo dục
nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục mà nền tảng là

trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và năng lực chuyên môn sâu,
có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần”
[33, tr. 81]
Mục đích dạy học ở trường THPT:
Mục đích dạy học ở trường THPT nhằm thực hiện đồng thời 3 chức
năng bộ phận của quá trình dạy học: giáo dưỡng- nắm vững hệ thống tri thức
kĩ năng, kĩ xảo và cách vận dụng chúng; phát triển tư duy khái niệm, tư duy
lôgic, tư duy biện chứng… và giáo dục- thái độ đạo đức… Ba chức năng bộ
phận này gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau và
tạo ra một hệ toàn vẹn ba nhiệm vụ dạy học trong trường THPT nhằm mục
đích phát triển toàn diện con người là nói đến phát triển nhân cách. Ngày nay
phát triển nhân cách là nhiệm vụ số một của giáo dục, là vấn đề trọng tâm
trong chiến lược con người được các nhà khoa học trong nước cũng như trên
thế giới quan tâm nghiên cứu. Một trong những công tác góp phần thực hiện
tốt 3 nhiệm vụ trên ở trường THPT là công tác chủ nhiệm lớp.

1.2.1.5. Công tác chủ nhiệm lớp một hoạt động giáo dục trong nhà
trường
Trong nhà trường phổ thông, để nhà trường vận hành đúng theo đường
lối giáo dục của Đảng, thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh cần có
sự tham gia đầy đủ, đồng bộ của nhiều hoạt động giáo dục học sinh, như hoạt
động giảng dạy của giáo viên bộ môn, hoạt động đoàn thể của Đoàn thanh
niên, Công đoàn, công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm…

1.2.1.6. Quản lý công tác chủ nhiệm lớp
Quản lí công tác chủ nhiệm lớp là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, phát
hiện và giải quyết những vấn đề thuộc công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông.
1.3.1.1. Vị trí và vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp 22
- Giáo viên chủ nhiệm lớp(GVCNL) là người thay mặt hiệu trưởng
thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng, Nhà nước và mục tiêu kế hoạch của
ngành giáo dục và đào tạo trong một lớp học.
- GVCNL là người trực tiếp quản lý công tác giáo dục toàn diện học
sinh trong một lớp học: cụ thể hóa mục tiêu, kế hoạch và chương trình hành
động của nhà trường ở từng lớp học. GVCNL có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo,
đôn đốc và kiểm tra các hoạt động của lớp mình.
- GVCNL là đầu mối của sự phối hợp trong việc hình thành và phát
triển nhân cách của học sinh mỗi lớp học, phối hợp với GV bộ môn, Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã
hội khác để thống nhất các biện pháp giáo dục học sinh trong lớp.
GVCNL là cấu nối giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục khác với
tập thể học sinh và mỗi cá nhân học sinh.

1.3.1.2.Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp
a. Chức năng quản lý
GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng làm nhiệm vụ quản lý toàn diện
học sinh một lớp học. Để đạt được mục tiêu quản lý một tập thể học sinh,
GVCNL phải thực hiện phối hợp các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo và kiểm tra.
b. Chức năng giáo dục
GVCNL trước hết phải là một nhà giáo dục, thông qua việc tổ chức các
hoạt động của tập thể lớp để giáo dục những phẩm chất, nhân cách của mỗi
học sinh. Qua các hoạt động đa dạng và phong phú, xây dựng mối quan hệ tốt
đẹp giữa học sinh và học sinh, giữa học sinh với những người khác, hướng
vào việc hình thành cho học sinh những thói quen, hành vi phù hợp với các

học sinh của lớp vào vào các hoạt động. Đội ngũ tự quản thường chiếm
khoảng 33% số học sinh của lớp và mỗi năm luân phiên đội ngũ tự quản 20 %
để sau một cấp học số em có thể được huấn luyện tự quản nhiều hơn.
Để phát huy vai trò cố vấn, GVCNL cần có năng lực dự báo chính xác
khả năng của học sinh trong lớp. GVCNL phải phát hiện và bồi dưỡng tiềm
năng sáng tạo của các em trong việc đề xuất các nội dung hoạt động, xây
dựng kế hoạch hoạt động toàn diện của mỗi tháng, mỗi học kì, của từng năm 24
học. GVCNL chỉ là người giúp học sinh tự tổ chức các hoạt động đã được kế
hoạch hoá. Điều đó không có nghĩa là GVCNL khoán trắng, đứng ngoài hoạt
động của tập thể lớp chủ nhiệm mà GVCNL nên hướng dẫn, điều chỉnh hoạt
động, bàn bạc, tranh thủ các lực lượng trong và ngoài nhà trường, tạo điều
kiện thuận lợi cho học sinh lớp mình tổ chức hoạt động.
Ngoài ra GVCNL còn là người đại diện cho nhà trường trong việc phối
hợp với các tổ chức xã hội để thống nhất biện pháp giáo dục học sinh. Trong
hoàn cảnh hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, học sinh sống
trong xã hội nhiều vẻ và phức tạp; học sinh THPT luôn nhạy cảm với những
cái mới, lạ, trong đó có cả cái tốt và cái xấu. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm lớp
cần có ý thức sâu sắc trong việc giúp các em thiết lập quan hệ đúng đắn, lành
mạnh với mọi người. Đó là nhiệm vụ không hề đơn giản và rất cần thiết đối
với công tác CNL. GVCNL cần xác định rằng giáo dục nhà trường có vai trò
định hướng, tạo ra sự thống nhất tác động đến thế hệ trẻ (trong đó có gia đình
và các tổ chức xã hội khác). Cần khẳng định rằng gia đình và giáo dục gia
đình là môi trường giáo dục gần gũi các em nhất và có nhiều ảnh hưởng tới
quá trình hình thành, phát triển nhân cách của các em nhất.

1.3.1.3. Nhiệm vụ của người GVCNL ở trường Trung học phổ thông
Có 4 nhiệm vụ được quy định tại điều 29 Điều lệ trường Trung học.

1.3.2.3. Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc phối kết hợp, cố vấn, giúp đỡ
tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện mục tiêu giáo dục.
GVCNL cần có kế hoạch kết hợp với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh để tiến hành giáo dục toàn diện ở lớp. Mặt khác GVCNL phải
giúp đỡ chi đoàn lớp xây dựng kế hoạch công tác, bồi dưỡng cán bộ nòng cốt,
cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn tổ chức các hoạt động giáo dục.

1.3.2.4. Giáo viên chủ nhiệm lớp phối hợp với cha mẹ học sinh, Ban đại
diện cha mẹ học sinh trong việc giáo dục học sinh
Gia đình là môi trường giáo dục - lực lượng giáo dục đầu tiên, ảnh
hưởng một cách sâu sắc đến học sinh. GVCNL là người thay mặt nhà trường
thực hiện sự liên kết này. GVCNL giúp cha mẹ học sinh hiểu rõ chủ trương,
kế hoạch giáo dục của nhà trường và mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của lớp 26
trong năm học. GVCNL thống nhất với gia đình về yêu cầu, nội dung, biện
pháp, hình thức giáo dục.

1.3.2.5. Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc xây dựng tập thể học sinh.
- Lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ Đoàn vững mạnh làm
nóng cốt cho việc tổ chức mọi hoạt động, mọi phong trào của tập thể.
GVCNL tổ chức „‟bộ máy tự quản‟‟ và hướng dẫn các em cách thức hoạt
động, biết tự quản lí các công việc của lớp,với ý thức trách nhiệm cao.

1.3.2.6. Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc giáo dục mỗi cá nhân học
sinh trong tập thể lớp.
- Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh.
- Tổ chức hoạt động học tập ( ngoài chính khóa,có ngoại khóa theo
chuyên đề, theo bộ môn )


1.4. Đặc điểm thể chất và tâm lý lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông

1.4.1.Đặc điểm phát triển cơ thể
Đây là lứa tuổi thanh niên mới lớn(14-15 đến 17-18 tuổi), tuổi đạt sự
trưởng thành về thể lực nhưng cơ thể còn kém so với cơ thể người lớn. Tuổi
dậy thì vừa qua đi, để bước vào giai đoạn phát triển êm ả về mặt sinh lý. Hệ
thần kinh phát triển giúp các em có thể phân tích, tổng hợp những nhiệm vụ,
những sự vật hiện tượng phức tạp.

1.4.2. Điều kiện xã hội của sự phát triển tâm lý
Quá trình tham gia lao động giúp đỡ gia đình và tham gia vào các hoạt
động xã hội giúp các em trưởng thành.

1.4.3. Đặc điểm hoạt động học tập ở Trung học phổ thông
Nội dung và tính chất học tập đòi hỏi tính năng động, độc lập ở mức
cao, thúc đẩy tư duy lý luận của các em phát triển.

1.4.4. Đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh Trung học phổ thông 28
Ở lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông tri giác có tính mục đích và
phát triển ở mức cao, nhưng đôi khi tri giác vội vàng.
Ghi nhớ có chủ định là chính, ghi nhớ ý nghĩa tăng rõ, biết phân hóa tài
liệu để ghi nhớ. Song trí nhớ cũng có nhược điểm là đại khái, ít ôn tập.
Tư duy lý luận trừu tượng phát triển mạnh giúp các em có khả năng tư
duy giải quyết vấn đề một cách độc lập, sáng tạo. Nội dung và quá trình tư
duy diễn ra chặt chẽ nhất quán. Tư duy đã có tính phê phán, tuy vậy tư duy
của một số em chưa phát triển tốt, khi giải quyết vấn đề còn hấp tấp, vội vàng.

phổ thông Mạc Đĩnh Chi.
Học sinh trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi là học sinh ngoại thành
Hải Phòng, ở vùng giáp gianh giữa thành phố và nông thôn nên thể chất của
các em nói chung là bình thường, không quá cao lớn nhưng cũng không quá
nhỏ, sức khỏe nói chung là tốt do tham gia lao động thường xuyên phụ giúp
gia đình và làm kinh tế. Nói chung cơ thể cân đối, hài hòa, khỏe đẹp.

1.5.3. Những đặc điểm về tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Mạc Đĩnh Chi
Lứa tuổi này các em đang tập làm người lớn, nhiệt tình có thừa nhưng
kinh nghiệm sống còn thiếu, bồng bột, nóng nảy rất đặc trưng của dân miền
biển nên các em rất dễ bị ảnh hưởng do những tác động tiêu cực của xã hội,
của hoàn cảnh sống mà bản thân các em không đủ khả năng để thanh lọc. Vì
vậy người giáo viên chủ nhiệm lớp phải thường xuyên quan tâm đến sự thay
đổi của từng học sinh để kịp thời tư vấn và giúp đỡ các em vượt qua những cú
sốc.

1.6. Những yêu cầu trong việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp

1.6.1. Xây dựng quy trình thực hiện công tác chủ nhiệm lớp và quản
lý theo quy trình
1.6.1.1. Tìm hiểu học sinh
- Tìm hiểu đời sống tâm sinh lí của học sinh.
- Tìm hiểu học vấn của học sinh.
- Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status