Bộ GIAO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
VÀ ĐAO
ĐÀO TẠO
TẠO
Bộ
TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI
ĐAI HỌC
HỌC VINH
VINH
Họ và NGUYỄN
tên học viên:
Nguyên
ThịMINH
Thanh Minh
THỊ
THANH
Lớp: 19A- Quản Lý Giáo dục
MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG
MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LÓP CÁC TRƯÒNG TIỂU HỌC
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CÁC TRƯỜNG TIẺU HỌC
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SÓ: 06.14 05
LUẬN VĂN THẠC SỸKHOA HỌC GIÁO DỤC
huyện Đô Lương, các đong nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khóa học và
luận văn.
Tôi cũng xin chân thành tập thê anh chị em lớp Thạc sĩ Quản lí Giáo
dục khóa 19A đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này.
Dù đã có nhiều co gang, song luận văn chắc chắn không thể tránh
khỏi thiếu sót và hạn chế, tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và những
ỷ kiến đóng góp quỷ báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để có
thế hoàn thiện hơn nữa trong quá trình thực hiện trên thực tiên
-3-
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
1
LỜI CẢM ƠN
2
MỤC LỤC
3
NHỮNG CỤM Từ VIÉT TẮT
MỞ ĐÂU
8. Cấu trúc của luận văn
11
Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA DÈ TÀI
12
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
12
1.2. Các khái niệm cơ bản
13
1.3. Nội dung và phương pháp công tác của GVCN
26
1.4. Nội dung quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng
35
-4-
Tiểu kết chương 1
41
3.3. Khảo nghiêm về tính cần thiết và khả thi của các biện
pháp đã đề xuất
Tiểu kết chương 3
106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
112
PHỤ LỤC
115
-7-
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngay từ buối đầu cuộc cách mạng, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã đặc
biệt chú trọng đến sự nghiệp giáo dục, coi đó là cơ sở, là nền tảng đê xây
dựng và phát triển đất nước. Để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết
của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trước hết cần đổi mới mục tiêu,
yếu góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động của một lớp. Đế hoạt động
này mang lại hiệu quả cao, thì không chỉ có sự nỗ lực của đội ngũ giáo viên
chủ nhiệm mà cần phải có sự quản lí, chỉ đạo của ban giám hiệu mà trực tiếp
là Hiệu trưởng nhà trường. Vì vậy nếu Hiệu trưởng triển khai linh hoạt và
sáng tạo các biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp sẽ góp phần
to lớn vào việc nâng cao hiệu quả của công tác này.
Giáo viên chủ nhiệm(GVCN) lớp là người chịu trách nhiệm thực hiện
mọi quyết định quản lý của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong
lớp. GVCN lóp là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các
chủ đề theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện của các học
sinh(HS). GVCN lớp phải biết phối hợp với các GV bộ môn, chỉ huy quản lý
học sinh trong lớp học tập, lao động, công tác. Chủ nhiệm cũng là người phối
hợp với các tổ chức, đoàn thê trong trường trong đó quan hệ nhiều ở cấp TH
là chi bộ, công đoàn, chi đoàn GV, liên đội, hội CMHS, để làm tốt công tác
dạy- học- giáo dục HS trong lớp phụ trách.
Thực tế ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, hiệu trưởng các trường tiểu
-9-
các hiệu trưởng ở trưừng tiểu học trên địa bàn trên toàn tỉnh chưa qua đào tạo
dài hạn về công tác quản lý nhà trường, các đồng chí hiệu trưởng vẫn không
thể tránh khỏi những hạn chế. Do ảnh hưởng của sự suy thái kinh tế chung
toàn cầu trong đó có Việt Nam, do việc tố chức giáo dục đạo đức cho học sinh
trong nhà trường chưa thật sự chú trọng, hoạt động lớp của giáo viên còn
thiếu kinh nghiệm, các nhà quản lý giáo dục đã có những biện pháp chỉ đạo
hoạt động chủ nhiệm lớp, song các các giải pháp còn ít, nên trong các nhà
trường hiện nay, chất lượng giáo dục toàn diện học sinh còn có nhiều vấn đề
- Nghiên cứu co sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lóp các
trường tiểu học.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lóp các trường
tiểu học trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đe xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của các giải pháp quản lý
công tác chủ nhiệm lóp các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đô Lưong,
tỉnh Nghệ An.
6. PHẠM VI NGHIÊN cứu.
Đe tài tập trung nghiên cứu những giải pháp quản lý công tác chủ
nhiệm lớp ở 4 trường tiểu học thuộc 3 vùng đặc trưng trên địa bàn huyện Đô
-11 -
Sử dụng các phương pháp phân tích- tổng họp lý thuyết; phân loại- hệ
thống hóa và cụ thể hóa lý thuyết qua nghiên cứu những tài liệu có liên quan
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài. Sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp điều tra.
chất lượng giáo dục luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm.
ơ Việt Nam, ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các giáo sư: Hà
Thế Ngữ; Nguyễn Minh Đức; Nguyễn Ngọc Quang, nhà sư phạm Hà Sỹ
Hồ...đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà
trường trong hoàn cảnh thực tế xã hội Việt Nam.
Đối với công tác chủ nhiệm lớp đã có những công trình, đề tài nghiên
cứu, đó là: “Mợ/ so biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đoi với
công tác chủ nhiệm lóp trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh” luận văn
Thạc sĩ của Nguyễn Khắc Hiền (ĐHSP Hà Nội, 2005)[ 23,tr. 65]; “Trí tuệ xúc
cảm của giáo viên chủ nhiệm lóp THCS ” Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị
- 13 -
trường phổ thông do Bộ GD & ĐT tổ chức vào tháng 8/2010, có nhiều bài
viết cúa các nhà khoa học và các nhà QLGD có giá trị, đó là: “Nâng cao chất
lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêu cầu đôi mới giáo dục
pho thông trong giai đoạn hiện nay” của PGS. TS Bùi Văn Quân; “Một vài
điếm mới trong công tác chủ nhiệm lóp ở trường pho thông” của PGS. TS Hà
Nhật Thăng; Phương hướng nâng cao năng lực giáo dục cho dội ngũ giáo
viên chủ nhiệm lớp ở trường phô thông ” của PGS. TS Nguyễn Dục Quang;
“Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phô thông quan niệm và một so kiến giải”
của PGS.TS Đặng Quốc Bảo; “Sứ mệnh và vai trò của giảo viên chủ nhiệm”
của PGS.TS Mạc Văn Trang; “Nâng cao năng lực làm công tác chủ nhiệm
cho giáo viên” của PGS.TS Nguyễn Văn Khôi ; “Giáo viên chủ nhiệm với
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh” của Hoàng Thị Nga (Kỷ yếu Hội
thảo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tháng 8 -2010). v.v...
một sự chỉ đạo đê điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiên
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4]
Trong quá trình tồn tại và phát triển của khoa học quản lý, đặc biệt
trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều
nhà lý luận đưa ra khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu
của
mỗi người. Chẳng hạn:
Theo Frederich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ: “Quản lý là
nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng
phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [20].
- 15 -
để đạt mục tiêu của tổ chức”[31].
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định”[29].
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc
biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết
bộ máy quản lý, hỉnh thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các
khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu
quả” [14]
Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của
mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác. Như vậy, người quản lý, nếu
không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các nguồn nhân
lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái gì nữa.
Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc
quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kết quả
mong đạt tới. Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định được tổ
chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mục
tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.
b) Chức năng tỏ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “ Hệ thống các hoạt động hay tác
động có ý thức của hai hay nhiều người”. Cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” đã
xác định: “Tố chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ
- 17 -
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho
phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là
điều kiện của quản lý. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền
vững giữa con người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ
khơi nguồn các động lực, tố chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm
sút hiệu quả quản lý.
c) Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành
vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo
thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên
trong tố chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều
quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục.
Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt
xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát
triển thể lực và tâm lý trẻ em [21trl24].
- 19-
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đưừng lối của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục đẻ tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh...” [16].
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu diêm hội tụ là quá
trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất [30].
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo
dục là hoạt động điều hành, phổi hợp các lực lượng giáo dục nhằm đấy mạnh
công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.3. Quản lý nhà trucmg
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp
những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can
thiệp...) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ
khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy
mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế
hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường
tiến lên trạng thái mói” [30].
-21 -
những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường (đó là những tác
động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều
kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những
chỉ dẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có
liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình
thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ
trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó); Tác động
của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường (bao gồm các hoạt động:
Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học - giáo dục,
quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học,
quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng. [13].
Như vậy, quản ỉỷ nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác
định, đó là nhà trường (đon vị giáo dục). Quản lý nhà trường là một hoạt
động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời
có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường
cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD đế đẩy mạnh mọi hoạt
động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.
nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, cao
đẳng nghề gọi là giảng viên”. [17,63]
1.2.4.2. Giáo viên chủ nhiệm:
Giáo viên chủ nhiệm có thể được coi là người thay mặt hiệu trưởng làm
-23 -
các phương pháp giáo dục linh hoạt mang lại hiệu quả cao; chú ý giáo dục cá
biệt, cá nhân hoá giáo dục; đánh giá kết quả học tập, tu dưỡng toàn diện của
lớp, của từng học sinh.
Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm phải biết tổ chức, quản lý tập thể học
sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng, chịu trách nhiệm
trước hiệu trưởng, phụ trách công tác quản lý trong phạm vi lớp mình làm chủ
nhiệm, ơ đây giáo viên chủ nhiệm phải;
a. Thiết kế được kế hoạch xây dựng và phát triển tập thể học sinh.
b. Phát huy được ý thức tự quản của học sinh, xây dựng được bộ máy
của lớp có đủ năng lực và uy tín điều hành các hoạt động chung.
c. Cố vấn cho bộ máy này hoạt động; bồi dưỡng một cách có kế hoạch
các phần tử tích cực nhằm làm cho tập thể lớp đạt được các mục tiêu đã đề ra
qua việc tổ chức hoạt động tập thể một cách có kế hoạch và có phương pháp.
d. Tố chức kiểm tra, đánh giá hoạt động của lớp, của từng học sinh.
e. Báo cáo, thỉnh thị hiệu trưởng theo chế độ đã quy định.
động giáo dục thống nhất, và họ chính là giáo viên chủ nhiệm.
1.2.5. Quản lý công tác chủ nhiệm lớp
-25 -
đích, có kế hoạch của nhà quản lý (hiệu trưởng) lên đối tượng quản lý nhằm
đạt được mục tiêu giáo dục đề ra. Nó bao gồm hai nội dung chủ yếu :
I Quản lý đội ngũ GVCN lóp .
+ Quản lý các hoạt động của GVCN lóp .
Thể hiện qua những chức năng cơ bản của quản lý đó là: Lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo và kiêm tra và đánh giá.
1.2.5.1. Thực hiện nội dung quản lý đội ngũ GVCN lớp:
Mỗi đầu năm học, người quản lý cần căn cứ vào kế hoạch phát triển
của nhà trường để phân chia số lớp cho từng khối lớp và lựa chọn được đội
ngũ GVCN lóp phù hợp vói từng đối tượng học sinh ở từng lớp cụ thể. Đế
việc lựa chọn GVCN đạt kết quả tốt, cần:
I Xây dựng kế hoạch cụ thế như nắm bắt thông tin, bàn bạc trong hội
đồng nhà trường rồi đưa ra dự kiến đội ngũ GVCN.
+ Thông qua dự kiến để lắng nghe ý kiến phản hồi về uy tín của người
giáo viên từ nhiều bộ phận, nhiều góc cạnh khác nhau.
ỉ Dựa trên ý kiến phản hồi và tình hình thực tế, mục tiêu đề ra, hiệu
-26-