Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
1
Chương mở đầu
NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC - LÊNIN
Chương mở đầu Nhập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin nhằm giải quyết ba vấn đề thông lệ của một môn học trước khi đi vào các
nội dung cụ thể, đó là: Học cái gì? (đối tượng của môn học); học để làm gì? (mục
đích của môn học); và, cần phải học thế nào để đạt được mục đích đó? (những yêu
cầu về mặt phương pháp của môn học).
Chương này mở đầu bằng việc trình bày khái lược các nội dung trọng
tâm và quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm tạo ra
cái nhìn tổng quát về đối tượng và phạm vi của môn học.
Mục đích của môn học này được xác lập trên cơ sở vị trí của nó trong cấu tạo khung
chương trình thống nhất của 3 môn học Lý luận chính trị dùng cho đối tượng
sinh viên không chuyên sâu các chuyên ngành: Triết học, Kinh tế chính trị học và
Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Yêu cầu của môn học này đề cập những nguyên tắc cơ bản cần phải thực
hiện khi triển khai dạy và học, làm cơ sở chung cho việc xác lập phương pháp,
quy trình cụ thể trong hoạt động dạy và học sao cho có thể đạt được mục đích của
môn học này.
I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành
a) Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác,
Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị
của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự
chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin đều có đối tượng
nghiên cứu riêng nhưng đều nằm trong một hệ thống khoa học lý luận thống nhất, đó
là khoa học về giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức
bóc lột, tiến tới giải phóng con người.
2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
a) Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Chủ nghĩa Mác ra đời trong những năm 40 của thế kỷ XIX. Trong thời gian
này, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ở nhiều nước châu Âu, mâu
thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ ra một cách gay
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
3
gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của nền sản xuất với tính chất tư bản
chủ nghĩa của sự chiếm hữu về tư liệu sản xuất và về sản phẩm xã hội. Biểu hiện về
mặt xã hội của mâu thuẫn này chính là sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản. Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ.
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đã dặt ra yêu cầu bức thiết phải có
lý luận cách mạng thực sự khoa học dẫn đường, đó phải là lý luận khoa học, giải
thích đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, triển
vọng của phog trào đấu tranh của giai cấp vô sản và tương lai của xã hội loài người
nói chung. Chủ nghĩa Mác ra đời gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và
trở thành vũ khí lý luận của cuộc đấu tranh đó.
Mặt khác, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phép
khái quát nhiều nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của sản
xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, vai trò của cơ sở
hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, vai trò của đấu tranh giai cấp trong lịch sử, vai
cũng không tự mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác mà thôi). Đây
là cơ sở khoa học để khẳng định rằng vật chất và vận động của vật chất không thể do
ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt. chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng
khác, hình thức này sang hình thức khác mà thôi.
- Thuyết tiến hóa của Darwin. Darwin đã kế thừa những thành tựu của Lamax để viết
nên tác phẩm Nguồn gốc các loài vào năm 1859. Học thuyết tiến hóa của ông đã luận
chứng về quá trình đấu tranh sinh tồn của muôn loài, qua sự chọn lọc tự nhiên, dần
dần sản sinh ra giống loài mới. Từ đó ông đưa ra lý luận về sự tiến hóa của sinh vật
mà hạt nhân là quá trình chọn lọc tự nhiên, vén bức màn bí ẩn về sự tiến hóa của các
loài trong tự nhiên. Lý luận tiến hóa sinh vật đã áp dụng quan điểm lịch sử vào lĩnh
vực sinh vật học. Nó luận chứng về quá trình lịch sử của giới hữu cơ, chứng minh
rằng, thực vật, động vật bao gồm cả loài người đều là sản phẩm phát triển của lịch sử.
- Học thuyết tế bào: Học thuyết tế bào do giáo sư M.Slaiđen (Trường Đại học Gana,
Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết
cấu của mọi thực vật. Qúa trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và phát
triển của tế bào. Sau đó, vào năm 1839 giáo sư T.Svannơ (giáo sư phẫu thuật người
của trường Đại học Ruăng, Đức) đã mở rộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang
giới động vật, khiến loài người nhận thức được rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu
chung của mọi cơ thể sinh vật. Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện
chứng của sự vận động, phát triển, chuyển hóa không ngừng của bản than giới sinh
vật.
b) C.Mác, Ph.Ăngghen với quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác
* Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác
- Thời gian từ 1842 về trước: C.Mác và Ăngghen là những thanh niên đầy nhiệt tình
và lòng nhân đạo, say mê nghiên cứu triết học, nhưng chưa thoát khỏi lập trường triết
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
5
sản”. Hai ông trình bày một cách hoàn chỉnh lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp,
vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, cương lĩnh cách mạng của giai
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
6
cấp vô sản. Bằng luận cứ khoa học và xác đáng, Tuyên ngôn đã vạch ra tính tất yếu
của chủ nghĩa Cộng sản, trong đó khi sự đối kháng giai cấp bị xóa bỏ thì sự thù địch
giữa các dân tộc cũng không còn. “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và
đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho phát triển tự do của tất cả mọi người” (Toàn tập, t.4,
tr.628).
* Giai đoạn phát triển chủ nghĩa Mác
- Sau 1848 là thời kỳ C.Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển triết học của mình.
Trong thời kỳ này, C.Mác và Ăngghen tham gia phong trào đấu tranh của giai cấp vô
sản và triết học của các ông trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản ở các nước lớn
ở châu Âu và châu Mỹ.
- Từ 1848 đến Công xã Paris năm 1871, C.Mác và Ăngghen viết nhiều tác phẩm để
tổng kết phong trào đấu tranh giai cấp ở Pháp như tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở
Pháp (1848 – 1850), Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapac (1851 – 1852), Cách
mạng và phản cách mạng ở Đức (do Ph.Ăngghen viết 1851 – 1852). Bộ Tư bản cũng
được Mác viết trong thời kỳ này.
- Từ 1871 trở đi, C.Mác và Ăngghen có thêm kinh nghiệm của Công xã Pari. Những
tác phẩm hai ông viết trong thời kỳ này tiếp tục khái quát những kinh nghiệm đấu
tranh của giai cấp công nhân, phát triển ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác và làm
phong phú them những nguyên lý của chủ nghĩa Mác. Mác tiếp tục viết tác phẩm tư
bản, còn Ăngghen viết tác phẩm chống Duhring (1876 – 1878), biện chứng của tự
nhiên (1873 – 1883). Sau khi Mác qua đời năm 1883, Ăngghen hoàn thành việc xuất
bản bộ Tư bản của Mác, đồng thời tiếp tục lãnh đạo phong trào giai cấp công nhân và
Sau thất bại của cuộc cách mạng 1905 – 1907, Lênin viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908); Bút ký triết học (1914 – 1916); Ba bộ
phận câu thành của chủ nghĩa Mác; tác phẩm C.Mác; chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột
cùng của chủ nghĩa tư bản (1916); nhà nước và cách mạng (1917). Trong tác phẩm
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Leenin phê phán chủ nghĩa
duy tâm chủ quan và phát triển chủ nghĩa duy vật, phát triển lý luận nhận thức duy
vật biện chứng. Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin tổng kết và phát triển phép
biện chứng duy vật.
Lênin đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và
lãnh đạo thành công cuộc cách mạng tháng Mười Nga, mở ra cho nhân loại một thời
đại mới: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
thế giới.
Sau cách mạng tháng Mười, Lênin nghiên cứu giải quyết các vấn đề của cách mạng
vô sản, xây dựng cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, vấn đề
xây dựng đảng và nhà nước. Những tác phẩm trong thời kỳ này là:
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
8
Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (1918); Bệnh ấu trĩ tả khuynh và
tính tiểu tư sản (1918); bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản (1920); về
chính sách kinh tế mới (1921); về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới. Lênin nêu lên tư tưởng về nền kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
d) Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới
- Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
Cách mạng tháng Mười mở ra cho nhân loại thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới:
- Trong những năm đầu thập kỷ 80, chủ nghĩa xã hội bắt đầu lâm vào cuộc khủng
hoảng: Sản xuất rơi vào tình trạng trì trệ, hiệu quả và tính tích cực xã hội giảm sút.
Do sai lầm trong cải tổ, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ.
Tuy nhiên, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ là sụp đổ của một mô
hình chủ nghĩa xã hội cụ thể chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói
chung. Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam…thực hiện thành
công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã có thể ra khỏi khủng
hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
- Sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu không phải là thất bại của chế
độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ là sự thất bại của một mô hình
thực tiễn nhất định, tức mô hình Liên Xô của chủ nghĩa xã hội. Việc đổi mới thành
công chủ nghĩa xã hội ở một số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triển vọng mới.
Nhân loại chẳng những không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại tìm kiếm một mô
hình mới của chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới.
- Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo không có nghĩa là
từ bỏ mà là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; kiên trì mục tiêu chủ nghĩa
xã hội; nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước ta và trên thế giới trong tình
hình hiện nay.
II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC
TẬP, NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
1. Đối tượng và phạm vi học tập, nghiên cứu
Đối tượng học tập, nghiên cứu “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin” là: “Những quan điểm và học thuyết” của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
11 Phần thứ nhất
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
Thế giới quan và phương pháp luận triết học là bộ phận lý luận nền tảng của
chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự kế thừa và phát triển những thành quả vĩ đại nhất của tư
tưởng triết học trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là triết học cổ điển Đức. C.Mác,
Ph.Ăngghen và VI.Lênin đã phát triển chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đến
trình độ sâu sắc nhất và hoàn bị nhất, đó là: chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư
cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học; là phép biện chứng duy vật với
tư cách “học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và
không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người;
(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M-1981, t.23, tr. 53); và do đó, nó cũng chính là
phép biện chứng của nhận thức hay là “cái mà ngày nay người ta gọi là lý luận nhận
thức”; (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M-1981, t.26, tr. 65); đó còn là chủ nghĩa
duy vật lịch sử với tư cách là hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng về xã hội,
làm sáng tỏ nguồn gốc, động lực và những quy luật chung của sự vận động, phát triển
của xã hội loài người.
tinh thần (tư duy, ý thức). Do vậy, vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
được gọi là “vấn đề cơ bản lớn nhất” hay “vấn đề tối cao” của triết học. Vì việc giải
quyết vấn đề này là cơ sở và là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết
học.
- Tự nhiên - tinh thần
- Tồn tại - tư duy
- Vật chất - ý thức
Vấn đề cơ bản của triết học đó là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Bởi vì:
- Vật chất và ý thức là hai hiện tượng rộng lớn nhất của đời sống con người.
- Đây là vấn đề xuyên suốt trong mọi hệ thống triết học.
- Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nó là cơ sở để phân định lập trường
triết học của hai trường phái, các khuynh hướng, các hình thức của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
- Mặt thứ nhất (bản thể luận) trả lời câu hỏi: Trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn
tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào sinh ra cái
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
13
nào, cái nào quyết định cái nào? (trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên
thì vị trí và vai trò của con người đối với giới tự nhiên như thế nào?)
- Mặt thứ hai (nhận thức luận) trả lời câu hỏi: Tư duy con người có khả năng nhận
thức thế giới xung quanh hay không? (trong mối quan hệ giữa con người với giới tự
nhiên thì khả năng nhận thức của con người với giới tự nhiên ra sao?).
c. Sự đối lập giữa hai quan điểm duy vật và duy tâm trong việc giải quyết vấn đề
cơ bản của triết học
- Chủ nghĩa duy vật là trào lưu triết học cho rằng, tồn tại (tự nhiên, vật chất) có trước
tư duy (tinh thần, ý thức), và quyết định ý thức.
giải thích thế giới.
b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đạt
đỉnh cao vào đầu thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của cơ học vì vậy nó
đã ảnh hưởng lớn tới quan điểm của các nhà triết học thời kỳ này. Chủ nghĩa duy vật
trong giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình,
máy móc của cơ học cổ điển. Họ nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi
thì thì đó chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên
ngoài gây nên.
c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ăngghen xây dựng, sau đó được Lênin
và những người kế tục bảo vệ và phát triển. kế thừa những tinh hoa trong lịch sử triết
học của nhân loại và vận dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên đương thời
C.Mác và Ăngghen đã xây dựng nên những quan điểm, nguyên lý, quy luật cơ bản
của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách
quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã
cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
II. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Vật chất
a) Phạm trù vật chất
- Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất
Chủ nghĩa duy tâm: Phủ nhận vật chất với tính cách là thực tại khách quan. Cho rằng
thế giới vật chất là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sự kết hợp” những cảm giác của
con người.
Chủ nghĩa duy vật cổ đại: Đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại cụ thể của vật
chất:
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
nghĩa về vật chất như sau :
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh và không lệ thuộc vào cảm giác”. (Tập 18, tr.151)
* Những nội dung cơ bản
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
16
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan ”
Phạm trù vật chất là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận. Do đó:
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ triết học chứ không phải dưới góc
độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng
nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong
các khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
+ Chúng ta không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường.
Về mặt nhận thức luận, theo Lênin, chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong mối
quan hệ đối lập với nó, đó là phạm trù ý thức.
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”
Điều này khẳng định với chúng ta rằng, vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là
cái có sau, vật chất là cái đóng vai trò quyết định đến nguồn gốc và nội dung khách
quan của ý thức. Bởi vì, thực tại khách quan (vật chất là thực tại khách quan) đưa lại
cảm giác cho con người chứ không phải là cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách
quan. Đến đây định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất vấn đề
cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
“Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh và không lệ thuộc vào cảm giác”.
Điều này đã khẳng định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện
thực khách quan. đến đây định nghĩa vật chất của Lênin tiếp tục giải quyết được mặt
trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
* Vận động là phương thúc tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào cũng
không có và không thể có vật chất mà không có vận động.
+ Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, không thể có vật
chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vật chất.
“Vật chất không có vận động, cũng như vận động không có vật chất, đều là điều
không thể hình dung nổi” (Tập 20,tr.89)
+ Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động
* Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất
+ Vận động là cái vốn có của vật chất, gắn liền với vật chất, không do ai sinh ra và
không bao giờ bị tiêu diệt.
+ Vận động được bảo toàn cả về lượng và chất
Ph.Ăngghen khẳng định : “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận động không chỉ đơn
thuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nữa” (Tập 20, tr.479).
* Các hình thức vận động của vật chất
Theo Ăngghen, có 5 hình thức vận động cơ bản
- Vận động cơ học: Là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
18
- Vận động vật lý: (thay đổi trạng thái vật lý) là vận động của phân tử, của các hạt cơ
bản, vận động của nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh.
- Vận động hóa học: (thay đổi trạng thái hóa học) là sự vận động của các nguyên tử,
sự hóa hợp và phân giải của các chất.
- Vận động sinh vật: Vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồng hóa, dị
hóa, sự tăng trưởng, sinh sản, tiến hóa.
19
không bị mất đi.
- Mọi tồn tại của thế giới đều có mối liên hệ khách quan, biểu hiện ở chỗ chúng đều
là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chất,
do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của quy luật khách quan, phổ biến của
thế giới vật chất.
Như vậy, trong thế giới không có gì khác hơn là vật chất đang vận động. Tinh thần
chỉ có trong đầu óc con người và là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao.
Không có bằng chứng về thế giới tinh thần tồn tại bên ngoài thế giới vật chất (thiên
đường, địa ngục, niết bàn).
2. Ý thức
a) Nguồn gốc của ý thức
* Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Ý thức là thuộc tính (thuộc tính phản
ánh) của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người.
Bộ óc là cơ quan vật chất của ý thức. Nhưng tại sao bộ óc con người lại có thể sinh ra
ý thức, là mối liên hệ với thế giới khách quan. Chính mối liên hệ vật chất này đã hình
thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào bộ óc con người.
+ Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ
lại, tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động
qua lại giữa chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận
tác động, và vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động.
+ Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh là phản ánh
vật lý, hóa học. Các hình thức này có tính chất thụ động, chưa có sự định hướng,
chưa có sự lựa chọn.
Hình thức phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên sống, là sự phát triển mới về
chất trong hình thức phản ánh của vật chất.
Hình thức phản ánh của cá thể sống đơn giản nhất là tính kích thích, là sự trả lời của
thỏa mãn nhu cầu của con người. Do đó, ý thức con người phản ánh một cách tích
cực, chủ động và sáng tạo. Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà thế giới khách quan
tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức, mà trái lại con người có ý thức
chính là con người chủ động tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động
thực tiễn để cải tạo thế giới. Hay nói cách khác, lao động giúp con người phát triển và
ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày
càng phát triển.
+ Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội lại với nhau, làm nảy
sinh ở họ nhu cầu giao tiếp. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triển cùng
với lao động.
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
21
- Ngôn ngữ
Ph.Ăngghen đã nói: “Đem so sánh con người với loài vật, người ta sẽ thấy rõ ràng
ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích
duy nhất đúng về ngôn ngữ”.
+ Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống
tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn
tại và thể hiện được. Ngôn ngữ theo C.Mác, nó chính là cái vỏ vật chất của tư duy, là
hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ con người không thể có ý thức.
+ Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, vừa là
công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà
con người có thể tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, truyền lại những tri thức
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ý thức không phải là một hiện tượng thuần túy cá nhân mà là một hiện tượng có tính
chất xã hội, do đó, không có phương tiện trao đổi về mặt ngôn ngữ thì ý thức không
thể hình thành và phát triển được.
hóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức
là sáng tạo của sự phản ánh theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, mà
kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần
Thứ tư, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng
xã hội. Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của
con người. Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động xã hội, do
đó ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm cuả xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con
người còn tồn tại.
* Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng xã hội - tâm lý có kết cấu hết sức phức tạp. Tùy theo cách
tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau.
- Theo chiều dọc: thì ý thức chính là lát cắt nội tâm của con người, nó bao gồm các
yếu tố: Tự ý thức, tiềm thức, vô thức.
- Theo chiều ngang: Ý thức bao gồm các yếu tố: Tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí.
Trong đó tri thức là yếu tố cốt lõi. Tri thức đóng vai trò là phương thức tồn tại của ý
thức. Điều này có nghĩa là không có tri thức thì sẽ không có ý thức.
Nếu chỉ có ý thức không thôi thì đó là một ý thức phát triển không toàn diện, sơ
cứng. Tri thức được xem là vốn hiểu biết của con người nhưng nếu biến cái tri thức
đó thành hành động thì đó là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, sự tác động của thế
giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại sự hiểu biết về thế giới mà còn đem
lại tình cảm của con người đối với thế giới. Tình cảm là một hình thái đặc thù của sự
tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thế
giới khách quan. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và là một
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
23
trong những động lực quan trọng của hoạt động con người. Tri thức có biến thành
Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
24
luật càng cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn.
c) Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn ý
thức chỉ là sản phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan. Trong nhận thức và hành
động con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo
hiện thực khách quan, chống chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy ý chí.
- Khẳng định ý thức có vai trò tích cực trong sự tác động trở lại đối với vật chất, phép
biện chứng duy vật yêu cầu trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn con người
cần phải nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách chủ động, sáng tạo,
chống thái độ tiêu cực, thụ động.
- Sức mạnh của ý thức con người không phải là ở chỗ tách rời những điều kiện vật
chất mà phải biết dựa vào đó, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới
khách quan một cách chủ động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con
người để tác động, cải tạo thế giới khách quan. Đồng thời phải khắc phục bệnh bảo
thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại.
vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập và bên ngoài ý thức con người.
- Biện chứng chủ quan: Là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chứng và biện chứng
của chính quá trình phản ánh biện chứng khách quan vào đầu óc của con người.
* Phép biện chứng
- Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
- Cần phân biệt phép biện chứng và phép siêu hình:
+ Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong tư duy. Phương pháp biện chứng
là phương pháp tư duy triết học xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến, trong sự
vận động và phát triển một cách mềm dẻo, linh hoạt.
+ Phương pháp siêu hình là phương pháp tư duy triết học xem xét thế giới trong trạng
thái cô lập, phiến diện với tư duy cứng nhắc.