TÊN ĐỀ TÀI: “Một vài kinh nghiệm phát triển tư duy khai thác mở rộng
kiến thức từ phương trình hoá học cho học sinh lớp 8”
GV: Phí Thò Bích Nguyệt
Trường THCS Nguyễn Văn Cừ
ĐẶT VẤN ĐỀ
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI đòi hỏi ở mỗi con người phải có năng lực tự chủ và xét đoán
cao hơn, gắn bó sự tăng trưởng trách nhiệm cá nhân trong nỗ lực cộng đồng
nhằm đạt được mục đích chung, vì vậy giáo dục không thể coi nhẹ bất kỳ
tiềm năng nào của từng cá nhân: trí nhớ, lập luận, mỹ cảm, thể lực, kỹ năng
giao lưu, không để tiềm năng nào như một kho báu tiềm ẩn trong lòng mỗi
con người mà không được khám phá. Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại đã và đang tạo ra bước phát triển mới .Vì vậy để
bắt kòp sự phát triển nhanh chóng của khoa học kó thuật, con người phải có
đầy đủ kiến thức khoa học. Ngay từ bây giờ phải trang bò cho học sinh, những
người chủ tương lai của đất nước những kiến thức khoa học căn bản, có đầy
đủ khả năng tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, phục vụ nhân dân.
Mỗi giáo viên cần phải truyền đạt cho học sinh những kiến thức trong sách
giáo khoa một cách vững chắc, chính xác giúp các em hiểu sâu, hiểu rõ hơn
bài học. Muốn vậy ngoài việc giảng dạy bài giáo viên còn cần phải tạo ra sự
hứng thú cho các em trong việc học tập, tạo điều kiện cho các em tham gia
xây dựng bài học một cách tích cực nhất. Vì thế mỗi giáo viên khi lên lớp
ngoài việc phải luôn tìm tòi suy nghó, tìm mọi cách, mọi biện pháp để nâng
cao chất lượng cho mỗi bài giảng giúp học sinh nắm vững kiến thức, giáo
viên còn cần phải tìm cách giúp học sinh thấy được cái hay cái đẹp, cái cần
thiết của kiến thức trong mỗi bài học bằng cách vận dụng bài học vào thực
tế, giải thích các hiện tượng liên quan gần gũi trong đời sống hằng ngày. Nội
dung học tập môn hoá học chứa đựng cả một kho tàng kiến thức sinh động,
phong phú, hấp dẫn, dễ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh, tạo
điều kiện tốt cho việc hình thành động cơ, nhu cầu nhận thức cũng như hứng
thú học tập của học sinh để trang bò cho học sinh những kiến thức hoá học
học là phương tiện phát triển tư duy cho học sinh. Bởi vậy khi lập được
phương trình hóa học,mở rộng kiến thức về phương trình hoá học thì học sinh
đã lónh hội được một lượng kiến thức lớn trong quá trình học môn hoá học8.
Kiến thức này luôn được củng cố, đào sâu và vận dụng thực tế giảng dạy hóa
học ở phổ thông. Nhưng vận dụng vào để lập phương trình hoá học, mở rộng
kiến thức về phương trình hoá học cũng còn có khoảng cách.
2
Để cuốn hút sự chú ý, lôi cuốn các em vào bài giảng đảm bảo cho học
sinh hiểu sâu nắm vững kiến thức hóa học cơ bản trong phương pháp học hóa
học là học sinh phải nắm vững cách lập phương trình hóa học, khai thác –mở
rộng kiến thức từ phương trình hoá học và được củng cố qua từng bài học,
nên bản thân tôi đã từng sử dụng việc lập phương trình,khai thác-mở rộng
kiến thức từ phương trình hoá học để củng cố, mở rộng kiến thức cho học
sinh. Chính vì vậy,đây là một vấn đề rất bức xúc đối với giáo viên vì một
năm qua mà những kiến thức cơ bản khởi đầu cho môn hoá học ở trường phổ
thông học sinh chưa nắm vững(nhất là kiến thức về phương trình hoá học).
Do đó trong quá trình giảng dạy chương trình hoá học lớp 8 tôi thấy mình
phải tìm ra cách nào đó để học sinh yêu bộ môn, hăng say học tập nghiên
cứu bộ môn và làm sao cho các em thi đua nhau học vững chắc kiến thức đã
học qua từng tiết, từng bài học. Chính vì vậy việc khai thác –mở rộng kiến
thức từ phương trình hoá học…rất bổ ích và lý thú đối với học sinh,nó giúp
học sinh nắm chắc kiến thức, hiểu sâu kiến thức và tạo động lực thúc đẩy học
sinh ham mê học tập. Vậy qua nhiều lần suy nghó,qua quá trình học hỏi đồng
nghiệp,với chút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy tôi mạnh dạn viết nên
một vài kinh nghiệm phát triển tư duy cho học sinh lớp 8 khai thác- mở rộng
kiến thức từ phương trình hoá học. Mong rằng qua đó giúp các em học sinh
tiến bộ hơn hoạt động học tập, với hy vọng góp phần nâng cao chất lượng
dạy học, giáo dục trong điều kiện hiện nay và trong tương lai.
II/ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Bằng phương pháp quan sát thực nghiệm sư phạm kết hợp với điều
Thật vậy trong quá trình dạy học nhờ có sự lựa chọn, vận dụng hợp lý các
phương pháp dạy học, người học nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo
ở mức độ từ thấp đến cao.Mặt khác phương pháp dạy học còn có khả năng
hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách tốt đẹp cho người học.
II/ HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
1. Phương pháp dạy học truyền thống:
- Nhóm phương pháp dùng lời
- Nhóm phương pháp trực quan
2. Một số phương pháp dạy học môn hoá học cần được chú ý trong đổi
mới phương pháp dạy học: Để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn
hoá học cần chú trọng vận dụng các phương pháp dạy học đặc trưng của hoá
học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, phối hợp các
phương pháp dạy học theo lý luận dạy học hiện đại: Phương pháp quan sát,
tìm tòi; Phương pháp biểu diễn thí nghiệm nghiên cứu; phương pháp thực
hành thí nghiệm
III/ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC HOÁ HỌC:
1. Soạn bài hoá học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh.
2. Quy trình thực hiện một tiết lên lớp và một số thủ thuật sư phạm:
4
- Kiểm tra sự chuẩn bò của học sinh: Việc kiểm tra sẽ giúp giáo viên có
thể chủ động thực hiện bài soạn, kòp thời bổ sung phần học sinh chuẩn bò
thiếu hoặc điều chỉnh hình thức hoạt động dạy học cho phù hợp. Cần động
viên những ưu điểm và nghiêm khắc nhắc nhở những thiếu sót để tạo cho
học sinh thói quen chuẩn bò đầy đủ đồ dùng học tập cho tiết học.
- Nêu vấn đề vào bài học: Nêu vấn đề hấp dẫn sẽ kích thích tính tò
mò, ham hiểu biết của học sinh, tạo ra cho các em nhu cầu muốn tìm tòi phát
hiện tri thức, từ đó học sinh sẽ tham gia tích cực, tự giác vào các hoạt động
học tập. Những vấn đề và câu hỏi do giáo viên nêu ra có tác dụng kích thích
học sinh hào hứng tham gia thảo luận, từ đó tìm ra tri thức của bài học.
khích học sinh yếu kém mỗi khi có ý kiến đúng.
- Mỗi tiết học cần dành đủ thời gian cho các công việc kết luận của
bài, đánh giá cuối tiết học, chuẩn bò cho tiết học sau.
Việc kiểm tra cuối tiết giúp học sinh tự đánh giá được trình độ nhận
thức của mình đồng thời giáo viên phát hiện những khiếm khuyết để có thể
tiếp tục giúp các em bổ sung trong tiết sau hoặc những điểm giáo viên cần tự
khắc phục trong phương pháp dạy học.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG THCS HIỆN NAY
1/ Ưu điểm: Các giáo viên dạy môn ho học đã chú ý đến tính khoa học,
chính xác, tính thực tiễn của các kiến thức, nhất là đã cố gắng đảm bảo tính
hệ thống và khối lượng kiến thức đã được quy đònh trong sách giáo khoa. Gần
đây khi vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra, Giáo viên ở nhiều
đòa phương đã có cố gắng cải tiến phương pháp: Chú ý sử dụng các thí
nghiệm, các phương tiện dạy học trong bài học, chú ý phát huy tính tích cực
của học sinh qua hệ thống câu hỏi đàm thoại, gợi mở dẫn dắt tư duy của học
sinh…
2/ Nhược điểm:
- Một số tiết dạy môn hoá học ít sử dụng thí nghiệm và các hoạt động
thực hành. Tình trạng phổ biến là giáo viên dạy chay với lời thuyết giảng
triền miên làm tiết học kém hấp dẫn, mất tính sinh động. Trực quan chỉ như
là một biện pháp để dạy học, dùng để minh họa chưa đáp ứng được bài dạy
hoặc giáo viên chưa phát huy được tính tích cực của học sinh qua các phương
tiện dạy học.
- Chỉ một số giáo viên trong các tiết thao giảng đã chú ý sử dụng
phương pháp đàm thoại với hệ thống câu hỏi dẫn dắt gợi mở. Về mặt hình
thức các giờ học đó có vẻ sinh động vì học sinh luôn luôn tích cực phát biểu ý
kiến. Xong thực chất đó vẫn chỉ là sự tích cực thụ động vì học sinh vẫn phụ
thuộc vào sự dẫn dắt của giáo viên qua hệ thống câu hỏi đưa ra. Đó chưa phải
là hoạt động chủ động, độc lập của học sinh nhằm phát hiện, tìm hiểu, giải
rằng cần phảie làm như thếù nào để lôi cuốn học sinh yêu thích môn học, từ
đó tạo ra cho học sinh cảm giác hứng thú, thích tìm tòi, khám phá để tìm ra
những kiến thức bí hiểm.
Để thực hiện được công việc đổi mới trong dạy học đó là phương pháp
học tập tích cực lấy học sinh làm trung tâm.Trong các giờ dạy ,phải làm sao
cuốn hút được học sinh tích cực làm việc,tái hiện được các kiến thức có liên
quan và phát hiện,tìm hiểu kiến thức mới. Muốn như vậy,giáo viên phải luôn
luôn đưa ra cáctình huống để học sinh suy nghó,giải quyết.Nhưng để tạo ra
cho học sinh một thói quen để tư duy lại những kiến thức đã học là vấn đềcốt
lõi để các em nắm chắc kiến thức bộ môn. Do vậy tôi đã lấy phương trình
7
hoá học làm trung tâm để phát triển tư duy và khai thác, mở rộng kiến thức
bộ môn. Vì theo tôi mỗi phương trình hoá họcchứa đựng rất nhiều kiến thức
và nhiều điều bí ẩn trong đó. Vì qua mỗi bài có liên quan đến phương trình
hoá học thể hiện ở các bài học trong chương 2,3,4,5,6 trong chương trình hoá
học lớp 8, các em lại tích luỹ thêm vốn kiến thức cho mình. Để kiến thức cũ
được thường xuyên tái hiện và để khai thác những kiến thức mới từ phương
trình hoá học, tôi đã tiến hành các bước như sau:
Bước1:Lập phương trình hoá học,phát hiện ra những kiến thức hoá học có
liên quan đến phương trình hoá học.
Bước 2: Trả lời những kiến thức hoá học có liên quan đêùn phương trình hoá
học.
Bước 3:Phát hiện ra những kiến thức từ phương trình hoá học.
Bước 4: Tự đặt ra những câu hỏi, bài tập từ phương trình hoá học và tự giải
quyết câu hỏi từ bài tập đó.
2. Biện pháp thực hiện
a.Bước 1:Lập phương trình hoá học, phát hiện ra những kiến thức hoá học
có liên quan đến phương tình hoá học.
Theo cấu tạo của Sgk bài “Phương trình hóa học” được học sau khi học
sinh đã học xong chương I: Chất – Nguyên tử – Phân tử và bài “Sự biến đổi
vào sơ đồ yêu cầu học sinh cân bằng
Ví dụ: Na + O
2
> Na
2
O
Giáo viên đặt câu hỏi: Dựa vào nguyên tố nào để cân bằng? Học sinh
có thể hơi lúng túng, vì tỉ lệ các nguyên tử tương tự nhau. Giáo viên phải
hướng dẫn học sinh cách chọn nguyên tố để cân bằng. Đối với phương trình
này ta chọn oxi để cân bằng. Muốn cho 2 vế bằng nhau ta chọn hệ số bằng
cách tìm BCNN của nguyên tố ta chọn trong 2 vế (tg : 2; sp 1) = 2. Ta tìm hệ
số tương tự cách QĐMS ở đại số ta tìm thừa số phụ (hệ số cần tìm). Vậy hệ
số vế tham gia 2 : 2 = 1 nên ta không điền ở vế tham gia, vế sản phẩm 2 : 1 =
2 nên ta điền trước Na
2
O (hợp chất có nguyên tố ta lựa để cân bằng)
Na + O
2
> 2 Na
2
O. Xét nguyên tử Na ở 2 vế tham gia 1 vế sản phẩm
là 4 (hệ số 2 nhân chỉ số 2) vậy BCNN là 4 xét vế tham gia 4 : 1 = 4 vậy điền
4 vào trước Na ta được: 4 Na + O
2
2Na
2
O
9
Vậy 2 vế đó cân bằng ta hoàn thành nét thành “”
Sau đó yêu cầu học sinh cân bằng phương trình ở mức cao hơn như
+ H
2
O
Tương tự dựa vào oxi (vì oxi có số nguyên tử cao mà 2 vế không bằng
nhau) BCNN {4, 1} = 4 điền 4 vào H
2
O
Số nguyên tử H = 8 Điền 8 vào HCl và điền 2 vào FeCl
3
để 2 vế có
8Cl.
Fe
2
O
3
+ 8HCl FeCl
2
+ 2FeCl
3
+ 4H
2
O
Đối với học sinh khá giỏi yêu cầu học sinh cân bằng sơ đồ:
FeS
2
+ O
2
> SO
2
+ Fe
O
3
Hoặc cân bằng phương trình:
10
t
0
t
0
t
0
t
0
t
0
Fe + H
2
SO
4 đặc
Fe
2
(SO
4
)
3
+ SO
2
+ H
2
O
Học sinh bỡ ngỡ vì sản phẩm có nhóm SO
4
)
3
+ 3SO
2
+ 6H
2
O
Tương tự yêu cầu học sinh cân bằng phương trình
Fe
2
(SO
4
)
3
+ NaOH > Fe(OH)
3
+ Na
2
SO
4
Yêu cầu học sinh nhận xét về tham gia sản phẩm có điểm gì đặc biệt
Học sinh: - Vế tham gia có 3 nhóm SO
4
sp’ 1 nhóm SO
4
- Vế tham gia có 1 nhóm OH sp’ 3 nhóm OH
? Ta nên chọn nhóm nào để cân bằng?
Học sinh có thể chọn 1 trong 2 nhóm cân bằng
Giáo viên có thể phân tích chọn SO
O
5
)”
(chú ý:có thể đảo: O
2
P
2
O
5
)
Cân bằng phot pho:thêm 4 vào trướcP(4P)
11
t
o
Phương trình hoá học: : 4P +5 O
2
0
t
→
2 P
2
O
5
Từ bài luyện tập 3 trở đi qua từng bài giáo viên rèn thêm về kỹ năng
lập phương trình. Học sinh sẽ có cách nhìn khái quát và việc cân bằng
phương trình sẽ diễn ra 1 cách dễ dàng và cơ bản nhất là những bài toán tính
theo phương trình. Giáo viên hướng dẫn bằng cách gợi ý học sinh xác đònh
chất tham gia là những chất nào? Sản phẩm có những chất nào để học sinh
lập phương trình. Ví dụ bài số 4a/75 giáo viên đặt câu hỏi.
O
3
Và cân bằng dựa vào nguyên tố oxi tìm BCNN (3, 2) = 6; 6 : 3 = 2 điền
2 vào vế sản phẩm 6 : 2 = 3 điền 3 vào O
2
sản phẩm là 4 nguyên tử nhôm vậy
điền 4 vào Al tham gia:
4Al + 3O
2
0
t
→
2Al
2
O
3
Để viết đúng phương trình hóa học yếu tố công thức hóa học đóng vai
trò không nhỏ. Do đó để có 1 công thức đúng giáo viên cần gợi ý học sinh
12
t
0
nắm được nó thuộc loại hợp chất nào? Thành phần của nó ra sao? Một công
thức hóa học chỉ đúng khi nào?
Vậy trong khi lập phương trình hóa học cần chú ý đến chất tham gia và
chất tạo thành dựa trên tính chất hóa học của chất ngành hóa học nghiên cứu
về chất và sự biến đổi của chất, chất và sự biến đổi của chất được xem xét cả
về mặt đònh tính và đònh lượng. Nếu thiếu hiểu biết hóa học thì không thể lập
đúng phương trình hóa học được. Do đó sự thống nhất giữa 2 mặt đònh tính va
đònh lượng của các hiện tượng hóa học là cơ sở phương pháp luận của việc
gì?
Học sinh trả lời: công thức Fe
2
O
3
cho ta biết 1 mol Fe
2
O
3
có khối lượng
mol là:M=56.2+16.3=160 gam
3CO
2
cho ta biết đây là 3 mol CO
2
và có tổng khối lượng mol là:M=3.
(12+16.2)=132 gam
ĐKTC 3 mol CO
2
chiếm thể tích là:
V
2
CO
=3.22,4l=67,2lít
Và như vậy,từ phương trình hoá học,các em còn biết thêm về mol nguyên tử,
phân tử,thể tích mol của chất khí, cách tính khối lượng mol…
b.Bước 2:Trả lời những kiến thức đã học có liên quan đến phương trình hoá
học.
Với những kiến thức đã biết có liên quan đến phương trình hoá họcvừa
kể trên,nhiệm vụ của học sinh là tiếp tục ôn tập nắm rõ các kiến thức đã học
5
+3H
2
O -> 2H
3
PO
4
-p dụng đònh luật ta có:m
2 5
P O
+m
2
H O
= m
3 4
H PO
Ví dụ 3:Những điều đã biết về nguyên tố hoá học.
Chẳng hạn đối với phương trình hoá học của nhóm 2là:
H
2
+CuO
0
t
→
H
2
O + Cu
Học sinh biết được phương trình hoá học :
Ví dụ : với phương trình:H
2
Để thực hiện thành công bước này, giáo viên cung cấp cho các em , gợi ý
cho các em nhớ lại những đặc điểm về tính chất vật lí như trạng thái, màu sắc
,mùi vò, tính tan trong nước,nhiệt độ nóng chảy,nhiệt độ sôi, nhiệt độ đông
đặc, tỉ khối,tính dẻo,độ cứng, tính dẫn điện, dẫn nhiệt. . .và các đặc điểm về
tính chất hoá học của chất đó với các chất khác.
Vì kiến thức mới rất rộng và nhiều như vậy, giáo viên căn cứ vào thời gian
xem chương trình đã thực hiện tới đâu và đề ra những kiến thức mới mà các
em cần biết từ phương trình hoá học trong các bài tới hoặc chương tới.Ví dụ
sau khi kết thúc kì I bắt đầu chương trình kì II với chương IV là Oxi – Không
khí.
Vậy các em khai thác xem các phương trình hoá học đã cho, phương trình
hoá học nào liên quan đến đơn chất khí O
2
, phát hiện xem O
2
có những tính
chất hoá họcgì?ng dụng và điều chế ra sao? Những hợp chất thành phần
gồm hai nguyên tố trong đó có một nguyên tố là oxi thuộc loại hợp chất gì?
Những phản ứng có liên quan đến tính chất hoá học của O
2
thuộc loại phản
ứng gì? và để giải quyết được vấn đề đó các em sẽ được học ở các bài sau
với những nội dung cụ thể, với cách tung ra vấn đề như vậy giáo viên đã
hướng dẫn các em có thói quen tự nghiên cứu tài liệu, tự chuẩn bò kiến thức
để học bài mới rất chủ động.
d.Bước 4. Tự đặt ra câu hỏi, bài tập từ phương trình hoá học và tự giải quyết
câu hỏi và bài tập đó.
Đây là một bước rất khó đối với các em học sinh nhưng lại có ý nghóa rất
lớn, nó giúp cho các em nắm vững cách làm các bài toán tính theo phương
trình hoá học. Để làm thành công bước này giáo viên phải có những biện
2
O
3
thu được khi nhiệt phân 321 gam Fe(OH)
3
?
Bài làm
Tìm số mol Fe(OH)
3
tham gia phản ứng:
n
3
( )Fe OH
=
3
3
( )
( )
Fe OH
Fe OH
m
M
=
321
107
=3(mol)
a)Lập phương trình hoá học:
2Fe(OH)
3
Fe O
=
3.1
2
=1,5(mol)
Tìm khối lượng Fe
2
O
3
thu được:
m
2 3
Fe O
=n
2 3
Fe O
.M
2 3
Fe O
=1.5.160=240( gam).
Sau đó giáo viên giới thiệu cho các em cách ra đề toán mới dựa vào phương
trình hoá học trên.
17
*Thay số liệu 321 gam Fe(OH)
3
bằng các số liệu khác để chọn được số liệu
phù hợp tính toán không bò lệch nhiều thì các em phải tính được
M
3
( )Fe OH
đem nhiệt phân.
*Với cách làm như vậy xung quanh một bài toán có phản ứng hoá học các
em có thể tự thay đổi số liệu, dữ kiện để ra được nhiều bài toán mới khác
nhau. Với phương pháp này giúp các em nắm rất vững về các dạng toán tính
theo phương trình hoá học. Ngoài ra giáo viên còn hướng dẫn cho các em làm
và ra những đề toán tính thành phần phần trăm các nguyên tố hoá học trong
hợp chất có hai hay nhiều nguyên tố.
Với những bước như trên cứ từng bài từng chương các kiến thức có liên quan
đến phương trình hoá học được bổ sung thêm những điều đã biết vào khối
kiến thức của mình và như vậy với mỗi phương trình hoá học lại gợi nhớ cho
các em những kiến thức đã được học và khám phá khai thác những kiến thức
mới, những bài toán mới.
Khi kết thúc chương IV: Hiđrô – Nước, giáo viên cùng học sinh thống nhất
lại những kiến thức có liên quan đến phương trình hoá học như sau:
*Những khái niệm, đònh nghóa, đònh luật cơ bản (như nguyên tố hoá học,
nguyên tử, phân tử, đơn chất, hợp chất, công thức hoá học, qui tắc hoá trò,
phản ứng hoá học, đònh luật bảo toàn khối lượng, phương trình hoá học . . .)
18
*Nắm được cách tính khối lượng mol, công thức chuyển đổi giữa khối lượng,
thể tích, lượng chất. Nắm được các bước tính theo công thức hoá học, tính
theo phương trình hoá học.
*Những kiến thức về hai chất oxi và hiđrô (tính chất lí học, tính chất hoá
học, ứng dụng, điều chế . . .)
*Các đònh nghóa về các phản ứng hoá học, phân huỷ, oxi hoá khử, phản ứng
thế. Nhận biết được các phản ứng trên từ phương trình hoá học.
*Các khái niệm về oxit, axit, bazơ, muối (như đònh nghóa, công thức, tên gọi .
. .)
19
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Qua cách phát triển tư duy học sinh đề tài về khai thác, mở rộng kiến thức
* Chất lượng học sinh đạt kết quả khả quan hơn năm học 2006-2007,80%
học sinh đạt trên trung bình, qua thăm dò thấy các em có kiến thức ,kó năng
học hoá tốt hơn, tỉ lệ học sinh yêu thích môn học cao hơn.
Khi thực hiện phương pháp phát triển tư duy học sinh thông qua việc khai
thác mở rộng kiến thức từ phương trình hoá học trong các giờ học chính khoá
hay tự chọn, tôi đã thấy các em không coi hoá học là môn khó nữa mà thấy
các em rất hứng thú với môn học.Với kết quả như vậy sau kì nghỉ hè các em
cứ phát huy được ý thức học tập như vậy kì thi khảo sát chất lượng bộ môn
hoá học ở đầu năm lớp 9 năm học 2008-2009 đạt được kết quả cao khoảng
80% học sinh đạt trung bình trở lên .Và đó là vốn kiến thức giúp các em học
tập tốt bộ môn hoá ở cấp THCS. Đây là hướng giải pháp của riêng bản thân
tôi nên không tránh khỏi những hạn chế. Vậy tôi rất kính mong q thầy cô,
đồng nghiệp có đóng góp ý kiến xây dựng để đề tài của tôi được vận dụng
vào thực tế có hiệu quả hơn, để rút kinh nghiệm giúp tôi càng vững vàng hơn
trong sự nghiệp trồng người.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
21
22