LỜI MỞ ĐẦU
Bất cứ một tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người
hay là nguồn nhân lực của nó. Đối với các doanh nghiệp thì con người chính là vốn
lớn nhất và quý giá nhất.
Cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường hiện nay thì vai trò
của nguồn nhân lực còn quan trọng hơn cả, nên các tổ chức muốn tồn tại và phát
triển cần phải cải tổ tổ chức của mình theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ và năng động.
Nhưng để có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh thì doanh
nghiệp cần phải duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức.
Ngay từ khi mới thành lập, Viễn Thông Lạng Sơn đã nhận thức được vai trò
to lớn của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và coi đây là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt quá trình hoạt động của công ty. Công ty đã
đề ra các chiến lược nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực để thực hiện được
mục tiêu của doanh nghiệp.
Sau một thời gian thực tập tại Viễn Thông Lạng Sơn, được sự quan tâm, giúp
đỡ chỉ bảo của các cô chú, anh chị trong công ty cùng sự hướng dẫn tận tình của cô
giáo – Th.s Nguyễn Thu Thủy, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công
tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viễn Thông Lạng Sơn” làm chuyên đề tốt nghiệp
cho mình.
Cấu trúc chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I : Khái quát về Viễn Thông Lạng Sơn
Chương II : Thực trạng công tác đào tạo nhân lực tại Viễn Thông Lạng Sơn
Chương III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nhân lực
tại Viễn Thông Lạng Sơn.
Với thời gian thực tập không nhiều, bản thân với kinh nghiệm và trình độ
còn rất nhiều hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên bài viết của em
không tránh khỏi có nhiều sai lầm và thiếu sót. Do vậy, em rất mong nhận được sự
đóng góp chân thành của thầy cô và bạn đọc để chuyên đề của em được hoàn thiện
hơn, vững chắc trong lí luận, thiết thực trong thực tiễn.
Em xin cảm ơn cô giáo – Th.s Nguyễn Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo và giúp đỡ em hoàn thiện chuyên đề này.
- Kinh doanh các dịch vụ viễn thông đường trục
- Kinh doanh các dịch vụ quảng cáo
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư, thiết bị viễn thông
công nghệ thông tin
- Tư vấn, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình viễn thông – công nghệ thông tin
- Cho thuê văn phòng.
Triết lý kinh doanh của công ty :
Giá trị mang tính Nhân văn: Giá trị tốt đẹp nhất mà Viễn thông Lạng Sơn
hướng tới là phục vụ khách hàng với chất lượng tốt nhất, mang lại lợi ích cho đối
tác, phát triển vì lợi ích của cộng đồng. Tất cả “Vì con người, hướng tới con người
và giữa những con người”.
Giá trị mang tính Kết nối: Viễn thông Lạng Sơn nỗ lực ứng dụng có hiệu quả
công nghệ Viễn thông và Công nghệ thông tin tiên tiến với đội ngũ cán bộ nhân
viên có trình độ cao để mang con người đến gần nhau hơn, vượt mọi không gian và
thời gian, cùng trải nghiệm chia sẻ Cảm xúc – Thành công – Tri thức.
Giá trị mang tính Việt Nam: Với truyền thống hơn 60 năm hình thành và
phát triển, với vai trò là nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông Tin học hàng đầu trên địa
bàn tỉnh, Viễn Thông Lạng Sơn tự hào và vinh dự luôn là người tiên phong sẵn sàng
đáp ứng mọi nhu cầu thông tin liên lạc của địa phương. Biến những giấc mơ nhỏ
thành hiện thực lớn, Viễn Thông Lạng Sơn đang nỗ lực không ngừng nhằm góp sức
cùng xã hội hướng đến một cuộc sống đích thực.
1.2. Cơ cấu tổ chức phòng ban
2.1.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Viễn Thông Lạng Sơn (VTLS) bao gồm : 8 phòng ban
chức năng (trong đó có 7 Phòng và 1 Ban) và 7 trung tâm trực thuộc.
Ban Giám Đốc công ty gồm có :
- Giám Đốc : ông Nguyễn Đình Văn
- Phó Giám Đốc : ông Nguyễn Văn Lý.
*Các đơn vị sản xuất :
- Trung tâm Viễn Thông 1
học
Phòng ban chức năng
Ban
triển
khai
dự án
Ban Giám Đốc
Phòng
Đầu
Tư
Phòng
Hành
Chính
Trung
tâm
điều
hành
viễn
thông
Phòng
Quản lý
Mạng -
dịch vụ
Phòng
Kế
Toán
Phòng
Kinh
Doanh
Trung
Phòng kinh doanh không có trưởng phòng và phó phòng mà chỉ có Quyền
trưởng phòng. Phòng kinh doanh có chức năng tham mưu, giúp GĐ quản lý và thừa
lệnh GĐ VTLS để tổ chức, điều hành quản lý xây dựng và triển khai kế hoạch sản
xuất kinh doanh, định mức kinh tế - kĩ thuật, mua sắm vật tư, ấn phẩm, thiết bị phục
vụ sản xuất kinh doanh.
2.1.2.3. Phòng kế toán
Phòng kế toán có chức năng, nhiệm vụ tham mưu, giúp GĐ quản lý, điều
hành và thừa lệnh GĐ điều hành toàn bộ công tác kế toán, thống kê, tài chính, hạch
toán kinh tế trong VTLS theo quy định của Luật kế toán, Luật thống kê, chuẩn mực
kế toán và các quy định hiện hành của Nhà nước, của Tập đoàn Bưu Chính – Viễn
Thông Việt Nam và VTLS.
2.1.2.4. Phòng quản lý mạng – dịch vụ
Phòng quản lý mạng – dịch vụ có Tổ 119 (nhận báo hỏng và điều hành xử lý
thuê bao). Tổ 119 có tổ trưởng phụ trách. Phòng quản lý mạng – dịch vụ có chức
năng tham mưu, giúp GĐ quản lý, điều hành và thừa lệnh GĐ VTLS điều hành
trong mọi lĩnh vực tổ chức – quản lý, khai thác, kinh doanh mạng lưới và các dịch
vụ Viễn Thông, tin học của VTLS.
2.1.2.5. Phòng đầu tư
Phòng Đầu tư – Xây dựng cơ bản (XDCB) không có trưởng phòng mà do
phó phòng phụ trách. Phòng đầu tư – XDCB có chức năng tổng hợp xây dựng quy
hoạch tổng thể, kế hoạch hàng năm về công tác đầu tư phát triển mạng lưới Viễn
Thông – Tin học; thẩm định đầu tư theo đúng thẩm quyền của GĐ VTLS; đánh giá
chất lượng và hiệu quả đầu tư.
2.1.2.6. Phòng hành chính
Phòng hành chính có trưởng phòng chịu trách nhiệm trước GĐ VTLS về kết
quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ làm việc. Phòng có
chức năng, nhiệm vụ tham mưu, giúp GĐ VTLS quản lý, điều hành và thừa lệnh
GĐ VTLS điều hành công tác thuộc lĩnh vực hành chính, quản trị, y tế cơ quan.
2.1.2.7. Trung tâm điều hành Viễn thông
Trung tâm điều hành Viễn Thông là đơn vị trực thuộc VTLS, có trưởng trung
Vốn đầu tư của công ty chủ yếu huy động từ nguồn Quỹ đầu tư phát triển tại
đơn vị và vốn khấu hao tài sản cố định.
Nhìn chung trong giai đoạn từ 2006 – 2010 vốn đầu tư của VTLS giảm đi
qua các năm. Năm 2010 tổng vốn đầu tư giảm 41% so với năm 2006. Đó là do
những năm đầu công ty cần sử dụng Quỹ đầu tư vào việc xây dựng mới thêm cơ sở
hạ tầng, mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng cũ (VD : mở rộng tổng đài VKX –
19840), lắp đặt các trang thiết bị hiện đại để phục vụ công tác an ninh – bảo vệ
trong công ty (VD : thiết bị lọc vân tay). Do đó khi cơ sở hạ tầng và các trang thiết
bị đã hoàn thiện từ năm trước thì năm sau công ty không cần phải chi nhiều vốn đầu
tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng thêm nữa.
VTLS sử dụng vốn đầu tư chủ yếu vào xây mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đầu năm 2010 VTLS đã triển khai 2 dự án xây
dựng nhà Viễn Thông Tràng Định (đang hoàn thiện) và nhà Viễn Thông Đình Lập
(đang chuẩn bị đổ sàn tầng 2); đã mua 2 xe bán tải phục vụ công tác điều hành sản
xuất kinh doanh.
VTLS đầu tư cho các dự án mạng MAN-E là 6,454 tỷ đồng. Hiện nay đã thi
công xong và nghiệm thu các tuyến Hữu Lũng – Vân Nham, chuẩn bị nghiệm thu
cho các tuyến Hữu Lũng – TP Lạng Sơn – Tràng Định và TP Lạng Sơn – Đình Lập.
Các dự án băng rộng, ADSL, FTTX có tổng vốn phân cấp là 11,76 tỷ đồng.
VTLS đã nghiệm thu xong dự án 15 trạm MSAL thuộc các huyện, mua 6 bộ Switch L2
và thiết bị CPE. Ngoài ra VTLS còn cho xây dựng mạng ngoại vi cho các trạm MSAN.
Công ty đã sử dụng vốn đầu tư vào các công trình như đầu tư cáp quang đến
50% các xã trong tỉnh, đầu tư cáp gốc, kéo cáp ngọn đến các điểm dân cư, bổ sung số
tổng đài phục vụ kịp thời cho việc phát triển dịch vụ điện thoại cố định và mạng
ADSL.
Bảng 1.2. Số lượng gói thầu Viễn Thông Lạng Sơn đạt được trong
giai đoạn 2007-2010
Năm 2007 2008 2009 2010
Đấu thầu rộng rãi 01 gói thầu 02 gói thầu 05 gói thầu 6 gói thầu
Chỉ định thầu 46 gói thầu 52 gói thầu 117 gói thầu 122 gói thầu
(VNĐ)
14.648.238.030
(VNĐ)
(Nguồn : Phòng đầu tư)
Có thể đánh giá tình hình hoạt động đầu tư tại Viễn Thông Lạng Sơn ngày
càng được chú trọng hơn qua các năm. Cụ thể là sau 4 năm tổng giá trị gói thầu phê
duyệt trước thuế VAT đã tăng hơn 52 tỉ đồng, tăng gần 300% so với năm 2007,
tổng giá trị trúng thầu trước thuế VAT đã tăng 39,102 tỉ đồng, tăng gần 240% so
với năm 2007
1.3.1.2. Doanh thu hoạt động kinh doanh của Viễn Thông Lạng Sơn
Dưới đây là bảng doanh thu hoạt động kinh doanh của Viễn Thông Lạng Sơn
giai đoạn 2007 – 2010 :
Bảng 1.3. Doanh thu của VTLS
(Đơn vị :tỷ VNĐ)
Năm 2007 2008 2009 2010
Doanh thu dịch vụ cố định 45,289 46,119 42,143 32,235
Doanh thu dịch vụ Gphone 0 3,656 17,213 18,049
Doanh thu dịch vụ di động trả sau 16,378 25,340 45,628 77,567
Doanh thu dịch vụ Internet 9,283 10,013 15,022 14,014
Doanh thu các dịch vụ khác 6,012 6,197 5,427 5,823
Doanh thu VTCI 9,123 11,991 13,324 16,291
Doanh thu cước kết nối 0,532 0,656 5,084 6,091
Tổng 86,617 103,316 143,841 170,070
Nhìn chung doanh thu hàng năm của VTLS tăng qua các năm trong giai đoạn
2007 – 2010. Đó là do những hiệu quả trong hoạt động xúc tiến bán hàng, phát triển
thuê bao điện thoại, mở rộng thị trường. Tuy nhiên doanh thu tăng không đồng đều
đối với mỗi sản phẩm dịch vụ của công ty. Mảng dịch vụ cố định năm 2010 có
doanh thu bị giảm đi 28,82% so với năm 2007 do nhu cầu sử dụng điện thoại cố
định tại các gia đình giảm đi, chỉ lưu động thị trường điện thoại cố định chủ yếu
trong các cơ quan, phân xưởng. Tuy nhiên doanh thu dịch vụ di động trả sau năm
năng suất lao động có ý nghĩa quyết định sự sống còn và phát triển của công ty nên
công ty luôn đề cao thúc đẩy tinh thần hăng hái làm việc bằng những yếu tố tác
động đến tinh thần của CBCNV do vậy năng suất lao động của công ty có chiều
hướng tăng lên rõ rệt như hình sau :
Hình 1.2. Biểu đồ năng suất lao động giai đoạn 2007-2010
(Đơn vị : triệu VNĐ)
Trong quá trình phát triển từ năm 2007 đến năm 2010, năng suất lao động
của VTLS đã tăng gấp hơn 2 lần từ 208,716 triệu đồng năm 2007 đến 458,409 triệu
đồng năm 2010. Như vậy trong 4 năm thì VTLS đã có những dấu hiệu rất khả thi,
đánh giá được khả năng sản xuất của người lao động đã tăng lên nhanh chóng, với
hiệu suất tăng hơn 2 lần và năng suất lao động tăng lên 249,693 triệu đồng/người.
Tuy tỉ lệ phần trăm tăng là cao nhưng so với các doanh nghiệp Viễn Thông trong
nước khác thì mức tăng năng suất lao động của VTLS vẫn trong diện trung bình và
cần có những biện pháp để tăng cao hơn nữa.
1.3.2. Đánh giá các kết quả hoạt động khác
1.3.2.1. Các hoạt động xã hội
Ngay từ những năm đầu hoạt động VTLS luôn trú trọng đến công tác từ
thiện, tham gia nhiệt tình các hoạt động xã hội của tỉnh :
- Viễn Thông Lạng Sơn luôn tổ chức hoạt động quyên góp, từ thiện hàng
năm qua các cuộc vận động của Nhà nước cũng như của địa phương. Trong năm
2010 công ty đã ủng hộ cho các phong trào từ thiện của Tỉnh Lạng Sơn là 103,1
triệu đồng; ủng hộ vào các chương trình phát động của Công đoàn Bưu điện Việt
Nam là 38,5 triệu đồng.
- VTLS tổ chức công tác thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách, cán bộ
hưu trí và thăm hỏi cán bộ công nhân viên (CBCNV) khi có việc hiếu hỷ với sự
tham gia nhiệt tình của Ban lãnh đạo, CBCNV. Trong năm công ty thực hiện trợ cấp
cho CBCNV đang công tác 16 triệu đồng, tổ chức gặp mặt, tặng quà cho cán bộ hưu
trí nhân dịp ngày truyền thống Ngành với số tiền 19 triệu đồng.
- VTLS luôn quan tâm, chăm sóc và thực hiện tốt các chế độ chính sách đối
đề, với các chỉ tiêu thi đua cụ thể, thiết thực như các phong trào “Lao động giỏi, lao
động sáng tạp”, “Đóng góp nhỏ, hiệu quả lớn”, thi đua “Chăm sóc khách hàng”,
phong trào “Cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất”…., phong trào “Văn minh người
Bưu điện”…; Triển khai xây dựng các chương trình khuyễn mãi cước Vinaphone,
MegaVNN chào hè…; Phối hợp triển khai ký kết hợp tác với các Sở, bạn, ngành
trong tỉnh đạt kết quả tốt. Các phong trào thi đua đã trở thành “Công việc hàng
ngày” trong toàn đơn vị và là những biện pháp giúp đơn vị hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao.
1.4. Các đặc điểm kinh tế kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến công tác đào tạo
nhân lực tại Viễn Thông Lạng Sơn
1.4.1. Ngành nghề kinh doanh của Viễn Thông Lạng Sơn
VTLS đảm nhận cung cấp các dịch vụ Viễn Thông và Công nghệ thông tin
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Một số dịch vụ chính của VTLS như :
- Dịch vụ điện thoại cố định và các dịch vụ gia tăng trên mạng cố định
- Dịch vụ điện thoại di động VinaPhone, điện thoại cố định không dây
Gphone.
- Dịch vụ thuê kênh riêng, truyền số liệu
- Dịch vụ Interner VNN (1260, 1268, 1269, Mega VNN)
- Các sản phẩm và dịch vụ tin học, giải pháp tích hợp
- Cá dịch vụ tư vấn, thiết kế, thực hiện và bảo trì chuyên ngành Viễn thông
Tin học.
Với chức năng thực hiện các nhiệm vụ như: tổ chức, quản lý kinh doanh,
cung cấp các dịch vụ viễn thông, dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ truyền thông,
dịch vụ quảng cáo, dịch vụ giá trị gia tăng, dịch vụ tư vấn chăm sóc khách hàng…
Có thể thấy Viễn Thông là một ngành nghề trong đó có nhiều những hoạt động
phức tạp đan xen và có liên quan mật thiết đến nhau, đòi hỏi nhiều yêu cầu về trình
độ chuyên môn. Đối với mỗi vị trí công việc khác nhau thì VTLS cũng đặt ra những
yêu cầu kiến thức khác nhau. Cụ thể là:
Đối với cán bộ cấp cao trong công ty cần có những yêu cầu kiến thức về
những mặt sau :
các bờ sông suối, sườn đồi và núi; Về phát triển kinh tế gồm thương mại, du lịch
nhưng chủ yếu là nông-lâm nghiệp, vì vậy trình độ chuyên môn kỹ thuật của người
dân trong tỉnh còn yếu kém. Tuy nhiên số lao động trong tỉnh làm việc trong công
ty chiếm tỉ lệ khá cao, do vậy công ty cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
và chuyên môn của CBCNV.
Những năm gần đây tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
toàn cầu tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu, tác động tiêu cực đến tất cả các
lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực Viễn Thông – Công Nghệ Thông Tin (VT-CNTT),
đã làm giảm nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân, ảnh hưởng đến việc đầu tư
trang thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình SXKD…do đó kinh doanh tại
thị trường Lạng Sơn càng ngày càng khó khăn.
Kinh doanh VT-CNTT tại Lạng Sơn có cường độ cạnh tranh ngày càng gay
gắt và khốc liệt do có nhiều doanh nghiệp khác tham gia vào ngành nghề này, thị
phần bị chia sẻ như Mobiphone, Viettel, Điện lực, Beeline Do vậy để có thể tồn
tai vững chãi và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh này thì VTLS cần phải tập
trung nguồn lực vào công tác đào tạo và phát triển nhân lực nhằm nâng cao khả
năng và trình độ nghề nghiệp của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có
hiệu quả cao nhất.
1.4.3. Khách hàng
Có thể thấy đối thủ cạnh tranh của VNPT Lạng Sơn là những đối thủ cạnh
tranh lớn và rất đáng ghờm như Mobiphone, Viettel, Viễn Thông Điện Lực, ngoài
ra còn có những đối thủ khác như Beeline, HP, Sfone….Do đó khách hàng sẽ có rất
nhiều sự lựa chọn, điều này khiến cho sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng dịch vụ
Viễn Thông tại Lạng Sơn khá gay gắt. Tuy nhu cầu về thuê bao di động ở Lạng Sơn
ngày càng tăng nhưng thực tế sẽ bão hòa trong vài năm tới, do đó việc mở rộng thị
phần sẽ rất khó khăn. Vì vậy để có thể cạnh tranh được với các đối thủ của mình,
VNPT Lạng Sơn cần phải có những chính sách chăm sóc khách hàng tốt để giữ
chân được những khách hàng trung thành, lâu năm.
Để làm được điều này VTLS cần phải có một đội ngũ CBCNV thạo chuyên
môn nghiệp vụ, hiểu tâm lí và thị hiếu khách hàng để có thể chăm sóc khách hàng
thực hiện công việc cho từng CBCNV.
Tại mỗi một đơn vị trực thuộc, người quản lý theo dõi tiến độ thực hiện công
việc của các cán bộ ở đơn vị mình. Mỗi tháng, quý, phòng Hành chính xây dựng
bản báo cáo tình hình hoạt động của các phòng ban, đơn vị cùng với thành tích và
những sai sót trong khi làm việc của các cá nhân trong phòng để có biện pháp
thưởng phạt thích hợp. Cuối năm, các đơn vị trực thuộc, các phòng ban thực hiện
đánh giá, xếp loại CBCNV và kiến nghị lên ban lãnh đạo để khen- phạt hợp lý. Cuối
năm Ban lãnh đạo công ty cũng thực hiện quy hoạch cán bộ. Sự công bằng, khách
quan trong công tác đánh giá của người quản lý đã góp phần thiết lập trật tự, kỉ
cương, đảm bảo thực hiện quy chế, tạo ra phong cách làm việc nghiêm túc, phát
triển văn hóa công ty và góp phần vào hiệu quả chung của công ty.
Thực tế cho thấy công tác đánh giá thực hiện công việc nếu được tiến hành
thường xuyên và công bằng sẽ đem lại những thuận lợi cho công tác đào tạo nhân
lực như sau:
- Kết quả đánh giá sự thực hiện công việc cho thấy hiệu quả làm việc của
mỗi cán bộ, ai làm tốt, ai làm chưa tốt và chưa tốt ở điểm nào, từ đó công ty có kế
hoạch đào tạo với những cán bộ chưa làm tốt nhiệm vụ để đào tạo có chọn lọc và
tránh lãng phí trong đào tạo.
- Việc đánh giá công khai, công bằng đã tạo ra sự cạnh tranh ngầm trong
nội bộ nhân viên, giúp CBCNV trong công ty có động lực phấn đấu trong công
việc, do đó tinh thần tích cực tham gia các chương trình đào tạo để tìm được cơ hội
thăng tiến cho bản thân.
1.4.6. Cơ sở đào tạo
Với mỗi một chương trình đào tạo cụ thể thì VTLS lại tổ chức đào tạo và bồi
dưỡng tại những cơ sở đào tạo khác nhau. Thông thường với các lớp đào tạo dành
cho người lao động mới hoặc đào tạo kiến thức cơ bản thì được mở ngay tại các
phòng họp trong công ty, họ sẽ học được các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công
việc trước mắt và công việc tương lai thông qua người phát ngôn của công ty. Chi
phí đào tạo ngay tại cơ sở trong công ty là thấp, bố trí tổ chức đơn giản, có thể tiết
kiệm được phần nào chi phí cho công tác đào tạo do giảng viên thường là cán bộ
thông Vận tải TPHCM, Học viện Bưu chính Viễn Thông….
Sinh viên tại các trường nêu trên sẽ được học những kiến thức chuyên ngành có
liên quan đến Điện tử - Viễn thông, ngoài ra còn học các kiến thức cơ bản về Tin học,
Điện tử, Viễn Thông (Kỹ thuật video truyền hình, Xử lý số tín hiệu, Thông tin số) do
đó tạo thuận lợi cho các phương pháp và hình thức đào tạo sau này của công ty.
Trên thực tế VTLS liên kết chặt chẽ nhiều hơn cả với Học viện công nghệ
Bưu Chính Viễn Thông cơ sở phía Bắc. Trường vừa là cơ sở đào tạo cho CBCNV
của VTLS, lại vừa là nguồn cung cấp lao động mới có chất lượng, uy tín cho VTLS.
Với chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao hiện nay VTLS sẽ có một nguồn cung
nhân lực uy tín và chất lượng cao.
(Phụ lục 1 : Chỉ tiêu tuyển sinh của Học viện công nghệ Bưu Chính Viễn
Thông năm 2011)
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CỦA
VIỄN THÔNG LẠNG SƠN
2.1. Đặc điểm lao động tại Viễn Thông Lạng Sơn
2.1.1. Quy mô nhân lực
Quy mô nhân lực tại VTLS nhìn chung giảm đi qua các năm trong giai đoạn
2007-2010.
Năm 2008 số lao động tại VTLS là 416 người, giảm đi 4 người so với năm
2007, tương ứng là giảm 0,95%. Đến năm 2009 số lao động chỉ còn 374, giảm đi 42
người so với năm 2008, tương ứng là 10,1%, đây là năm thứ 2 sau khi chia tách
giữa Viễn Thông và Bưu Chính Lạng Sơn, bộ máy quản lý đã dần hoàn thiện và
công ty đã có chính sách tinh giảm nhân lực. Năm 2010 có 371 người, giảm đi 3
người so với năm 2009, tương ứng là giảm 0,8% so với năm 2009.
Bảng 2.1. Quy mô nguồn nhân lực của Viễn Thông Lạng Sơn trong
giai đoạn 2007 -2010
cũng khác nhau.
VTLS cần phải phân tích sự chênh lệch này để có những phương pháp đào tạo
cho đúng đắn, bởi mỗi giới tính lại có tâm sinh lý khác nhau, cách tiếp cận vấn đề khác
nhau. Mỗi một độ tuổi lại có bề dày kinh nghiệm và nhận thức, lối sống khác nhau. Đặc
điểm cụ thể về cơ cấu nhân lực tại VTLS được thể hiện thông qua bảng sau :
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động theo giới tính của Viễn Thông Lạng Sơn
giai đoạn 2007 – 2010
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số lượng
(người)
Tỉ trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỉ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỉ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỉ
trọng
Dưới 30 30-45 45-55 56-65
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỷ
trọng
(%)
2007 95 22,62 120 28,57 110 26,19 95 22,62
2008 96 23,08 122 29,33 108 25,96 90 21,63
2009 86 23,00 125 33,42 95 25,40 68 18,18
2010 90 24,26 130 35,04 92 24,80 59 15,90
(Nguồn : Phòng Tổ chức)
và tăng lên qua các năm. Năm 2007 số cán bộ có trình độ ngoại ngữ là 202 người
chiếm tỉ lệ 48,09% lao động công ty. Năm 2008 đã tăng lên đến 232 người chiếm tỉ
lệ 55,77%. Đến năm 2009 vẫn tiếp tục tăng lên đến 241 người và chiếm tỉ lệ
64,44% số lao động công ty. Năm 2010 tăng lên đến 282 người và chiếm tỉ lệ lên
đến 76,01%. Đây là kết quả đáng mừng đối với chất lượng nhân lực tại VTLS, do
công ty đã có chiến lược ngay từ khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo bồi dưỡng
nguồn nhân lực.
Cơ cấu lao động theo trình độ tại Viễn Thông Lạng Sơn được thể hiện qua
bảng sau :
Bảng 2.5. Cơ cấu lao động theo trình độ tại Viễn Thông Lạng Sơn
giai đoạn 2007-2010
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số
lượng
(người)
Tỉ trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỉ
trọng
(%)
Số
lượng
(người)
Tỉ
trọng
(%)
của cán bộ công nhân viên như kiến thức tin học, Anh văn, chính trị pháp lý. Do đó
ngay trong khâu tuyển dụng, VTLS đã đưa ra những yêu cầu ban đầu về kiến thức
ngoài ngành này cho ứng viên thông qua chứng chỉ, giấy tờ ghi nhận, bằng cấp. Với
từng vị trí sẽ có những mức độ yêu cầu khác nhau.
(Phụ lục 2 : Trình độ nguồn nhân lực của Viễn Thông Lạng Sơn trong
năm 2010)
Thông qua những phân tích cụ thể trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ
bản của nguồn nhân lực tại VTLS như sau:
• Quy mô nhân lực có xu hướng giảm đi theo các năm do yêu cầu công
việc. Số lượng nhân viên trong công ty giảm xuống cũng tạo điều kiện cho công ty
dễ dàng giám sát công tác đào tạo nhân lực hơn.
• Chất lượng lao động được cải thiện và nâng cao về trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cùng với các kỹ năng bổ trợ khác như ngoại ngữ và Tin học. Điều này có
tác động lớn đến việc đào tạo nhân lực bởi chất lượng lao động tăng lên đồng nghĩa
với việc hiệu quả đào tạo nhân lực sẽ tăng lên.
• Số lượng cán bộ có trình độ Thạc sĩ, đại học và cao đẳng tăng dần qua
các năm và có tỷ lệ tương đối cao. Đây là một dấu hiệu tốt, là cơ sở cho công ty
phát triển các hình thức, phương pháp cũng như các chương trình đào tạo tiên tiến,
làm tiền đề cho công tác đào tạo diễn ra hiệu quả.
• Mặc dù vậy, cơ cấu nguồn nhân lực của VTLS vẫn còn một số vấn đề cần
quan tâm : tỷ lệ nhân viên nữ trong công ty khá thấp (chỉ bằng 1/3 nhân viên nam),
tỷ lệ người lao động cao tuổi vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn (gần 16%) … Điều này sẽ ảnh
hưởng đến công tác đào tạo của công ty do giới tính nam và nữ có tâm sinh lý khác
nhau, sẽ cần có những cách tiếp cận đào tạo khác nhau. Và những người lao động
cao tuổi thường có độ ì trong công việc, độ sáng tạo và thích ứng với những điều
kiện thay đổi nhanh chóng của môi trường thấp nên cũng sẽ có những ảnh hưởng
nhất định đối với công tác đào tạo nói chung.
Như vậy có thể đúc kết được rằng VTLS đã xây dựng cho mình một đội ngũ
nhân viên vững mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. VTLS không ngừng đào tạo
nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của CBCNV. Điều này sẽ giúp VTLS ngày càng
(%)
2007 10 2,38 185 44,05 225 53,57
2008 12 2,88 174 41,84 230 55,28
2009 14 3,74 138 36,90 222 59,36
2010 16 4,31 110 29,65 245 66,04
(Nguồn : Phòng tổ chức)
Dựa vào bảng tổng kết mức lương cơ bản của CBCNV tại Viễn Thông Lạng
Sơn có thể thấy số lượng CBCNV có mức thu nhập trên 5 triệu đồng tăng lên mỗi
năm. Năm 2007 số lượng cán bộ có mức lương trên 5 triệu đồng là 10 người chiếm
tỷ trọng 2,38% thì đến năm 2010 số lượng này đã tăng lên 6 người đạt 16 cán bộ,
chiếm tỷ trọng 4,31%. Tuy nhiên lượng lao động có mức thu nhập trung bình từ 3
triệu đồng đến 5 triệu đồng lại giảm xuống do có sự giản lược nhân viên từ năm
2008. Năm 2007 số lượng cán bộ có mức lương từ 3 triệu – 5 triệu đồng là 185
người chiếm tỷ trọng 44,05%, đến năm 2010 số lượng này đã giảm đi 75 người, chỉ
còn 110 người chiếm tỷ trọng 29,65%. Cán bộ có mức lương cơ bản dưới 3 triệu
đồng đã tăng lên. Năm 2007 số cán bộ có mức lương dưới 3 triệu đồng là 225 người
chiếm tỷ trọng 53,57%, đến năm 2010 số lượng này đã tăng lên 20 người đạt 245
người chiếm tỷ trọng 66,04%.
Tuy vậy có thể thấy với mức lương cơ bản như trên thì đã đáp ứng được khá
đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của CBCNV tại VTLS bởi tỉnh Lạng Sơn có giá tiêu dùng
ở mức trung bình. Đến năm 2011 với chính sách tăng mức lương tối thiểu của nhà