đạo đức kinh doanh xưa và nay - Pdf 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Khái niệm đạo đức kinh doanh
Trước khi là doanh nhân, mọi doanh nhân đều phải là một người bình
thường. Vậy câu hỏi trên sẽ được đặt ra cho một người bình thường trước rồi sẽ áp
vào doanh nhân. Một người bình thường muốn có tiền phải thu phục được niềm tin
của người khác để được giao tiền. Sau đó họ phải có uy tín để bảo đảm là sẽ trả lại
tiền cho người ta theo nguyên tắc “tiền trả cao hơn tiền nhận”, hay “trả cả gốc lẫn
lãi”.Doanh nhân khác với người thường ở chỗ là người có tài chứ còn để có tiền họ
không thể làm khác. Vậy họ cũng phải làm gì đó để thu phục niềm tin của người
khác và để có uy tín? Đó là một con đường họ phải theo khi hành xử công việc. Đó
là “Đạo kinh doanh”.
Người Do Thái cư xử với nhau theo 10 Điều Răn và doanh nhân của họ có
Đạo kinh doanh. Doanh nhân phải có một số đức tính căn bản như người thường để
thu phục niềm tin của người khác và để bảo đảm cho sự cam kết của họ.
Đối với các dân tộc khác không phải là người Do Thái, thì sách vở từ ngàn
xưa đã chỉ, các tôn giáo đã khuyến khích, có một số đức tính căn bản cho họ. Đó là:
sự chăm chỉ, trung thực, biết điều và không tham lam. Do giới hạn ở đây ta không
bàn về mỗi đức tính mà chỉ nhìn nhận chúng là những đức tính căn bản, sẽ giúp mở
rộng ra các đức tính khác; giống như ba màu căn bản tạo nên bảy màu rồi 256 màu
sắc khác nhau trong… máy vi tính.
Bốn đức tính này là căn bản của một con người bình thường và chúng cũng
áp dụng cho doanh nhân. Riêng doanh nhân cần do có nhiều người dưới quyền thì
phải thêm hai đức tính nữa là tính sòng phẳng và lòng biết ơn. Cộng sáu đức tính
đó lại với tài kinh doanh thì sẽ có một doanh nhân xuất hiện. Và người này sẽ có
nhiều tiền, hay nhiều tiền sẽ đến với họ.
Vậy “Đạo kinh doanh” phải có trong nó sáu đức tính căn bản kia. Chúng là
đức tính cốt lõi. Khi tài ba của doanh nhân giúp họ nhận ra cơ hội, tính mão để xác
1
định lời lãi rồi quyết định thực hiện thì sáu đức tính cốt lõi sẽ hướng dẫn họ hành
động.
Khi được hướng dẫn bởi các đức tính đó, doanh nhân sẽ giữ được chữ tín

phải là ngược lại. Đa số thành viên của xã hội phải có những đức tính tốt căn bản
của “một người thường” để họ làm gương, làm mẫu mực, và là áp lực cho doanh
nhân phải làm theo, khi tài ba của họ hé mở rồi nở rộ.
“Đạo kinh doanh” là cách thức mà các doanh nhân cư xử với nhau và cho
những ai có quyền lợi liên quan (stakeholders) với họ, nghĩa là trong giới của họ.
Xã hội còn có những người khác với những nghề nghiệp khác mà không giống
doanh nhân. Họ không có những tài ba như của doanh nhân nên không cần phải có
“Đạo kinh doanh”; họ có những đạo khác; nhưng sở dĩ họ giao tiếp được với doanh
nhân vì cả hai có những đức tính cơ bản ít nhiều giống nhau.
Thực ra, khi vứt bỏ nghề nghiệp của mình đi thì tất cả đều là “một người
bình thường”. Một điều cũng rất quan trọng là khi doanh nhân có “Đạo” thì xã hội
phải đáp ứng lại; kẻo cái “Đạo” của doanh nhân khiến họ bị lừa lọc! Cuộc sống là
một sự tương tác vĩnh cửu. Đây là một sự thật hiển nhiên giống như nhân dân anh
hùng tạo nên quân đội anh hùng.
Ngoài ra, khi đang thiếu như thế thì không nên nhấn mạnh quá nhiều đến yếu
tố Việt Nam của “Đạo kinh doanh”. Anh có cái gì? Yếu tố đó có thể chỉ là một liều
lượng ít hay nhiều của các đức tính cốt lõi kia và cách thức biểu lộ; nhưng không
thể bảo: “Ở Việt Nam tôi là không có loại đức tính đó”. Liệu chúng ta có thể giao
dịch với nhau lâu khi mà một bên không biết điều chăng? Vậy biết điều là đủ, cần
gì phải Việt Nam?
Do vậy, “Đạo kinh doanh” phải được hun đúc từ những đức tính căn bản tồn
tại trong đa số thành viên của xã hội. Doanh nhân xuất phát từ xã hội rồi dùng sự
3
thành công của mình để giải quyết những vấn đề xã hội và làm cho cuộc sống trở
nên tốt đẹp hơn. Việc ấy giống như nhân dân anh hùng sản sinh ra quân đội anh
hùng và đất nước bình an. Không có chiều ngược lại.
4
CHƯƠNG 2: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH XƯA VÀ NAY
1. Nhìn lại phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục
a. Đỉnh cao của phong trào duy tân

Những cuộc
bàn bạc đầu tiên
cho sự ra đời của
Đông Kinh Nghĩa
Thục bắt đầu từ
năm 1906 tại nhà ông Lương Văn Can, số 4, phố Hàng Đào, Hà Nội. Chính ra đó là
những cuộc luận bàn “quốc sự”. Trong những cuộc luận bàn ấy, Phan Châu Trinh
có kể khá cặn kẽ về hoạt động của Kháng Ứng Nghĩa Thục, nơi đào tạo các nhà
tiền bối duy tân của Nhật, mà ông có dịp khảo sát tường tận trong thời gian ba, bốn
tháng qua Nhật.
Hôm quyết định thành lập, cũng tại số 4 Hàng Đào có mặt các ông Lương
Văn Can, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học…
nhưng lại vắng mặt Tăng Bạt Hổ và Phan Châu Trinh. Người cao tuổi hơn cả là
Lương Văn Can được các đồng chí nhất trí tôn làm thục trưởng.
Về tài chánh, hội viên
tự ý góp bao nhiêu cũng được
và quyên thêm ở những chỗ
quen, hảo tâm. Tiền - thục
trưởng quản chi, nhưng sổ
6
Phố Hàng Đào thời Đông Kinh Nghĩa Thục.
sách do Nguyễn Quyền giữ. Dự kiến sẽ lập một trường tại Hà thành, sau đó sẽ phát
triển ra các tỉnh. Đến khi chọn địa điểm, do tài chánh còn eo hẹp, Lương Văn Can
đề nghị lấy nhà mình làm cơ sở ban đầu, vì nhà có một cái gác tẩu mã
(1)
, chứa được
vài trăm học sinh, mặc dù dưới đất đang là cửa hàng kinh doanh tơ lụa của vợ ông.
Dự kiến khi học sinh đông hơn, sẽ mướn thêm nhà số 10 ở bên cạnh. Nhà này còn
rộng hơn nhà ông Can, vốn là của ông Hương cống Sùng, một phú gia bậc nhất đất
Hà thành hồi trước, giờ đã bán lại cho ông Phạm Lẫm và đang rất trống vì ông Lẫm

Những tấm lòng vàng :Theo Nguyễn Hiến Lê, những nhà quyên tiền nhiều
nhất là hiệu kim hoàn Thế Xuân ở Hàng Bạc và hiệu hàng tấm (tơ lụa) Phúc Lợi ở
Hàng Ngang. Hồi mới phát động, dân khí đang lên, ai nghe nói giới cựu học và tân
học bắt tay nhau mở mang dân trí, chấn hưng đất nước cũng hăm hở kẻ góp công
người góp của. Nhưng việc chi tiêu cho Đông Kinh Nghĩa Thục đâu phải nhỏ mà
chỉ dựa vào lòng hảo tâm, thành ra không bao
lâu, việc tiền bạc trở thành gánh nặng to lớn. Chỉ
sau nửa năm hoạt động, bà Lương Văn Can phải bán đi hiệu buôn như phần trên đã
nói.

Đưa môn kinh tế vào trường: Điều này chính Phan Châu Trinh cũng đã
tiên lượng, khi bàn đến việc quyên tiền, ông có nói: “Chúng ta có cái dũng khí độc
lập cả ngàn năm rồi, trăm lần bẻ mà không gãy. Tôi có dịp chu du các nơi, những
người hưởng ứng có tới số ngàn, chỉ tiếc một điều, người có hằng sản thì không có
hằng tâm, người có hằng tâm thì hầu hết là bần sĩ, mỗi khi nghĩ tới việc đó, tôi
thường thở dài, biết làm sao đây?”. Trước đó, chính Phan Châu Trinh cũng là
người đầu tiên nêu gương chấn hưng thực nghiệp khi cho khai trương Quảng Nam
8
Lương Văn Can
thương hội, mở xưởng dệt rồi may cho mình một bộ Âu phục bằng chính thứ vải tự
dệt ấy.
Cho nên mở mang công thương nghiệp lúc đó là vấn đề cấp bách, trước mắt
là kiếm tiền trang trải cho Đông Kinh Nghĩa Thục và ủng hộ các học sinh Đông du.
Về lâu dài, nó là nền tảng của toàn bộ công cuộc duy tân đất nước.
Những chủ trương phát triển công thương, kỹ nghệ này trước hết được đưa
vào trong chương trình học của nhà trường. Sách Quốc dân độc bản, một tài liệu
giáo khoa quan trọng của trường, có 79 bài thì có tới 24 bài (từ bài 56 đến bài 79)
đề cập trực tiếp đến các vấn đề thuộc về
kinh tế, kỹ nghệ. Cho đến nay chưa biết
được các soạn giả đã tham khảo các

Hàng Bồ cũng mở vào lúc ấy. Phong
trào từ đó lan ra các tỉnh. Ông Tùng Hương mở hiệu Phúc Lợi Tế ở Phúc Yên và
Hưng Lợi Tế ở Hưng Yên. Ở Việt Trì, ông Nguyễn Trác mở hiệu Sơn Thọ. Hai
hiệu Sơn Thọ và Đông Thành Xương có vốn lớn nhất, trang hoàng đẹp, bán nhiều
đồ nội hoá như quạt lông, đồ tre đan Đại Đồng Sơn, khai trúc Nghệ An, giày Kinh,
lãnh Bưởi, lãnh Sài Gòn…
Lập đồn điền, khai mỏ : Nghĩa Thục còn khuyến khích đồng chí lập đồn
điền để khuếch trương nông nghiệp. Ông Bùi Đình Tá cùng hùn vốn với người bạn
là Phan Tứ, khai phá một đồn điền ở Mỹ Đức, gần chùa Hương. Ông Tá là dân Tây
học, đỗ đạt, được bổ thông ngôn rồi thăng tham tá. Chẳng những là người nhiệt tâm
dạy giúp Nghĩa Thục từ khi mới mở, ông còn là người lập ra một cô nhi viện đầu
tiên ở Việt Nam. Việc ông mở đồn điền ở Mỹ Đức là để có phương tiện nuôi trẻ mồ
côi. Trên Yên Bái còn có một đồn điền được khai phá ở Yên Lập, rộng 50 mẫu,
khai rừng đốt than và trồng ngô, lúa. Vì đây là vùng rừng âm, nước độc, nhân công
từ xuôi lên lần lượt ngã bệnh, rồi cũng phải bỏ dở.
Một việc ít ai biết là những người trong Nghĩa Thục còn có nhiều chuyến sục
sạo trên vùng thượng du Bắc Việt và đã tìm được một số mỏ như than, chì, kẽm,
10
Phố Hàng Gai nơi ông Hoàng Tăng Bí mở xưởng dệt,
chế biến các loại trà
lưu huỳnh… Một đoạn ghi chép của Nguyễn Hiến Lê: “Các cụ lên miền rừng núi,
hỏi dò thổ dân, thấy chỗ nào nghi có quặng là đem về ít cục đá, đất, giao cho phòng
thí nghiệm phân tích sau khi đóng tiền 5 đồng mỗi lần. Nếu phòng thí nghiệm bảo
là có quặng, các cụ đóng thêm tiền, đón kỹ sư đến tận nơi xem xét, sau cùng mướn
người cắm mốc bốn bên, vẽ bản đồ xin đóng thuế khai mỏ”.
Nói chung, giới nho sĩ chủ trương đều thiếu kinh nghiệm quản trị, thiếu vốn,
thiết bị kỹ thuật nên các công trình chỉ để lại tiếng vang, kích thích lòng yêu nước
là chính. Tuy nhiên, các cơ sở kinh tế nói trên còn là nơi gặp gỡ thuận tiện để họ
bàn bạc chuyện khác, quan trọng và cao cả hơn.
100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục: Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm

những kiến thức và tư tưởng mới,
làm cho quần chúng đang sống trong cõi tối tăm mịt mùng ấy biết rằng có một thế
giới mênh mông bao quanh mình, cái mà ngày nay ta gọi là một cuộc toàn cầu hoá
đang diễn ra, mình đang sống trong thế giới ấy, mình phải và có thể vươn tới, hoà
nhập vào cái thế giới ấy, cái thế giới trong đó mỗi con người đều có những quyền
của mình, mà mình đang không được hưởng. Công việc “tổ chức” chủ yếu của
phong trào Duy Tân là gieo rắc tri thức. Phan Châu Trinh là người có lòng tin
khổng lồ vào sức mạnh của tri thức. Ông tin tưởng sâu sắc rằng nhân dân có tri
thức thì có thể lay trời chuyển đất. Ông căm ghét đến xương tuỷ sự ngu muội,
chính sách ngu dân, quyết liệt chống lại nền giáo dục hư học chỉ nhằm ngu dân,
nhốt chặt dân tộc trong vòng u mê tối mò. Ông chủ trương một cuộc đại vận động
dân chủ, dân quyền (Nguyễn Sinh Sắc gọi Phan Châu Trinh là “Nam quốc dân
quyền tiên tổ chức”, người tổ chức nền dân quyền đầu tiên ở nước Nam). Và dân
chủ, dân quyền, đối với ông, trước tiên, tiên quyết là quyền được thông tin, như
cách nói ngày nay. Dân biết. Người dân phải được biết mình có những quyền gì, và
biết rằng mình chưa được hưởng những quyền đó. Dân biết thì dân sẽ đứng dậy. Sẽ
tự quyết định vận mệnh của mình. Trao sự hiểu biết cho dân, có thể nói đó là tất cả
12
nội dung chủ yếu của phong trào Duy Tân - Phan Châu Trinh. Cho nên, phong trào
ấy, rất kỳ lạ và rất thú vị, về cơ bản lại là một cuộc vận động cải cách giáo dục vĩ
đại, vĩ đại vì nội dung tân tiến và cả vì quy mô của nó, ngay trong lòng chủ nghĩa
thực dân.
100 năm đã qua. Có phải vấn đề hôm nay là tiếp tục công cuộc “cách mạng
tân văn hoá”, như cách gọi của Hoàng Xuân Hãn, mà lịch sử, với tất cả sự thật khắc
nghiệt của nó, đã buộc chúng ta còn để dở dang từ ngày còn người ấy, “khuôn mặt
sáng giá nhất của Việt Nam” đầu thế kỷ XX đã khởi xướng, và chưa xong.
Đông Kinh Nghĩa Thục đã đề ra một chương trình đào tạo với nội dung
phong phú, nhạy cảm với những biến đổi thời đại, gắn liền với thực tiễn sinh động
“tìm đúng cái cần xây, cần chống ngay tại xứ sở quốc gia mình”.
Nội dung giảng dạy trong nhà trường trải trên hầu khắp các lĩnh vực từ khoa

Muốn giành được độc lập, trước hết người Việt phải canh tân lại nền kinh tế,
phải làm chủ những tập đoàn kinh tế lớn đủ sức cạnh tranh với sự độc quyền kinh
doanh lúa gạo, nông thổ sản từ tay người Hoa; mở mang công kỹ nghệ để cạnh
tranh với hàng hoá người Pháp, chiếm lấy khu vực kinh tế dịch vụ đang manh nha
hình thành… Đó là những chủ trương đầy tham vọng của những người khởi xướng
Cuộc Minh Tân.
Nền kinh tế trong tay ngoại bang: Đầu năm 1908, tờ Lục Tỉnh Tân Văn (LTTV)
phát hành số 1 (15.1.1908), chủ bút là Trần Nhật Thăng, một bút danh của ông
Trần Chánh Chiếu. Để khai sinh tờ LTTV, ông Chiếu phải thôi giữ chân chủ bút của
tờ Nông Cổ Mín Đàm và dù có quốc tịch Pháp, ông vẫn phải nhờ ông Pierre Jeanfet
cựu chủ tỉnh Chợ Lớn đứng giấy phép. Về sau cho thấy, LTTV là tiếng nói quảng
bá đầy hiệu quả của Cuộc Minh Tân. Thời ấy toàn bộ nhà băng đều nằm trong tay
người Pháp. Việc vay vốn ngân hàng là hết sức khó khăn, do thủ tục, lề luật phiền
14
hà, nhiêu khê. Nhà băng tây chủ yếu cung cấp vốn cho những nhà tư bản công kỹ
nghệ, các chủ đồn điền người Pháp chuyên trồng cây cao su và cây cà phê ở miền
Đông Nam kỳ trên vùng đất đỏ.
Cùng với việc nắm độc quyền thương nghiệp của người Hoa là sự đổ xô của
người Ấn đến Nam kỳ để nắm lấy độc quyền về việc cho vay bạc. Một con số
thống kê đáng lưu ý: Năm 1899 dân số Sài Gòn mới có 16.497 người Việt, thì Hoa
kiều đã lên tới 13.113 người; Pháp kiều 2.500 người (không kể quân đội đồn trú) và
Ấn kiều là 910 người.
Thời bấy giờ, những ông tân điền chủ ở Nam kỳ đang cần vốn để khẩn
hoang, mua thêm đất, cho tá điền vay vốn làm mùa. Người Ấn cho vay thủ tục đơn
giản, họ mang bạc cho vay đến tận nơi, không phải ra chính quyền, khi khó khăn
tranh chấp họ sẵn sàng thương lượng và nhân nhượng cốt thu hồi được vốn, không
phải kiện thưa ra toà. Cho nên, dù lãi suất cao gấp mấy lần ngân hàng nhưng điền
chủ vẫn thích vay của người Ấn vì sự thật số lãi nặng ấy, người lãnh cuối cùng là
nông dân chứ không phải họ. “Bạc cho tá điền vay ba phân mỗi tháng. 100 đồng
bạc vốn, năm đầu tiên té ra 136 đồng (vốn và lời); năm thứ nhì nếu tá điền không

người, lớn, nhỏ, già, trẻ, nghèo, giàu đều đọc được”.
Mỹ Tho Minh Tân túc mễ tổng cuộc: Được hình dung như là một tổng công
ty xuất khẩu lúa gạo. Bên dưới là “ mấy tiệm nhánh ở các hạt thì đặt tên là Minh
Tân túc mễ phân cuộc. Tiệm cái phải đánh dây thép cho các phân cuộc hay biết giá
cả lúc gạo lên xuống. ( ) Trong xứ Nam kỳ ta, thì tôi tưởng chắc việc lúa gạo là
phần lợi thứ nhứt, vì đã nhiều mà tàu các nước tới lui ăn hoài, không khi nào ngớt
bến. Còn người Thanh thương (thương nhân Hoa kiều – NV) thời lập tiệm này
hãng kia trong xứ ta có trên hai trăm cái mà mua lúa và trữ lúa” (LTTV số 12).
16
Người khởi xướng cuộc vận động này là ông phó tổng Trần Văn Hài ở làng Lương
Phú, tổng Thạnh Quới, hạt Mỹ Tho. Theo kế hoạch, sẽ tìm số vốn là một triệu
đồng. Trong LTTV số 17, ngày 12.3.1908 cho biết đã có 25 vị ra vốn đầu tiên với
số tiền là 16.980 đồng, trong đó ông G. Chiếu góp 1.000 đồng.
Ước lập hoả thuyền: Với nhan đề này, ông tri phủ Nguyễn Bá Phước ở Bạc
Liêu kêu gọi phần hùn mua hai chiếc tàu để chở hành khách Sài Gòn – Đại Ngãi –
Bạc Liêu – Cà Mau theo đường biển. “Mỗi hiệu 3 đồng, mười hiệu vô một hùn là
30 đồng, ba ngàn hùn thì đủ sức khởi công” (LTTV số 25). Việc này về sau đã
thành hiện thực.
2. “Tập đoàn” kinh tế đầu tiên của người Việt
Trong những chủ trương phát triển công kỹ nghệ của ông Trần Chánh Chiếu
thì việc thành lập công ty Nam Kỳ Minh Tân công nghệ có thể được xem là táo bạo
nhứt.
Liên tục trên các số báo Lục Tỉnh Tân Văn (LTTV) từ số 21, ra ngày
9.4.1908 đến số 49, ra ngày 22.10.1908, luôn có những thông tin về kết quả vận
động, tổ chức và bước đầu đi vào hoạt động của công ty này.
Kinh doanh đa ngành
Có thể hình dung đây là một tập đoàn kinh tế theo hình thức góp vốn cổ
phần, có lĩnh vực hoạt động kinh doanh rộng lớn từ sản xuất, đào tạo nhân lực, đến
17
thương mại, xuất nhập khẩu… Một khu

NV) này. Nay đã nộp điều lệ cho Notaire cầu chứng, vài ngày nữa sẽ rao và in ra
3.000 cuốn phát cho chư vị có hùn, trong chừng một tháng nữa sẽ khởi công khai
trương”.
Như thế, cho đến thời điểm này đã có ít nhứt là 3.000 cổ đông, tất nhiên một
cổ đông có thể sở hữu nhiều cổ phần.
Người Việt
Cũng trong LTTV số 29, trang 5 còn đăng lời rao, ký tên G. Chiếu:“DẦU
SẢ: Bên phương Tây hay mua sả cây làm dầu, trộn với savon để làm savon thơm,
19
Ga tàu lửa từ Chợ Lớn đi Sài Gòn ở những năm đầu thế kỷ 20.
còn xác còn lại lấy làm giấy. Trong Nam kỳ ai có đất hoang nên trồng sả cho nhiều,
chừng nửa năm nữa tôi sẽ rao mua nhiều lắm”.
Ngày 3.9.1908 công ty rao mua 100.000 trái dừa khô để làm xà bông.
Ngày 17.9.1908 thấy thông báo chánh chủ hội là ông Nguyễn Viên Kiều mời
các người dự hội tới xem việc làm nền và dựng cây cất lò, trước đó công ty đã mua
đất của ông M. de Balman gần cầu sắt Mỹ Tho, ngang rạp hát Tư Lài. Trước khi
những người dự hội ra về, ông Gilbert Chiếu tặng cho mỗi vị nghị sự bốn cục
savon “đem về dùng thử, tốt xấu sẽ đem như lời luận của các ông vào LTTV”.
Số 43 LTTV ra ngày 10.9.1908 đăng quảng cáo hai trang lớn về xà bông Con
Vịt “tốt hơn của Chệt làm”.
Số 49 LTTV ra ngày 22.10.1908 cho biết: “Từ ngày có savon Minh Tân ló ra
bán rẻ, thì savon các Khách (Hoa kiều – NV) cũng hạ giá theo, nên nay công ty hạ
giá bán cho các đại lý hơn, hoặc ai mua từ 100 ký lô cũng nhờ được”.
Trong Nam Kỳ Minh Tân công nghệ cuộc còn có cơ sở bào chế Đông Nam
dược, làm ra các loại thuốc ta dạng tán, dạng nước, dạng viên, ngâm rượu… Trong
lời rao có đoạn: “… song các món thuốc hay của người ngoại quốc thì cũng ít hạp
cùng chứng bịnh nước ta đặng, là vì phong thổ bên phương Tây thì lạnh thiệt lạnh,
mà nóng thiệt nóng, còn bên phương ta không nóng không lạnh, nên khác xa lắm.
Kìa cũng có một ít người Langsa cũng hay dùng thuốc An Nam cho hợp phong thổ
hơn, vậy thì tôi chắc người An Nam mình dùng thuốc mình thì hay lắm”. (LTTV số

Quang Thời đã lập tiệm lúa rất lớn, cất hai kho và một cái nhà đặng buôn bán.
Kho thứ nhứt 16 căn, kho thứ nhì 10 căn, ước chứa được 200.000 giạ lúa (4.000
tấn – NV). Để vốn trong cuộc số bạc là 100.000 đồng. Có bốn, năm chiếc ghe chở
chuyền lao lúa đem bán cho các nhà máy Chợ Lớn. Còn sam-pan đi lòi lúa các nơi
trên mười chiếc. Có người tài phú rất thạo trong chuyện buôn bán, lập làm bảy,
21
tám thứ sổ. Coi công việc làm ăn rành rẽ lắm, chẳng nhượng Si-na (người Hoa –
NV) đâu”.
Tạo nguồn nhân lực mới
Để chuẩn bị nhân lực dài lâu cho cuộc Minh Tân, ông Trần Chánh Chiếu
cùng những đồng sự của ông đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo thế hệ kế tục. Ở
hoạt động này, một mặt ông công khai hô hào khuyến học, mở mang trường lớp,
khuyến khích dạy nghề thông qua tờ LTTV, mặt khác ông bí mật vận động tổ chức
để đưa con em người Việt ra du học nước ngoài nhằm mưu sự lâu dài.
Ngày 20.6.1908, với danh nghĩa là chủ bút tờ LTTV, ông G. Chiếu tổ chức
một cuộc chiêu đãi “sẵn dịp có nhiều người nước An Nam qua Langsa mà học
thêm”. Trước khi khai tiệc ông có bài chúc, xin trích lục vài đoạn: “ Mai đây
hừng đông thì các trò đã giã từ đất Nam Việt, xa cha mẹ thân bằng, cùng sáu triệu
đồng bào mà ra đi, trong sáu triệu đồng bào ấy còn nhiều người dốt nát và quê
mùa lắm, vì không có thể đi học như các trò, các trò hãy hàng ngày nhớ đến sự ấy
luôn (…). Ý của cha mẹ các trò cho con đi học làm nghề gì thì tôi không rõ, song
tôi khuyên các trò là đừng có đi học rồi mà về làm việc hiếp đáp dân An Nam. Phải
ráng nên người xứng đáng với thế gian là học làm quan bác vật, học cơ xảo, học
đại thương (…). Tôi uống ly rượu này mà chúc cho các trò đi thuận buồm xuôi gió,
học hành cho mau thông thái, đặng về giúp quê hương”.
Trong số báo đầu tiên của tờ LTTV đã đăng bài khuyến học như là một điểm
lớn trong tôn chỉ của tờ báo: “ Nước mình bắt chước học theo chữ Tàu và tam
giáo, cửu lưu đều tổ thuật của Tàu. Nhưng vì tục Tàu học làm đặng bao nhiêu thì
cứ bấy nhiêu đó mà thôi, không có sanh hoá biến canh ra nữa được… Vậy nay thấy
những xe lửa, tàu khói, dây thép, đèn khí, máy xay lúa gạo, máy may quần áo, máy

phản ứng bởi công đoàn và chính người lao động. Tuy nhiên, hành vi lừa dối khách
23
hàng lại thường được doanh nghiệp thực hiện một cách hết sức tinh vi và được che
đậy thông qua nhiều phương tiện hiện đại mà khách hàng rất khó nhận biết, hoặc
dẫu có nhận biết thì cũng đã muộn vì đã lỡ mất tiền, không thể đòi lại được.
Nếu như chuyện lừa dối trong các hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ
phục vụ tiêu dùng đáng bị lên án thì hành vi lừa dối trong kinh doanh giáo dục và
đào tạo càng là điều không thể chấp nhận được. Hiện có nhiều cơ sở chiêu sinh, mở
lớp đào tạo về quản lý, trong đó có chủ đề Văn hóa doanh nghiệp – một phần
không tách rời của đạo đức kinh doanh. Lẽ đương nhiên, ai cũng nghĩ, một doanh
nghiệp đã đi dạy cho người khác làm văn hóa doanh nghiệp thì không lý nào doanh
nghiệp đó lại không xây dựng cho mình văn hóa trước. Và khi đã có văn hóa doanh
nghiệp rồi, vấn đề đạo đức kinh doanh hẳn sẽ được đặt lên hàng đầu. Thế nhưng,
thực tế không phải lúc nào cũng như nhiều người vẫn tưởng.
Thương hiệu trong nền kinh tế thị trường: Theo cơ chế cạnh tranh của thị
trường tự do, trong bất cứ ngành hàng nào, từ hàng tiêu dùng nhanh, hàng điện
máy, ngành quần áo thời trang hay các ngành dịch vụ,… các thương hiệu luôn xuất
hiện, cạnh tranh và tồn tại trong những phân khúc giá khác nhau.
Lấy ví dụ tại thị trường Việt Nam. Trong ngành dầu gội, giá bán của Sunsilk
đắt gần gấp 3 lần giá bán của dầu gội đầu Mỹ Hảo. Trong ngành điện máy, giá bán
của tivi Sony đắt gấp đội so với giá của nhãn hiệu nội địa Darling. Trong ngành
dịch vụ quảng cáo hay trong dịch vụ về luật, giá dịch vụ của các hãng nước ngoài
đắt hơn từ 3 đến 10 lần so với giá của các công ty của Việt Nam.
Tuy có mức chênh lệch giá rất lớn giữa các thương hiệu ở phân khúc thấp so
với phân khúc cao cấp, nhưng càng ngày, chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) giữa
các phân khúc càng bớt khác biệt. Ngày nay, nếu bỏ nhãn hiệu đi và cho người
khách hàng dùng thử, nhiều loại sản phẩm và dịch vụ có giá rất chênh nhau những
lại hầu như không tạo ra sự khác biệt.
24
Trên thực tế các tập đoàn đa quốc gia đã chuyển khâu sản xuất của nhiều loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status