\
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Khái niệm đạo đức kinh doanh
Trước khi là doanh nhân, mọi doanh nhân đều phải là một người bình thường.
Doanh nhân khác với người thường ở chỗ là người có tài chứ còn để có tiền họ không thể
làm khác. Vậy họ cũng phải làm gì đó để thu phục niềm tin của người khác và để có uy
tín? Đó là một con đường họ phải theo khi hành xử công việc. Đó là “Đạo kinh doanh”.
Người Do Thái cư xử với nhau theo 10 Điều Răn và doanh nhân của họ có Đạo
kinh doanh.Đối với các dân tộc khác không phải là người Do Thái, thì sách vở từ ngàn
xưa đã chỉ, các tôn giáo đã khuyến khích, có một số đức tính căn bản cho họ. Đó là: sự
chăm chỉ, trung thực, biết điều và không tham lam.
Riêng doanh nhân cần do có nhiều người dưới quyền thì phải thêm hai đức tính
nữa là tính sòng phẳng và lòng biết ơn. Cộng sáu đức tính đó lại với tài kinh doanh thì sẽ
có một doanh nhân xuất hiện. Và người này sẽ có nhiều tiền, hay nhiều tiền sẽ đến với họ.
Khi được hướng dẫn bởi các đức tính đó, doanh nhân sẽ giữ được chữ tín trong
kinh doanh; biết liên kết trong làm ăn; đối đãi với khách hàng; cư xử với đồng sự cùng
nhân viên.
Triết lý giúp con người thăng hoa, đạo đức giúp họ bền vững. Doanh nhân có một
sợi dây đạo đức chung, một triết lý chung thì chúng là một chất keo để kết họ lại với
nhau. Hội nọ đoàn kia ra đời. Và khi kết lại được như thế doanh nhân sẽ có rất nhiều tiền.
Hiện nay, chúng ta bàn về “Đạo kinh doanh” là vì trong những mức độ khác nhau
có doanh nhân rất tài, có tiền nhưng không có đủ các đức tính căn bản của “một người
bình thường”. Lỗi đó là do lịch sử.
Thí dụ, muốn khuyến khích sự chăm chỉ chúng ta nêu khẩu hiệu “lao động là vinh
quang”. Khi ở một mình, nếu một người biết tự nhủ “ta phải chăm chỉ” thì họ sẽ bó buộc
mình làm; còn nếu bảo “để vinh quang” thì họ sẽ bảo “tôi không cần” và… đi chơi!
Châu Trinh bị bệnh phải ở lại. Thời gian này ông cùng với Hồ Tá Bang lập một thư xã ở
đình Phú Tài để giảng sách Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Nguyễn Trọng Lội nhiệt
thành dự khán những cuộc thuyết trình ấy. Đây chính là bước tập dượt để Đông Kinh
Nghĩa Thục ra đời.
Nhà thờ cụ Phan Châu Trinh
Đem nhà
làm trường
Hôm quyết
định thành lập,
cũng tại số 4 Hàng
Đào có mặt các ông
Lương Văn Can,
Dương Bá Trạc,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… nhưng lại vắng mặt Tăng Bạt Hổ và Phan Châu Trinh.
Người cao tuổi hơn cả là Lương Văn Can được các đồng chí nhất trí tôn làm thục trưởng.
4
Về tài chánh, hội viên tự
ý góp bao nhiêu cũng được và
quyên thêm ở những chỗ quen,
hảo tâm. Tiền - thục trưởng
quản chi, nhưng sổ sách do
Nguyễn Quyền giữ.
Hai người đảm nhiệm việc lập
các thủ tục xin phép lập trường
tại phủ Thống sứ Bắc Kỳ là
Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn.
Cả nhà cùng “Nghĩa Thục”
Dù chỉ bằng truyền miệng, nhưng tin tức trường Đông Kinh Nghĩa thục sắp ra đời
lan rất nhanh khắp cả hai vùng đất bảo hộ, miền Bắc và miền Trung. Việc học trò đi học
không phải mất tiền là một việc chưa từng có. Danh sách ứng sinh đăng ký theo học dồn
liệu giáo khoa quan trọng của trường, có
79 bài thì có tới 24 bài (từ bài 56 đến bài 79) đề cập trực tiếp đến các vấn đề thuộc về
kinh tế, kỹ nghệ.
Khi nhà nho đi buôn:
Tiên phong trong việc này ở đất
Bắc là ông Đỗ Chân Thiết. Năm 1904,
nhân vua Thành Thái ra bái yết lăng tẩm tổ
tông ở làng Gia Miêu, Thanh Hoá, Đỗ
Chân Thiết cùng Phương Sơn thảo Hưng
Quốc sách, nhảy xe lửa vào tận Thanh Hoá
định dâng vua, nhưng bị viên tổng đốc
Thanh Hoá gàn cản, việc không thành. Hai ông trở về Hà Nội, rủ nhau đi buôn, mướn
thuyền về Hải Dương chở gạo lên Hà Nội bán. Thuyền về đậu bến cột Đồng Hồ mấy
ngày, dân buôn thấy thuyền của ông Cử, ông Nghè không ai dám tới mua, sau nhờ một bà
6
Phố Hàng Gai nơi ông Hoàng Tăng Bí mở
xưởng dệt, chế biến các loại trà
Phố Mã Mây xưa, nơi ông Đỗ Chân Thiết
cùng Phương Sơn mở hiệu Đồng Lợi Tế
chuyên bán hàng nội hoá
xuống bán dùm, chỉ nửa buổi đã hết. Sau hai ông gọi thêm vài người đồng chí hùn vốn
được vài ngàn bạc, mở hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây,…
Lập đồn điền, khai mỏ :
Nghĩa Thục còn khuyến khích đồng chí lập đồn điền để khuếch trương nông
nghiệp.
Một việc ít ai biết là những người trong Nghĩa Thục còn có nhiều chiến sục sạo
trên vùng thượng du Bắc Việtvà đã tìm được một số mỏ than, chì, kẽm, lưu huỳnh.
Nói chung, giới nho sĩ chủ trương đều thiếu kinh nghiệm quản trị, thiếu vốn, thiết
bị kỹ thuật nên các công trình chỉ để lại tiếng vang, kích thích lòng yêu nước là chính.
Tuy nhiên, các cơ sở kinh tế nói trên còn là nơi gặp gỡ thuận tiện để họ bàn bạc chuyện
Nam đã, đang và sẽ thực hiện những trăn trở của các sĩ phu từ trăm năm trước.
Trăm năm hàng Việt:
Tại Nam kỳ nổi lên cuộc vận động xã hội sôi nổi với tên gọi mới là Cuộc Minh
Tân. Hoạt động công khai của Cuộc Minh Tân là khuyến khích sự tự cường kinh tế của
người Việt với nhiều hoạt động sản xuất, kinh thương đến tài chính, dịch vụ…
Nền kinh tế trong tay ngoại bang: Đầu năm 1908, tờ Lục Tỉnh Tân Văn (LTTV) phát
hành số 1 (15.1.1908), chủ bút là Trần Nhật Thăng, một bút danh của ông Trần Chánh
Chiếu.
Cùng với việc nắm độc quyền thương nghiệp của người Hoa là sự đổ xô của người
Ấn đến Nam kỳ để nắm lấy độc quyền về việc cho vay bạc.
Ông Trần Chánh Chiếu là người nhìn thấu rõ hiện tượng này. Trong khi đó, Cuộc
Minh Tân muốn đạt được thành công phải có sự đồng lòng của toàn xã hội, mà nông dân
là lực lượng đông đảo nhứt. Và, cũng không thể tiến hành cuộc Minh Tân mà không có
nguồn vốn lớn. Ông Chiếu thường nói: “Phải có tàu lớn thì mới ra biển được”.
Gom góp lòng yêu nước
Để giải quyết điểm then chốt ông Chiếu đã đưa ra sáng kiến chưa từng có trước đó,
là huy động vốn. Ông đã bán hết toàn bộ điền sản của mình ở Rạch Giá và luôn là người
có tên góp vốn đầu tiên để thành lập các cơ sở công kỹ nghệ và thương mại trong cuộc
Minh Tân.
Ngoài việc kêu gọi góp vốn thành lập các cơ sở kinh doanh của người Việt, ông G.
Chiếu còn chủ trương thành lập ở Sài Gòn một tổ chức kinh doanh tài chính, dạng như
8
một ngân hàng tín dụng, gọi là Hãng cho vay Sài Gòn – Chợ Lớn: " lập một cái hãng
cho vay, mỗi phần hùn 5 đồng, Hãng cho vay bạc rẻ hơn người Ấn" (LTTV số 11).
Vài việc cụ thể:
Công ty nhà in: góp vốn 36.000 đồng.
Mỹ Tho Minh Tân túc mễ tổng cuộc: Được hình dung như là một tổng công ty
xuất khẩu lúa gạo.Ngày 12.3.1908 cho biết đã có 25 vị ra vốn đầu tiên với số tiền là
16.980 đồng, trong đó ông G.Chiếu góp 1.000 đồng.
Ước lập hoả thuyền: ông tri phủ Nguyễn Bá Phước ở Bạc Liêu kêu gọi phần hùn
ngày tháng nào, vẫn chưa tìm thấy được. Nhưng bắt đầu từ số 21 trên LTTV đã thấy rao:
“Hễ cuối tháng thì sẽ có rao số chư vị có đóng bạc, còn số rao mỗi khi đó thì nay
không ghi nữa, vì đã khỉ (khởi – NV) sự thâu bạc. Phiến ngôn cửu đỉnh, nhứt nặc thiên
kim. Cúi xin bạn đồng bang phải giữ lời hứa, chớ khá giêng (diên – NV) trì mà hư việc
cả. Nay kính. Gilbert, Mỹ Tho”.
Lại thấy ghi thêm:
“Minh Tân Công Nghệ đã nhóm đại hội hôm ngày 31 Mai (tháng Năm – NV) này.
Nay đã nộp điều lệ cho Notaire cầu chứng, vài ngày nữa sẽ rao và in ra 3.000 cuốn phát
cho chư vị có hùn, trong chừng một tháng nữa sẽ khởi công khai trương”.
Như thế, cho đến thời điểm này đã có ít nhứt là 3.000 cổ đông, tất nhiên một cổ
đông có thể sở
hữu nhiều cổ
phần.
Người Việt Cũng
trong LTTV số
10
29, trang 5 còn đăng lời rao, ký tên G. Chiếu:“DẦU SẢ: Bên phương Tây hay mua sả cây
làm dầu, trộn với savon để làm savon thơm, còn xác còn lại lấy làm giấy. Trong Nam kỳ
ai có đất hoang nên trồng sả cho nhiều, chừng nửa năm nữa tôi sẽ rao mua nhiều lắm”.
Ngày 3.9.1908 công ty rao mua 100.000 trái dừa khô để làm xà bông.
Trong Nam Kỳ Minh Tân công nghệ cuộc Ga tàu lửa từ Chợ Lớn đi Sài
Gòn ở những năm đầu thế kỷ 20
còn có cơ sở bào
chế Đông Nam dược, làm ra các loại thuốc ta dạng tán, dạng nước, dạng viên, ngâm
rượu… Trong lời rao có đoạn:
3. Tranh thương
Nam Kỳ những năm đầu thế kỷ 20, việc kinh doanh buôn bán phần lớn nằm trong
tay người Hoa ở Chợ Lớn. Sự độc quyền thương nghiệp của người Hoa đã đem về cho họ
món lợi to lớn.
Do đó trong các chủ trương về cuộc Minh Tân, Trần Chánh Chiếu đặc biệt khuyến
năng. Sự bóc lột người lao động cũng dễ bị phanh phui và phản ứng bởi công đoàn và
chính người lao động. Tuy nhiên, hành vi lừa dối khách hàng lại thường được doanh
nghiệp thực hiện một cách hết sức tinh vi và được che đậy thông qua nhiều phương tiện
hiện đại mà khách hàng rất khó nhận biết, hoặc dẫu có nhận biết thì cũng đã muộn vì đã
lỡ mất tiền, không thể đòi lại được.
Nếu như chuyện lừa dối trong các hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phục
vụ tiêu dùng đáng bị lên án thì hành vi lừa dối trong kinh doanh giáo dục và đào tạo càng
là điều không thể chấp nhận được. Hiện có nhiều cơ sở chiêu sinh, mở lớp đào tạo về
quản lý, trong đó có chủ đề Văn hóa doanh nghiệp – một phần không tách rời của đạo đức
kinh doanh. Lẽ đương nhiên, ai cũng nghĩ, một doanh nghiệp đã đi dạy cho người khác
làm văn hóa doanh nghiệp thì không lý nào doanh nghiệp đó lại không xây dựng cho
mình văn hóa trước. Và khi đã có văn hóa doanh nghiệp rồi, vấn đề đạo đức kinh doanh
hẳn sẽ được đặt lên hàng đầu. Thế nhưng, thực tế không phải lúc nào cũng như nhiều
người vẫn tưởng.
Thương hiệu trong nền kinh tế thị trường: Theo cơ chế cạnh tranh của thị
trường tự do, trong bất cứ ngành hàng nào, từ hàng tiêu dùng nhanh, hàng điện máy,
12
ngành quần áo thời trang hay các ngành dịch vụ,… các thương hiệu luôn xuất hiện, cạnh
tranh và tồn tại trong những phân khúc giá khác nhau.
Lấy ví dụ tại thị trường Việt Nam. Trong ngành dầu gội, giá bán của Sunsilk đắt
gần gấp 3 lần giá bán của dầu gội đầu Mỹ Hảo. Trong ngành điện máy, giá bán của tivi
Sony đắt gấp đội so với giá của nhãn hiệu nội địa Darling. Trong ngành dịch vụ quảng
cáo hay trong dịch vụ về luật, giá dịch vụ của các hãng nước ngoài đắt hơn từ 3 đến 10
lần so với giá của các công ty của Việt Nam.
Tuy có mức chênh lệch giá rất lớn giữa các thương hiệu ở phân khúc thấp so với
phân khúc cao cấp, nhưng càng ngày, chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) giữa các phân
khúc càng bớt khác biệt. Ngày nay, nếu bỏ nhãn hiệu đi và cho người khách hàng dùng
thử, nhiều loại sản phẩm và dịch vụ có giá rất chênh nhau những lại hầu như không tạo ra
sự khác biệt.
Trên thực tế các tập đoàn đa quốc gia đã chuyển khâu sản xuất của nhiều loại sản
trên thế giới, từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ lan sang khủng hoảng “nền kinh tế thực”
(real economy), dẫn đến khủng hoảng việc làm và khủng hoảng xã hội. Ở một số nước đã
và sẽ diễn ra khủng hoảng chính trị như ở Băng Đảo (iceland). Câu hỏi được đặt ra là, hệ
thống kinh tế thị trường hiện nay với các biến thể của nó từ kinh tế thị trường tân tự do
(Neoliberalism) ở Hoa Kỳ đến nền kinh tế thị trường xã hội (Social market economy) như
ở Đức, nền kinh tế phúc lợi xã hội (wealthfare economy) như ở Bắc Âu, trách nhiệm của
nhà nước, trách nhiệm của thị trường và doanh nhân, trách nhiệm và quyền giám sát của
người dân có những thiếu sót gì để dẫn đến một thảm hoạ như vậy. Mới đây, vụ sữa
nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc (San Lu) ở Trung Quốc đã gây ra biết bao đau
khổ cho các gia đình, trẻ nhỏ thì trách nhiệm của nhà nước, của doanh nghiệp như thế
nào. Trách nhiệm (responsibility) là một khái niệm rất rộng và được nhiều khoa học cùng
nghiên cứu. Luật học xác định các khái niệm trách nhiệm khác nhau, như trách nhiệm
hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kinh tế trách nhiệm tài
chính và trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể, v.v., kèm theo đó là những quy định
chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường, các mức phạt cao thấp khác nhau nếu vi phạm.
Xã hội học coi trách nhiệm xã hội như một sự cam kết về tinh thần, đạo đức, văn
hoá đối với gia đình, cộng đồng địa phương và toàn xã hội, nhân viên, môi trường. Trong
nền kinh tế thị trường, mọi cá nhân và doanh nghiệp đều hành xử sao cho có lợi nhất cho
14
mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Kinh tế thị trường được mô tả trong Tư bản
của C.Mác không có trách nhiệm xã hội, ở đó người ta thấy người chủ tư bản được mô tả
là một kẻ bóc lột tàn bạo, mù quáng, mất nhân tính, vô văn hoá đến kiệt sức người lao
động nhằm tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn. Sự mô tả chính xác đó đã giúp kinh tế thị
trường tự hoàn thiện trong quá trình đấu tranh của nhân dân cùng với tiến bộ trong nhận
thức của khoa học kinh tế. (Chẳng hạn như kinh tế học về thông tin đã chỉ rõ bản chất của
sự lừa đảo là bất đối xứng thông tin, giải pháp là công khai, minh bạch, giám sát nhằm
giảm bớt sự bất đối xứng thông tin đó chứ không phải gán ghép lừa đảo như một bản chất
của kinh tế thị trường). Kinh tế kế hoạch hoá tập trung dưới chế độ toàn trị một đảng đã
không đem lại giải pháp thực chất và bền vững cho tăng trưởng, không đem lại hệ thống
động lực cho người lao động, không phát huy sức sáng tạo, sáng kiến của mỗi một cá
về trách nhiệm xã hội cũng ngày càng tăng lên, như đòi hỏi phải kiểm soát khí thải của xe
hơi lưu hành trên đường phố, kiểm soát mức độ khói bụi trong các khu dân cư, v.v Như
vậy, có thể thấy, ít nhất đã có bốn nhóm đối tượng mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm
trong ứng xử đối với các đối tượng sau đây:
- Thị trường và người tiêu dùng, bao gồm cả nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung ứng
và hợp tác; người lao động; cộng đồng trong khu vực và trong xã hội trong nước và thế
giới (như vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc ở Trung Quốc);môi trường
sống.
Đối với thị trường và người tiêu dùng, doanh nghiệp phải bảo đảm chữ “tín”, bảo
đảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng của sản
phẩm, dịch vụ, thực hiện các cam kết dịch vụ sau khi bán như đã bảo đảm với khách
hàng, không quảng cáo quá sự thật. Pháp luật không thể quy định và tiết chế tất cả các
hoạt động của doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp phải bảo đảm thương hiệu của mình
bằng cách duy trì chất lượng, tính ổn định của chất lượng sản phẩm, dịch vụ không vượt
ra khỏi các quy định của pháp luật. Trong kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ không chỉ
với khách hàng, mà còn quan hệ với các nhà đầu tư ngân hàng, nhà cung ứng các sản
phẩm, dịch vụ trợ giúp, các viện khoa học, trường đại học thực hiện các dịch vụ nghiên
cứu, giảng dạy, thiết kế, v.v Trong tất cả các mối quan hệ đó, doanh nghiệp không chỉ
thực hiện đúng các cam kết theo Luật Dân sự, Luật Hợp đồng, mà còn phải từ bỏ tham
vọng làm “giàu nhanh” một cách bất chính bằng cách lừa đảo khách hàng và đối tác. Việc
16
làm giàu của doanh nghiệp không những phải phù hợp với pháp luật, mà còn phải bảo
đảm và tôn trọng lợi ích chính đáng và hợp pháp của khách hàng và đối tác. Như vậy,
cách làm giàu “chụp dật” là hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội. Không thể chỉ trông
đợi vào sự tự nguyện hay kêu gọi đạo đức, luật pháp, người tiêu dùng, xã hội phải phát
hiện, ngăn chặn và trừng phạt các hành động gian trá, lừa đảo, đồng thời khuyến khích,
ủng hộ các doanh nghiệp làm ăn chính đáng.
Đối với người lao động, doanh nghiệp phải coi người lao động là tài sản lớn nhất
của mình, chăm lo cuộc sống vật chất và tinh thần cho người lao động, bảo đảm cho
người lao động không chỉ tái sản xuất sức lao động, mà còn được nâng cao trình độ
b. Kinh tế thị trường, xã hội dân sự và trách nhiệm xã hội ở Việt Nam
Chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong đó nhà nước có vai
trò tuyệt đối trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang từng bước hình thành các tổ chức của xã hội dân sự.
Các tổ chức xã hội đông đảo của Việt Nam được hình thành và có thói quen hoạt động
theo mô hình kinh tế chỉ huy trước đây đang từng bước thay đổi để hoạt động có hiệu quả
hơn trong kinh tế thị trường. Các tổ chức đó đang từng bước chuyển sang cách hoạt động
tự chịu trách nhiệm, phản ứng kịp thời trước các biến động của kinh tế thị trường, như ô
nhiễm môi trường, đình công, v.v Hiện nay, Việt Nam chưa có Luật về các hội, khái
niệm xã hội dân sự chưa được chính thức chấp nhận, các cơ quan nhà nước đang đảm
nhận một khối lượng ngày càng lớn các công việc và bị quá tải. Bộ máy nhà nước ngày
càng được mở rộng hơn; mặc dù đã có sự kêu gọi giảm biên chế, nhưng cấp xã hiện nay
vẫn được giao (theo thống kê chưa đầy đủ) đến 320 việc (từ cấm đốt pháo đến hạn chế
sinh con thứ ba, xoá đói giảm nghèo, đăng ký hộ khẩu đến chuẩn bị hồ sơ để trình cấp
huyện cấp sổ đỏ sở hữu đất đai, v.v.) với bộ máy đầy đủ lên đến hơn 100 người. Bộ máy
nhà nước không thể thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, như bảo đảm chất lượng an toàn
thực phẩm, chất lượng dịch vụ massage, cắt tóc, v.v
Hệ thống luật pháp đã được đổi mới và xây dựng lại một cách sâu rộng, từ Hiến
pháp đến hệ thống luật, nghị định song còn thiếu đồng bộ, giữa các luật được chuẩn bị bởi
các Bộ khác nhau, được ban hành vào những thời điểm khác nhau còn không ít chồng
18
chéo, mâu thuẫn với nhau. Việc thực thi luật pháp còn có nhiều vấn đề phải đổi mới,
khoảng cách giữa luật trên văn bản và luật trong thực tế còn lớn.
Do cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý còn chưa được thể chế hoá đầy đủ và
cụ thể, cơ quan đảng có quyền quyết định cao nhất, trong khi Nhà nước, cụ thể là Chính
phủ chịu trách nhiệm trước pháp luật và Quốc hội về việc tổ chức thực hiện làm cho quá
trình quyết định và tổ chức thực hiện khá phức tạp, như sơ đồ sau đây cho thấy.
Hệ quả là hiệu lực của pháp luật chưa cao, trách nhiệm của doanh nghiệp trong
thực thi pháp luật chưa cao. Đã xuất hiện nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận, như vụ
công ty Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải nhưng không được xử lý nghiêm minh; có tới
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khung pháp luật và hướng dẫn về việc các doanh
nghiệp phải có báo cáo về hạch toán xã hội, kiểm toán xã hội và báo cáo xã hội để cộng
đồng biết và giám sát.
Về luật pháp chế định các thể chế kinh tế thị trường, Việt Nam đã ban hành luật
Cạnh tranh, nhưng chưa có Luật Kiểm soát độc quyền và việc thực hiện Luật Cạnh tranh
còn có nhiều hạn chế. Các luật pháp về kế toán, kiểm toán, các chuẩn mực đã được ban
hành, nhưng việc thực hiện trong thực tế còn nhiều hạn chế. Việt Nam đang chuẩn bị Luật
về Quyền tiếp cận thông tin, song chưa có luật về Hiệp hội và chưa chuẩn bị Luật về Vận
động hành lanh. Thông tin kinh tế còn nhiều hạn chế, nhiều số liệu chưa được công bố
công khai và kịp thời. Các hoạt động giám sát đối với ngân hàng, thị trường chứng khoán,
thị trường bất động sản còn sơ khai và cần được nhanh chóng hoàn thiện.
Các tổ chức thuộc xã hội dân sự Việt Nam đã được hình thành và hoạt động, có
đóng góp thiết thực, như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp hội
ngành nghề, như Dệt may, Xuất khẩu Thuỷ sản, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính, v. v…
Nhiều tổ chức đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn, vận động thực hiện các tiêu chuẩn và quy
định của trách nhiệm xã hội, nhất là đối với người lao động và người tiêu dùng. Song, do
thiếu cơ sở pháp lý cần thiết, nên sự đóng góp đó còn hạn chế. Bản thân các hiệp hội đó
còn cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả thiết thực đối với hội viên.
Tóm lại, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực
hiện. Chắc chắn rằng, cùng với quá trình phát triển của đất nước, trách nhiệm đó sẽ được
đề cao hơn cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế
thị trường và các thể chế của xã hội dân sự
20
3. Nhìn chung về đạo đức kinh doanh xưa và nay
Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong
- tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế
miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo
Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH
Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản
sắc, phát triển tiềm năng”
một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa
nhận, sửa chữa - sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.
Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?
Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị
này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?
- Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số
dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ
khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.
Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không
thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN
nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút
vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính - thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà
riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.
Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có thời kỳ lên đến 28 tỉ
USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự.
Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí là đầu vào
của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành
kinh tế dân sự.
Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu
binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối
ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy.
Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt
tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến
dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.
22
Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá
do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào để giải
quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số
nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ
Indonesia, Malaysia, Nhật Bản để sản xuất.
thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường
ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở
ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước
xã hội chủ nghĩa.
Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn,
chụp giật hơn, lưu manh hơn
Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?
- Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của
Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền
dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn
Nhất là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá rồi bán thầu cho Hoa
kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi,
honda, tủ lạnh cũ ) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v Tất nhiên sự
tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí Đó một
nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.
Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa
đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?
Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m
2
,
tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng
là con đường "nâng giai cấp" của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.
Hơn và kém xưa: Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét
về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:
- Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện
nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn
trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên - thì ngày xưa giới
thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.
24
- Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào