LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng chung của nền kinh tế Việt Nam là
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đẩy mạnh sự phát triển đất nước và tăng
cường hoà nhập với khu vực cũng như trên thế giới. Để đảm bảo cho sự phát
triển này, vốn cần cho nền kinh tế ví như máu dùng cho cơ thể sống. Trong môi
trường cạnh tranh gay gắt, việc hoàn thiện và phát triển các hoạt động của các tổ
chức tín dụng là phương châm hướng đi cho sự tồn tại và phát triển của nước ta.
Xét cho cùng, đây là sự đáp ứng cho yêu cầu hiện đại hoá, đa dạng hoá về hoạt
động, nghiệp vụ và xu thế hội nhập của nền kinh tế.
Nghiệp vụ bảo lãnh đã được bắt đầu sử dụng rộng rãi trên thế giới từ đầu
thập niên 70 và ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong các giao dịch
kinh tế thế giới. Trong thời đại hiện nay nghiệp vụ bảo lãnh đã bùng nổ và phát
triển mạnh mẽ như một dịch vụ không thể thiếu được trong các giao dịch kinh tế
toàn cầu.
Có thể nói bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ của các tổ chức tín
dụng hiện đại. Nó tuy còn mới mẻ với các tổ chức Tín dụng tại Việt Nam nói
chung và của Công ty Tài chính Dầu khí nói riêng tuy nhiên trong thời gian qua
hoạt động bảo lãnh của hệ thống cá tổ chức tín dụng đã phát triển mạnh mẽ hơn
lúc nào hết, bảo lãnh đã góp phần không nhỏ trong giao dịch kinh tế của cá tổ
chức tín dụng và các doanh nghiệp. Sự phát triển và sự khởi sắc của nghiệp vụ
bảo lãnh có rất nhiều tích cực, khẳng định được vị trí của nó trong nền kinh tế
thị trường. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được, bảo lãnh vẫn còn những
mặt hạn chế chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng của mình.
Nghiệp vụ bảo lãnh tại Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) không phải là
hoạt động quan trọng nhất quyết định đến toàn bộ quá trình hoạt động của
PVFC. Nhưng đây là hoạt động tất yếu và đầy tiềm năng của PVFC nói riêng và
các tổ chức tín dụng khác. Sau một thời gian được thực tập tại Công ty Tài chính
Dầu khí, nhận thấy hoạt động bảo lãnh tại công ty vẫn còn nhiều điểm thiếu sót.
1
Đề tài " Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh tại Công ty
tài chính dầu khí" là đề tài em đã chọn trong bài viết này.
Motor.
Sự khác biệt cơ bản giữa các Công ty tài chính và các NHTM chính là các
ngân hàng có nhận tiền gửi thường xuyên trong khi các công ty tài chính thì sử
dụng vốn tự có để cho vay và đầu tư, không nhận tiền gửi của dân chúng và các
tổ chức với thời hạn ngắn và dưới hình thức mở tài khoản, không được mở tài
khoản thanh toán và sử dụng vốn vay để làm phương tiện thanh toán. Trong khi
quá trình trung gian tài chính của các Công ty tài chính được mô tả rằng họ vay
3
những món tiền lớn nhưng lại cho vay các món tiền nhỏ, một quá trình hoàn
toàn khác với quá trình trung gian của các NHTM. Chính vì vậy quá trình cho
vay của các công ty tài chính đặc biệt thích hợp với các nhu cầu của các doanh
nghiệp và người tiêu dùng. Tuy vậy, trong các quốc gia có nền kinh tế phát triển,
do yêu cầu mở rộng phạm vi hoạt động nên các công ty tài chính đều muốn mở
rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ để phục vụ khách hàng của mình nhiều hơn
dẫn đến sự phân chia giữa các tổ chức ngân hàng và các công ty tài chính ngày
càng mờ nhạt.
Các công ty tài chính có một lợi thế là họ không gặp phải một hạn chế nào
từ phía chính phủ về việc mở chi nhánh, về những tài sản mà họ có và cách thức
huy động vốn. Việc không có hạn chế giúp cho các công ty tài chính có thể làm
phù hợp một cách tốt hơn các món vay của họ với những nhu cầu của khách
hàng hơn là các tổ chức ngân hàng.Thông qua các công ty tài chính các nguồn
vốn nhỏ hệp trong dân cư có thể được tập trung lại phục vụ cho nhu cầu về vốn
của đất nước cũng như các hoạt động đầu tư dài hạn khác.
Các Công ty tài chính thường được tổ chức dưới mô hình Công ty tài
chính trực thuộc tập đoàn. Sở hữu vốn của công ty tài chính là sở hữu hỗn hợp
nhưng có một chủ đóng vai trò khống chế, chi phối về tài chính. Tập đoàn tiến
hành hoạt động và quản lý tập trung một số mặt như huy động, điều hoà, quản lý
vốn; nghiên cứu triển khai; đào tạo; xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược
thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư
Các công ty tài chính chiếm một vị trí quan trọng thiết yếu trong dây
nhượng chứng khoán
Cho đến thập kỷ 70, có 3 loại hình công ty tài chính hoạt động phổ biến là
tài trợ tiêu dùng, tài trợ bán lẻ,và tài trợ thương mại.Từ thập niên 80 trở lại đây,
các công ty tài chính không ngừng thực hiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực như thuê mua, đầu tư tài chính, phát hành và kinh doanh
chứng khoán, đồng thời thực hiện sáp nhập, thôn tính lẫn nhau để tạo thành các
công ty tài chính có qui mô hoạt động lớn, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả
kinh doanh.
Hoạt động của các công ty tài chính là rất đa dạng và phong phú nhưng
5
nhìn chung có thể phân loại như sau:
Căn cứ vào các nghiệp vụ hoạt động, Công ty tài chính được chia thành:
Các công ty tài chính bán hàng: cho những người tiêu dùng vay để mua
các hàng hoá từ một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất khác. Các công ty tài
chính bán hàng trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng về cho vay tiêu dùng và
được người tiêu dùng sử dụng vì các món vay thường được thực hiện nhanh hơn
và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng.
Các công ty tài chính người tiêu dùng: cho người tiêu dùng vay để mua
những món hàng riêng, ví dụ như đồ đạc và các dụng cụ gia đình để cải thiệ nhà
cửa hay để giúp thanh toán các món nợ nhỏ.
Các công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt
cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu có chiết khấu;
việc cung cấp các tín dụng này được gọi là bao thanh toán. Ngoài ra, các công ty
tài chính kinh doanh cũng chuyên môn hoá trong việc cho thuê thiết bị là những
thứ công ty mua sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.
Căn cứ vào quan hệ về sở hữu
- Các công ty tài chính độc lập thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh
như: nghiệp vụ tín dụng (cho vay và bảo lãnh cho các khách hàng thương mại và
sản xuất công nghiệp ); các nghiệp vụ cho thuê và thuê mua; nghiệp vụ bao
thanh toán; kinh doanh tiền tệ; tư vấn tài chính
vốn điều lệ cũng thấp hơn so với các Công ty tài chính thuộc Tổng công ty, nên
rất khó khăn để tài trợ cho các dự án dài hạn, hoạt động của họ là chủ yếu tập
trung vào cho vay khu vực tư nhận và cho vay các doanh nghiệp nhỏ.
Hoạt động huy động vốn dưới hình thức phát hành tín phiều là hoạt động
chủ yếu trong huy động vốn của các Công ty tài chính, nhưng trên thực tế Việt
Nam thì hoạt động này là vô cùng khó khăn. Để có được vốn đầu tư các Công ty
tài chính đã tìm các hình thức huy động vốn như phát hành kỳ phiếu có đảm bảo
bằng vàng, tín phiếu bằng VNĐ và bằng ngoại tệ, chia nhiều kỳ hạn trả lãi, tuy
nhiên không thể nào cạnh tranh được với các hình thức huy động vốn đa dạng
của NHTM, và sự hấp dẫn hơn nhiều của KBNN.
Tóm lại, các Công ty tài chính tuy làm ăn có lãi bởi lợi thế về chuyên môn
7
hoá lam giảm các chi phí trong hoạt động cho vay, nhưng lại rất khó khăn cho
hoạt động huy động vốn
II. HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
Bảo lãnh là một khái niệm tồn tại rất xa xưa của xã hội loài người. Cho
đến nay bảo lãnh không những tồn tại mà còn phát triển rất phong phú bao trùm
lên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, chính trị của từng quốc gia và phạm vi
toàn thế giới, từ một lĩnh vực nhỏ của đời sống, như bảo lãnh nhân sự, cư trú
đến những phạm vi lớn mang tính quốc tế như bảo lãnh cho một quốc gia về
kinh tế hoặc chính trị. Vì vậy bảo lãnh có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế -
chính trị - xã hội nói chung.
1. Khái niệm
Lĩnh vực bảo lãnh (Guarantee) đã bắt xuất hiện chính thức và rộng rãi từ
đầu thập niên 70 và xuất phát đầu tiên là ở các nước sản xuất dầu hoả Trung
Đông. Trong thời kỳ này sản xuất phát triển đã cho phép họ ký kết nhiều hợp
đồng lớn với các Công ty phương Tây cho những dự án lớn như: Cải thiện cơ sở
hạ tầng, dự án công - nông nghiệp và quốc phòng Việc cần thiết để bảo đảm
tính an toàn của các dự án và các cơ sở đã làm phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Vậy
bảo lãnh là gì ?
2.1 Phát sinh nhu cầu bảo lãnh
Chính sự phát triển của nền kinh tế, mà ở đây là sự phát triển của thương
mại và tín dụng đã nảy sinh, xuất hiện nhu cầu mới.
+, Về thương mại :
Xã hội loài người đã trải qua các hình thức sản xuất tự cung tự cấp, sản
xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá ra đời tạo ra bước nhảy vọt trong đời sống
kinh tế, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thương mại. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế hàng hoá đang phổ biến ở khắp các quốc gia,
tạo cho thương mại trở thành thước đo, xác định khả năng của từng quốc gia nói
riêng và các doanh nghiệp nói chung. Khi thương mại phát triển cả chiều rộng
lẫn chiều sâu đã góp phần tham gia vào xu hướng hòa nhập phân công lao động
của khu vực và thế giới. Sự phát triển của thương mại làm tăng giao dịch cả về
số lượng và giá trị của các doanh nghiệp có quan hệ thương mại không chỉ trong
9
nước mà còn vượt ra phạm vi quốc tế. Và từ đó ngoại thương đã trở thành một
mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế các nước, là tiêu chuẩn đánh giá sự tăng
trưởng phát triển hay suy thoái của quốc gia đó.
+, Về tín dụng :
Thương mại phát triển kéo theo sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các
doanh nghiệp. Muốn giành được khách hàng, thu được lợi nhuận, đạt mục tiêu
kinh doanh, mỗi doanh nghiệp cần phải phát triển sản xuất nâng cao chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm thì vốn đã trở thành một vấn đề cấp thiết đối với mỗi
doanh nghiệp. Tín dụng ra đời nhằm giải quyết những mâu thuẫn thiếu vốn tạm
thời của cá nhân, tổ chức sản xuất, thậm chí giữa các nước với nhau. Tín dụng
bao gồm mọi quan hệ cung ứng về vốn qua các tổ chức trong một nước mà còn
giữa các nước, các khu vực mà còn trên nhiều lĩnh vực trên nguyên tắc hoàn trả
vốn gốc và một phần lãi nhất định, nhằm giải quyết sự thiếu vốn của các doanh
nghiệp và chủ yếu trong quan hệ thương mại.
Bên cạnh đó, khi thương mại và tín dụng ngày càng phát triển có xu
hướng vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia với số lượng doanh nghiệp tham
chấp xảy ra đối với các bên.
2.2. Khả năng cung ứng của các Tổ chức Tín dụng
Nhu cầu bảo lãnh nảy sinh đòi hỏi phải có một người thứ 3 đứng ra làm
trung gian đảm bảo cho các bên yên tâm thực hiện hợp đồng. Các Tổ chức Tín
dụng là một trung gian tài chính với những điều kiện sau :
- Có khả năng đảm bảo về mặt tài chính, có uy tín trong kinh doanh tiền
tệ.
- Chuyên cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính cho nền kinh tế.
- Có khả năng nắm bắt thu thập thông tin, do có mạng lưới khách hàng và
cán bộ chuyên môn.
Các Công ty Tài chính hoàn toàn có khả năng cung ứng dịch vụ này nhằm
thoả mãn nhu cầu của nền kinh tế.
2.3. Về mặt luật pháp
Nghiệp vụ bảo lãnh của Công ty Tài chính có vai trò hết sức quan trọng
góp phần làm phong phú hoạt động kinh doanh cũng như mang lại nguồn thu
11
đáng kể của các Công ty Tài chính. Tuy nhiên, hoạt động này luôn có những quy
định về luật pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ.
Công ước quốc tế quy định về nghiệp vụ bảo lãnh ra đời nhằm đảm bảo
tính độc lập và lô gíc cho các bên tham gia bảo lãnh. Văn bản các quy tắc thống
nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (Uniform Roles for Demand Guarantee) -
URDGICC 458 của phòng Thương mại quốc tế ban hành tháng 4/1992. Những
nguyên tắc cơ bản chỉ ra: Sự độc lập của bảo lãnh đối với hợp đồng, tính chứng
từ của bảo lãnh, yêu cầu chứng từ phải phù hợp với điều khoản bảo lãnh Bên
cạnh đó do sự phát triển nhanh chóng của các giao dịch kinh tế, thương mại giữa
các doanh nghiệp Việt Nam với nước ngoài, mà đặc biệt là quan hệ vay vốn
nước ngoài, ngày 30/8/1993, chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/CP về quy
chế vay và trả nợ nước ngoài để hướng dẫn Nghị định này
Ở các nước trên thế giới như Mỹ, Đức, Hà Lan v.v đều quy định những
văn bản luật cụ thể cho nghiệp vụ bảo lãnh như: Luật bảo lãnh của Anh, Luật
tổ chức tín dụng phát hành.
(4) Tổ chức tín dụng phát hành thực hiện bồi hoàn cho bên thụ hưởng khi
có sự vi phạm của bên được bảo lãnh.
(5) Tổ chức phát hành bảo lãnh thực hiện bồi hoàn cho bên thụ hưởng khi
có sự vi phạm của bên được bảo lãnh.
* Bảo lãnh gián tiếp( Indirect Guarnantee).
Bảo lãnh gián tiếp là bảo lãnh mà trong đó các tổ chức tín dụng đã phát
hành bảo lãnh theo chỉ thị của một tổ chức tín dụng trung gian phục vụ cho
người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người
được bảo lãnh không chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho tổ chức phát hành
13
3
A
B
2 5 3* 4
Tổ chức Tín dụng
phát hành
Tổ chức Tín dụng
thông báo
Người được
bảo lãnh
Người thụ hưởng
Beneficence
1
bảo lãnh mà chính tổ chức trung gian chịu trách nhiệm bồi hoàn.
Bảo lãnh đối ứng (Counter Guanrantee) là cam kết của tổ chức tín dụng
trung gian thanh toán cho tổ chức phát hành bảo lãnh. Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp.
(7) Tổ chức tín dụng trung gian bồi hoàn cho tổ chức phát hành.
(8) Bên bảo lãnh đền bù cho tổ chức tín dụng trung gian.
Trong một nghiệp vụ bảo lãnh gián tiếp, người thụ hưởng hoàn toàn
không có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng trung gian thanh toán bảo lãnh.Giữa tổ
chức tín dụng trung gian và người thụ hưởng, hoàn toàn không có quan hệ gì
Như vậy, bảo lãnh gián tiếp cung cấp sự đảm bảo chắc chắn hơn so với
bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng về việc sẽ nhận bồi hoàn khi được bảo
lãnh vi phạm hợp đồng, bởi vì tổ chức phát hành bảo lãnh thường là các tổ chức
tín dụng do người thụ hưởng chỉ định.
* Đồng bảo lãnh:
Trong những thương vụ lớn, khả năng rủi ro cao hay vì những qui định
hạn chế và việc phân tán rủi ro của chính phủ đối với việc bảo lãnh một món lớn
mà một tổ chức tín dụng không thể một mình đứng ra bảo lãnh được. Chính vì
giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có hình thức đồng bảo lãnh.
Đồng bảo lãnh là loại bảo lãnh do nhiều tổ chức tín dụng cùng đứng ra
bảo lãnh phát hành. Trong đó một tổ chức tín dụng sẽ được chọn làm tổ chức
phát hành bảo lãnh chính, các thành viên sẽ cam kết theo từng thành phần đóng
góp của mình bằng các bảo lãnh đối ứng.
Đồng bảo lãnh thường xảy ra đối những dự án liên doanh và việc thi công
những công trình đòi hỏi nhiều công ty tham gia thi công.
15
Qui trình:
(1) Quan hệ hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng
(2) Người được hưởng bảo lãnh chỉ thị cho tổ chức tín dụng bảo lãnh
chính phát hành bảo lãnh
(3) Các thành viên phát hành bảo lãnh đối ứng cho tổ chức bảo lãnh
chính
(4) Căn cứ vào các bảo lãnh đối ứng của các thành viên, tổ chức phát
hành bảo lãnh chính mở bảo lãnh. Người thụ hưởng sẽ được thông báo qua bộ
phận thông báo (nếu có)
hợp đồng hay thay đổi ý định khi đã được trúng thầu. Nếu người dự thầu đã
trúng thầu nhưng không ký hợp đồng thì chủ thầu (Người thụ hưởng) sẽ rút tiền
thanh toán từ bảo lãnh để trang trải cho chi phí đấu thầu, thiệt hại do chậm trễ
tiến độ thi công hay chi phí để tổ chức laị một cuộc đấu thầu khác.
-Trị giá của bảo lãnh: Thông thường có giá trị từ 1- 5% giá trị hợp đồng
đấu thầu.
-Thời hạn hiệu lực:Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh sẽ chấm dứt khi bên
được bảo lãnh (Người tham gia dự thầu ) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết
hợp đồng hoặc chấp nhận ký kết hợp đồng nếu được bên bảo lãnh trúng thầu.
* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Perfommance guarantee):
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là loại bảo lãnh mà các tổ chức tín dụng bảo
lãnh cam kết về việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu. Trong trường hợp nhà
thầu không thực hiện hợp đồng, hoặc không nộp đủ tiền phạt cho chủ thầu thì tổ
chức tín dụng đứng ra bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm trả tiền thay trả thay cho nhà
thầu.
-Mục đích: Trong trường hợp bảo lãnh (nhà thầu) không thực hiện đúng,
đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng thì người thụ hưởng (Chủ thầu) có quyền yêu
cầu thanh toán bảo lãnh. Điều này đảm bảo cho người thụ hưởng tránh được rủi
ro.
-Trị giá bảo lãnh: Tuỳ theo loại hình và qui mô hợp đồng, giá trị bảo thực
hiện hợp đồng từ 10 - 15% tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt, mức bảo
17
lãnh thực hiện hợp đồng có thể yêu cầu trên 15% nhưng phải được người có
thẩm quyền quyết định đầu tư chấp nhận. Tuy nhiên, số tiền bảo lãnh có thể
giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
-Thời hạn hiệu lực: Thư bảo lãnh có giá trị đến ngày hoàn thành hợp
đồng. Thời hạn hiệu lực được xác định cụ thể theo thoả thuận giữi hai bên. Thời
hạn bắt đầu từ ngày kết thúc đấu thầu, kéo dài đến khi hoàn thành hợp đồng như:
hàng hoá đã giao xong, máy móc thiết bị đã được vận hành, công trình đã đưa
vào sử dụng
Cung cấp sự bảo đảm cho nhà thầu (Người thụ hưởng) có thể nhận được
khoản thanh toán một cách thuận lợi đầy đủ, đúng hạn về sản phẩm, hàng hoá
hay dịch vụ đã cung cấp cho chủ thầu (người được bảo lãnh ). Loại bảo lãnh này
có hình thức gần giống với bảo lãnh tín dụng thương mại, nhưng khác nhau về
bản chất và cách truy đòi tiền thanh toán.
- Trị giá bảo lãnh:
Số tiền bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợp đồng.
- Thời gian hiệu lực :
Do các bên thoả thuận.
* Bảo lãnh bảo hành (Maintenance guarantee):
Bảo lãnh hay bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng là
loại bảo lãnh mà tổ chức tín dụng bảo lãnh cam kết với chủ thầu trong trường
hợp nhà thầu vi phạm hợp đồng về chất lượng sản phẩm phải bồi thường cho
chủ thầu mà nhà thầu không bồi thường hoặc bồi thường không đủ thì tổ chức
bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trả thay cho nhà thầu.
-Mục đích:
Loại bảo lãnh này áp dụng chủ yếu trong xây dựng và cho các hợp đồng
cung ứng thiết bị đồng bộ để bảo hành máy móc thiết bị
Trong suốt thời gian có hiệu lực nếu có những sự cố trong phạm vi được
bảo hành xảy ra đối với sản phẩm thì người thụ hưởng có quyền lập chứng từ
yều cầu thanh toán bảo lãnh như một khoản bồi thường.
-Trị giá bảo lãnh: Theo thoả thuận bằng 5- 10% giá trị hợp đồng.
-Thời hạn hiệu lực:
19
Từ lúc bắt đầu lắp ráp sử dụng thiết bị cho đến hết thời thời hạn bảo hành
của thiết bị (Cộng thêm khoảng thời gian hợp lý để người thụ hưởng lập chứng
từ yêu cầu thanh toán).
* Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn:
Hay còn gọi là bảo lãnh tín dụng. Bảo lãnh này phát hành một quan hệ
vay vốn. Tổ chức tín dụng cam kết với bên cho vay trong trường hợp bên đi vay
khách hàng ( bên được bảo lãnh ) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải
nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
4.1 Đối tượng của nghiệp vụ bảo lãnh
Một giao dịch bảo lãnh bao giờ cũng liên quan đến ba bên: Bên bảo lãnh,
bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng. Quan hệ giữa các bên được quy định bởi
ba hợp đồng độc lập, trong đó trong đó thư bảo lãnh chỉ là hợp đồng giữa tổ
chức bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh.
* Người bảo lãnh (Bên bảo lãnh)
Là người phát hành bảo lãnh. Dùng uy tín của mình đứng ra cam kết chịu
trách nhiệm thay trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng hợp
đồng. Trong hoạt động bảo lãnh người bảo lãnh thường là các tổ chức tín dụng,
các ngân hàng, các Công ty tài chính. Có thể chỉ có một tổ chức đứng ra bảo
lãnh một khách hàng nhưng cũng có thể nhiều tổ chức tín dụng cùng tham gia
bảo lãnh một khách hàng.
* Người được bảo lãnh (Bên dược bảo lãnh)
Là người yêu cầu bảo lãnh. Là bên được "Người bảo lãnh" cam kết trả nợ
thay nếu vi phạm hợp đồng. Đối tượng khách hàng được nhận bảo lãnh là:
Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt nam:
+ Doanh nghiệp NN
+ Công ty cổ phần
+ Công ty TNHH
+ Công ty hợp doanh
+ Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức CTXH
+ Doanh nghiệp liên doanh
21
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam
+ Doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể
- Các tổ chức TD được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức TD.
+ Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện tại điều 94 - Bộ luật
độc lập với nhau:
+ Hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh
(Underlying Contract). Đây là hợp đồng chính của giao dịch kinh tế, như hợp
đồng về vốn, hợp đồng thương mại, hợp đồng thi công xây dựng, hợp đồng thiết
kế v.v Từ hợp đồng chính được thoả thuận giữa các bên mới phát sinh nhu cầu
bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
+ Hợp đồng giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh: Là thoả thuận
giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh về việc được bảo lãnh chấp thuận bảo
lãnh và các quy định liên quan đến trách nhiệm hoàn trả của bên được bảo lãnh,
đối với bên bảo lãnh trong trường hợp bên bảo lãnh phải trả thay, cũng như các
hình thức đảm bảo của bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh.
4.2. Chức năng chủ yếu của bảo lãnh
* Bảo lãnh là công cụ bảo đảm ( Security Instrument).
Đây là chức năng quan trọng nhất của nghiệp vụ bảo lãnh. Bằng việc cam
kết chi trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được
bảo lãnh, các tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự bảo đảm chắc
chắn cho người thụ hưởng. Chính sự tin tưởng này đã tạo cho hợp đồng được ký
kết một cách suôn sẻ và thuận lợi.
Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản giữa nhhiệp vụ bảo lãnh và tín
dụng thư thương mại ( tín dụng chứng từ ). Do việc thanh toán dựa trên biến cố
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của người được bảo lãnh ( như giao hàng không
đúng kế hoạch, không đạt chất lượng cam kết và dự kiến, thanh toán tiền không
đúng hạn ) nên trong thực tế tỷ trọng các bảo lãnh được yêu cầu thanh toán
không cao, thông thường chỉ khoảng dưới 5%.
Với chức năng này, nghiệp vụ bảo lãnh thực sự là chất xúc tác giúp cho
các hợp đồng thương mại, xây dựng, giao dịch hàng hoá trong nước và quốc tế
được ký kết một cách thuận lợi. Mặt khác do chịu trách nhiệm thực hiện cam
23
kết, nên các tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh cũng thường xuyên kiểm tra,
giám sát tạo một áp lực nên phía được bảo lãnh giúp thực hiện tốt hợp đồng và
khách hàng của mình thực hiện nghĩa vụ đối với người thụ thụ hưởng như là
theo dõi đôn đốc khoản cho vay trực tiếp.
Tuy nhiên, người thụ hưởng bảo lãnh vẫn mong muốn người được bảo
lãnh thực hiện hợp đồng chứ không mong chờ khoản bồi hoàn tài chính từ người
bảo lãnh. Yêu cầu người bảo lãnh thanh toán là trường hợp cuối cùng mà người
thụ hưởng phải thực hiện.
Ba chức năng trên cho thấy các chức năng cũng như tác động của bảo
lãnh nên đối tượng thụ hưởng. Nghiên cứu chúng cho phép chúng ta phát huy
đầy đủ các chức năng này và vận dụng bảo lãnh có hiệu quả hơn.
* Thư bảo lãnh (Letter of guarantee) hay hợp đồng bảo lãnh giữa các tổ
chức tín dụng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng về việc người bảo lãnh
cam kết thực hiện thay các nghĩa vụ cho người được bảo lãnh, khi người được
bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đối với
người thụ hưởng. Đây là văn bản chính của nghiệp vụ bảo lãnh.
4.3. Nội dung thư bảo lãnh
Phát hành thư bảo lãnh chỉ là một trong các hình thức bảo lãnh của người
phát hành. Tuy nhiên đây là hình thức thông dụng nhất, thông qua thư bảo lãnh
chúng ta có thể hiểu rõ hơn một số khái niệm cũng như nghiệp vụ bảo lãnh.
Theo điều 3UCP 485 các bảo lãnh đều được quy định
+ Bên chỉ thị
+ Bên thụ hưởng
+ Bên bảo lãnh
+ Hợp đồng cơ sở yêu cầu phát hành bảo lãnh
+ Số tiền lớn nhất được thanh toán và loại tiền thanh toán
+ Ngày hoặc sự kiện đáo hạn của bảo lãnh
+ Các điều kiện đòi thanh toán
+ Các điều khoản khấu trừ bảo lãnh (nếu có)
* Một số nội dung thư bảo lãnh:
- Tên, địa chỉ người nhận.
25