LỜI MỞ ĐẦU
Từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động kinh doanh đang đứng trước nhiều vấn đề bức xúc. Một trong
những vấn đề nổi lên hàng đầu là vấn đề bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh sao cho có hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực in ấn nói chung và đối với Xí nghiệp in I - TTXVN ( thông tấn xã Việt Nam )
nói riêng thì một trong những mục tiêu phấn đấu hàng đầu chính là vấn đề bảo toàn
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Có thể khẳng định rằng bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi doanh nghiệp. Bảo toàn và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường với môi
trường cạnh tranh khắc nghiệt thì việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh là một biện pháp quản trọng giúp doanh nghiệp không chỉ đứng vững
mà còn phát triển cả chiều rộng và chiều sâu quy mô sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy nhiên xuất phát từ thực tiễn rất nhiều các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường thực hiện rất kém mục tiêu bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh của mình. Số vốn thu được sau một vòng tuần hoàn vốn lại thường thấp
hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu, công tác quản lý vốn kinh doanh thường lỏng lẻo, các
biện pháp đưa ra thường mang tính chất lý thuyết không gắn với thực tiễn hoạt
động của doanh nghiệp đã làm nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và đi đến bờ vực
của sự phá sản. Trong số các doanh nghiệp đó thì các doanh nghiệp nhà nước
chiếm một phần không nhỏ, điều này là một mỗi trăn trở của các nhà quản lý doanh
nghiệp và cũng là của những người thường xuyên quan tâm đến vấn đề bảo toàn và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp, cần phải có những
hướng đi đúng, những giải pháp hợp lý để công tác bảo toàn và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh thực sự có hiệu quả giúp cho các doanh nghiệp đứng vững
1
trong nền kinh tế thị trường là yêu cầu và khách quan của mọi doanh nghiệp đang
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Yêu cầu làm rõ lí luận cũng như thực tiễn
đối với vấn đề bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các
Như vậy, vốn sản xuất kinh doanh là gì ?
Các nhà kinh tế học từ thời xa xưa đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau
về vốn kinh doanh như sau :
- Theo quan điểm kinh tế học cổ điển : Vốn kinh doanh là yếu tố đầu
vào nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng hình thái vật chất khác
nhau như : tiền, lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,
- Theo quan điểm của Các Mác cho rằng : "Tư bản là giá trị mang lại
giá trị thặng dư". Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế ủng hộ do phản ánh
được đúng bản chất và tác dụng của vốn.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh còn được gọi là một loại
quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp và có các đặc trưng chủ yếu
sau:
Thứ nhất : Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của các tài sản có
giá trị dùng để sản xuất ra một lượng giá trị các sản phẩm khác. Đó là các loại
3
nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Thứ hai : Vốn vận động phải sinh lời. Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một
lượng tiền nhất định, trong quá trình vận động vốn tồn tại dưới nhiều hình thái vật
chất khác nhau. Tuy nhiên, điểm xuất phát và điểm cuối cùng của quá trình tuần
hoàn vốn đều được biểu hiện bằng tiền, nhưng để bảo toàn và sử dụng vốn có
hiệu quả thì đồng vốn bỏ ra phải nhỏ hơn hoặc bằng số tiền thu về.
Thứ ba : Vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong cơ chế thị trường như hiện
nay thì đặc trưng này thể hiện rất rõ, đồng vốn bỏ ra luôn chịu ảnh hưởng của các
yếu tố lạm phát, giảm phát, khủng hoảng, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nên giá trị
của các đồng vốn tại các thời điểm khác nhau là khác nhau.
Thứ tư : Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường mỗi
đồng vốn bao giờ cũng gắn với chủ sở hữu nhất định. Người sử dụng vốn có thể
chưa chắc là người chủ sở hữu vốn do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền
sử dụng vốn. Điều này còn đòi hỏi mỗi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với
bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp. Đối với DNNN thì
vốn được bổ sung từ Ngân sách tức là Nhà nước là chủ sở hữu. Nguồn vốn này
được đánh giá là ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nắm giữ nếu
biết sử dụng hợp lý.
• Nợ phải trả : Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình doanh nghiệp
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải
hoàn trả cả vốn gốc và lãi vay trong một thời gian nhất định, nguồn vốn này được
hình thành từ các khoản nợ vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản
5
nợ người cung cấp, nợ công nhân viên, tiền vay do phát hành trái phiếu hoặc các
khoản nợ phải trả Nhà nước,
Căn cứ theo phạm vi huy động vốn kinh doanh : Cũng được phân
thành hai loại là vốn bên trong và vốn bên ngoài doanh nghiệp.
• Vốn bên trong doanh nghiệp : Là nguồn vốn có thể huy động được từ
hoạt động bên trong doanh nghiệp từ các nguồn như tiền khấu hao TSCĐ, lợi
nhuận để lại doanh nghiệp, các quỹ dự phòng, các khoản thu do thanh lý nhượng
bán TSCĐ, Đây là nguồn vốn quan trọng đảm bảo khả năng tự chủ về tài chính
của doanh nghiệp.
• Vốn bên ngoài doanh nghiệp : Là số vốn mà doanh nghiệp huy động
từ bên ngoài doanh nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình như vốn vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, phát hành trái
và các khoản nợ khác.
1.2- Nguồn hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Tạo ra nguồn vốn là tiền đề vật chất để thực hiện các mối quan hệ kinh tế -tài
chính của doanh nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong quá
trình hoạt động của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Do vậy,
vốn kinh doanh luôn đóng vai trò then chốt trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Nguồn vốn kinh doanh của một doanh nghiệp thường được hình thành bằng các
nguồn khác nhau tuỳ theo loại hình, điều kiện và mục đích kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Thông thường vốn kinh doanh của doanh nghiệp được huy động từ
dài. Nguyên tắc cơ bản mà doanh nghiệp phải thực hiện khi sử dụng nguồn vốn này
là phải sử dụng đúng mục đích, và chứng minh được tính hiệu quả của dự án, phải
có tài sản đảm bảo và phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đầy đủ và đúng thời hạn. Sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn vay tín dụng trong giới hạn cho phép của hệ số nợ sẽ góp
7
phần phân tán bớt rủi ro trong hoạt động SXKD. Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn
vốn này cần đánh giá, phân tích kỹ lưỡng tình hình tài chính cũng như đặc điểm
của từng nhu cầu nhằm đạt hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng lệ thuộc quá nhiều
vào vốn vay.
- Các nguồn vốn khác : Ngoài các nguồn vay chính trên, để đáp ứng yêu
cầu về tài trợ nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp cũng có thể vay vốn từ một số
nguồn như :
• Tín dụng thương mại : Đây là một hình thức quan trọng trong việc đáp
ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Bản chất của hình thức này chính là
việc chiếm dụng vốn hợp pháp của người khác trong một khoảng thời gian nhất
định. Nó xuất phát từ việc doanh nghiệp nhận được hàng hoá hoặc dịch vụ của nhà
cung cấp nhưng lại chưa phải trả tiền ngay, do vậy doanh nghiệp có thể sử dụng số
tiền phải trả đó như một nguồn vốn để tài trợ trong ngắn hạn. Quy mô của nguồn
vốn này phụ thuộc vào giá cả và số lượng của hàng hoá hay dịch vụ mà người bán
đã cung cấp. Sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại có ưu điểm là đơn giản,
thuận tiện. Nếu người cung cấp là bạn hàng quen biết thì khả năng đánh giá rủi ro
của nguồn vốn này là tương đối dễ dàng.
• Sử dụng thương phiếu : Nhằm bổ sung thêm lượng vốn lưu động
trong doanh nghiệp. Đây là một trong những biện pháp thu hút được nguồn vốn
rộng rãi và chi phí là thấp nhất. Tuy nhiên, hình thức này phụ thuộc rất nhiều vào
độ tin cậy của người mua thương phiếu cũng như mức độ dư thừa vốn trong nền
kinh tế.
2- Sự cần thiết của việc nâng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.1- Vấn đề chung về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
ra đầu kỳ. Chỉ khi thực hiện được điều này vốn của doanh nghiệp mới không bị mất
đi và doanh nghiệp mới có thể tái sản xuất giản đơn quá trình sản xuất tiếp theo.
+ Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá cả hàng hoá thay đổi
phải có biện pháp điều chỉnh tăng nguồn vốn để duy trì khả năng sản xuất hiện tại.
Nội dung của công tác bảo toàn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
bao gồm việc bảo toàn vốn cố định và bảo toàn vốn lưu động. Do đặc điểm luân
chuyển vốn chậm, các loại TSCĐ là quan trọng, thiết yếu trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nên bảo toàn và phát triển vốn cố định bao gồm cả việc bảo toàn về mặt
giá trị.
2.2- Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Mỗi doanh nghiệp để thực hiện tốt mục đích kinh doanh của mình phải
thực hiện quá trình kinh doanh có hiệu quả. Trong đó, yếu tố tác động có tính chất
quyết định nhất đến hiệu quả kinh doanh là hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Một đồng vốn bỏ ra phải có khả năng sinh lời, đây là vấn đề cốt yếu, liên
quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì thế tổ chức và sử
dụng vốn có hiệu quả là một yêu cầu khách quan đối với quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nói một cách cụ thể hơn, việc tăng cường công tác tổ
chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xuất phát từ những
lý do chủ yếu sau :
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Vốn là phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết của bất
cứ một doanh nghiệp nào để tiến hành tổ chức các hoạt động đó theo mục đích đã
định. Trong bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào nếu không có vốn thì không
10
thể tiến hành được công việc và mục tiêu đề ra. Ngoài ra, vốn sản xuất kinh doanh
còn là điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng khác để phát triển sản xuất kinh
doanh phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng. Với vai trò quan trọng đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu qua sử dụng vốn,
đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình SXKD
của doanh nghiệp.
vốn
=
Tổng mức luân chuyển vốn
Vốn sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn sản xuất kinh doanh bình quân trong kỳ
quay được bao nhiêu vòng, từ đó có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản và
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn :
Tỷ suất lợi nhuận
vốn
=
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân
trong kỳ
Là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn, phản ánh một đồng vốn
bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.3.2- Vốn cố định :
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hệ số này được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu về tiêu thụ sản phẩm
trong kỳ với số dư bình quân vốn cố định trong kỳ ( là số bình quân giữa giá trị còn
lại của TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ ).
Hiệu suất sử dụng vốn
cố định
= Doanh thu thuần
12
Số dư bình quân vốn cố định trong
kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân có thể tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần từ việc tiêu thụ hàng hoá trong kỳ.
tra
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn cố định còn phải thu hồi để bảo toàn vốn
và phản ánh hiện trạng về năng lực vốn và năng lực sản xuất của đơn vị tại thời
điểm kiểm tra.
13
Trên đây là những chỉ tiêu quan trọng mà các doanh nghiệp dùng để
đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định. Nhưng trong điều kiện hiện nay
của nền kinh tế thì chỉ tiêu “Hiệu quả sử dụng vốn cố định” được coi là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá chất lượng và hiệu quả đầu tư cũng như việc sử dụng
vốn cố định của doanh nghiệp. Bởi mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh đều phải hướng tới lợi nhuận tối đa. Việc hoàn thành kế hoạch sản
lượng phải được đặt trên cơ sở hoàn thành kế hoạch lợi nhuận.
2.3.3- Vốn lưu động :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động
không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất từ khâu
nguyên vật liệu, dự trữ, sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Do đó, các doanh
nghiệp đã chú trọng nhiều đến việc sử dụng vốn lưu động như thế nào cho có hiệu
quả nhất. Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động :
- Mức sinh lời của vốn lưu động :
Mức sinh lời của vốn
lưu động
=
Lợi nhuận ròng
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được từ việc sử dụng
một đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Số vòng quay của vốn lưu động :
Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp
phản ánh trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của
quay của vốn.
Các hệ số sinh lời :
Đây là thước đo được đánh giá hàng đầu dùng để đánh giá hiệu quả và tính
sinh lời của vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Là kết quả của hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp.
Sau đây là một số các hệ số sinh lời :
15
Tỷ suất doanh lợi doanh thu :
Tỷ suất doanh lợi
doanh thu
= Lợi nhuận thuần
Doanh thu thuần
Đây là chỉ tiêu phản ánh một đồng doanh thu thuần từ việc tiêu thụ hàng hoá
trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn :
Tỷ suất doanh lợi
tổng vốn
=
Lợi nhuận thuần
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân
trong kỳ
Là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của một đồng vốn. Phản ánh một đồng
vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu :
Doanh lợi vốn chủ
sở hữu
=
Lợi nhuận thuần
Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của một đồng vốn chủ sở hữu. Tức là
biến động thì hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng. Do vậy, mọi
nhân tố tác động đến việc tổ chức và huy động vốn của doanh nghiệp đến từ bên
ngoài đều ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó. Những tác
động đó có thể xảy ra khi nền kinh tế có lạm phát, sức ép của môi trường cạnh
tranh gay gắt, những rủi ro mạng tính hệ thống mà doanh nghiệp không tránh khỏi,
sức mua của đồng tiền giảm sút dẫn đến sự tăng giá của vật tư hàng hoá. Trong tình
hình đó nếu doanh nghiệp không có biện pháp điều chỉnh kịp thời sẽ làm cho vốn
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mất dần theo tốc độ trượt giá của đồng tiền.
17
2.4.2- Các nhân tố mang tính chất chủ quan :
- Công nghệ và trình độ lao động :
Các đặc điểm về mặt kỹ thuật có tác động đến một số chỉ tiêu quan trọng
phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như : Hệ số đổi mới máy móc thiết bị, thời
gian sử dụng và công suất sử dụng, Nếu công nghệ sản xuất đơn giản, trình độ tay
nghề không cao, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị nhưng
năng suất lao động không cao, chất lượng sản phẩm thấp, không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường tức là doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản
phẩm dẫn đến việc tồn đọng vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu công nghệ sản xuất phức tạp đòi hỏi trình độ tay nghề cao
tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao dễ dàng tiêu thụ, cạnh tranh trên thị
trường, đẩy nhanh vòng quay vốn và tạo ra nhiều lợi nhuận.
- Cơ cấu vốn đầu tư và nhu cầu về vốn của doanh nghiệp :
Cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Một cơ vốn hợp lý sẽ là cho chi phí sử dụng
vốn thấp, hiệu quả của vốn được phát huy. Ngược lại, nếu một cơ cấu vốn không
hợp lý như đầu tư vào các tài sản không hoặc chưa cần sử dụng với số lượng lớn sẽ
làm cho nó không những không phát huy được tác dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh mà còn bị hao mòn, mất mát dần, năng suất đem lại thấp. Cơ cấu vốn
tốt còn thể hiện ở tính cân đối giữa vốn cố định và vốn lưu động. Nếu một doanh
nghiệp đầu tư quá nhiều vào TSCĐ, có thể dẫn đến tình trạng gây lãng phí do
làm giảm hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm về sản phẩm :
19
Sản phẩm chứa đựng yếu tố chi phí cũng như đem lại doanh thu cho doanh
nghiệp. Do đó, nó quyết định đến lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp sản xuất những sản phẩm thông dụng, chi phí đầu tư không cao, dễ mua sắm
đổi mới thiết bị dây truyền công nghệ, dễ dàng tiêu thụ cạnh tranh trên thị trường
thì hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao hơn so với những sản phẩm đòi hỏi công nghệ sản
xuất phức tạp, chi phí đầu tư lớn, thị trường tiêu thụ hẹp.
Trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác tổ chức và sử dụng
vốn hiệu quả trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu xem xét
kỹ lưỡng thận trọng từng nguyên nhân để hạn chế đến mức thấp nhất những hậu
quả xấu có thể xảy ra, đảm bảo huy động vốn kịp thời chi nhu cầu sản xuất kinh
doanh đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
3- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các
doanh nghiệp.
Nhằm cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các doanh nghiệp cần thực
hiện một số giải pháp chủ yếu sau :
- Xác định chính xác nhu cầu về vốn, đặc biệt là vốn lưu động tối thiểu
cần thiết cho doanh nghiệp, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn đáp ứng
cho hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn sản
xuất,, đồng thời doanh nghiệp cần phải có những biện pháp xử lý kịp thời tránh tình
trạng ứ đọng vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Lựa chọn các hình thức thu hút vốn phù hợp, tổ chức khai thác triệt để
có hiệu quả nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho
sản xuất, vừa giảm được chi phí sử dụng vốn vay. Tránh tình trạng vốn tồn đọng
dưới dạng vật tư, hàng hoá không cần sử dụng, kém phẩm chất, mà doanh nghiệp
phải đi vay với lãi suất cao để duy trì sản xuất, chịu sự giám sát của chủ nợ làm
giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Phát huy tích cực vai trò của công tác quản lý tài chính trong việc
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp ở tất cả các khâu trong quá trình sản
xuất, sử dụng vốn một cách linh hoạt để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc tổ chức và sử dụng
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Trong thực tế, do đặc điểm
khác nhau giữa các doanh nghiệp trong từng ngành, từng lĩnh vực cũng như trong
toàn bộ nền kinh tế, nên mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm của mình để
đưa ra các phương hướng, biện pháp cụ thể để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần II
Thực tế tổ chức và công tác bảo toàn
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Xí nghiệp in I - TTXVN
22
1- khái quát chung về Xí nghiệp
1.1- Quá trình hình thành và phát triển
Hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần hoạt
động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Các doanh nghiệp được
thành lập dưới nhiều dạng khác nhau: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp hợp doanh.v.v. Đối với Xí nghiệp in thông I TTXVN là một
đơn kinh tế được thành lập theo quyết định số 67/TTXVN . Tiền thân là tổ in typo
của TTXVN, có tru sở tại số 3 Phan Huy Chú. Tới tháng 9/1983 tổ in typo trở
thành xí nghiệp in, lúc này được trang bị thêm một máy in offset của Tiệp.
Với sự phát triển mạnh của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường cơ sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các thành phần kinh tế
đua nhau phát triển. Cùng với các quy luật cạnh tranh, tác động và chi phối mạnh
mẽ tới sự tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để tồn tại, đứng vững và phát
được trong điều kiện chạnh tranh không liệt này, tử năm 1989 -1991, Xí nghiệp In
I- TTXVN đã đầu tư thêm một số máy in OFFSET hiện đại khổ nhỏ của Nhật phục
Phân xưởng in I
2. Phòng hành chính tổ chức 2.
Phân xưởng in II
3. Phòng tài vụ 3. Phân xưởng chế
bản
4. phòng vi tính 4. Phân xưởng sửa
chữa cơ điện
Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất, qui trình công nghệ sản xuất là nhân tố
cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới công tác tổ chức bộ máy quản lý nói chung và công
24
tác tổ chức quản lý tài chính nói riêng. Do vậy cần phải xem xét qui trình công
nghệ in mà xí nghiệp đang sử dụng. Sản phẩm của xí nghiệp là sản phẩm được sản
xuất trên công nghệ in OFFSET. Qui trình công nghệ in OFFSET phải trải qua
nhiều công đoạn: đầu tiên la công tác chuẩn bị các yếu tố cần thiết cho quá trình
sản xuất khép kín va lần lượt thực hiện các giai đoạn sau:
- Giai đoạn chế bản: bộ phận chế bản la khâu quan trọng trong qui trình công
nghệ in được thực hiện ở phân xưởng chế bản. Các bản thảo, mẫu mã do khách
hàng đưa đến theo hợp đồng đã ký kết đước đưa vào bộ phận sắp xếp theo một
trình tự nhất định rồi được chuyển tới bộ phận sửa - chụp phin - bình bản để tao
nên các tờ in theo từng tiêu chuẩn kỹ thuật và chuyển đến cho bộ phận phơi bản để
hiện hình( ăn mòn) trên bản nhôm.
- Giai đoạn in: Các bản nhôm trên sau khi đi kiểm tra với đầy đủ tiêu chuẩn
kỹ thuật được chuyển cho bộ phận máy in để tiến hành in ra các tờ in theo yêu cầu.
- Giai đoạn gia công: Các tờ in sau đó chuyển đến bộ phận gia công biến
thành sản phẩm in hoàn chỉnh và giao trả khách hàng.
Các giai đoạn này có thể khái quát thành sơ đồ 1
Sơ đồ 1: sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất của xí nghiệp
Phơi bản
in
Khách ký HĐ Phòng kế phiếu Phân