Khoá luận tốt nghiệp
lời nói đầu
Một quốc gia đợc gọi là phát triển khi có nền kinh tế phát triển, trình độ
khoa học tiên tiến, quốc phòng an ninh vững mạnh. Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc là phát huy nội lực của nền sản xuất trong nớc và tiếp
thu những thành tựu KH-KT tiên tiến trên thế giới, đảm bảo sự phát triển bền
vững của đất nớc. Với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, để phù hợp
điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nớc ta hiện nay, tập trung vốn đầu t,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc mở rộng và phát triển là cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác
động mạnh mẽ của quy luật khách quan nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh, Để có thể cạnh tranh đợc, các doanh nghiệp không
những sử dụng hiệu quả nội lực của mình mà còn phải cải tiến máy móc, thiết
bị, dây truyền công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý Do vậy,
đòi hỏi phải có một khối lợng vốn lớn nhiều khi vợt quá khả năng vốn tài chính
của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân
hàng xin vay vốn để đầu t. Ngân hàng cấp tín dụng là đã đáp ứng đợc nhu cầu
vốn cho doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Hoạt động tín
dụng mang tính rủi ro cao nên thất thoát vốn của ngân hàng là lớn khi đến hạn
thu gốc, thu lãi mà cha thu hồi đợc. Để đảm bảo không xảy ra rủi ro, vấn đề đặt
ra là phải theo dõi quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi chặt chẽ, đây chính là công
việc của kế toán cho vay trong ngân hàng. Đây là nghiệp vụ quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn của công tác kế toán tại ngân hàng.
Hiện nay, các ngân hàng đang từng bớc hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ tín
dụng nhằm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Xuất phát từ sự
phát triển của nền kinh tế, hiện nay nớc ta có rất nhiều các doanh nghiệp mới ra
đời trong đó chiếm tỷ trọng lớn là các doanh nghiệp NQD (doanh nghiệp vừa
và nhỏ). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhà nớc cũng đang có xu hớng cổ phần
hoá. Trên địa bàn Hà Nội cũng có rất nhiều các doanh nghiệp NQD. Các doanh
nghiệp này phần lớn mới đợc hình thành nhng chứa đựng nhiều tiềm năng to
lớn, nếu đợc quan tâm đúng mức sẽ phát triển nhanh chóng. Đây là thị trờng tín
chơng i
Nguyễn Thị Phơng Hảo 2
Khoá luận tốt nghiệp
những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và
nghiệp vụ kế toán cho vay trong hệ thống NHTM
1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền
kinh tế thị trờng :
1.1. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng.
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh "Credittum" có nghĩa là sự tín
nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời
sở hữu sang ngời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một l-
ợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Nh vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay và ngời đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thức
tiền tệ hoặc hàng hoá. Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ
tín dụng là mâu thuẫn vốn có quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó
là: Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời d thừa một khoản vốn tiền tệ
trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần vốn, bổ sung vốn. Nếu
tình trạng này không đợc giải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngng trệ
ở chủ thể này trong khi vốn đang nằm im ở các chủ thể khác. Kết quả là
nguồn lực của xã hội không đợc sử dụng một cách có hiệu quả dẫn đến quá
trình tái sản xuất không đợc tiến hành liên tục.
Hành vi tín dụng có thể diễn ra trực tiếp giữa ngời thừa vốn cần đầu t với
ngời cần vốn để sử dụng. Nhng thực tế hai ngời này có thể phù hợp đợc với
nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng
có thể phù hợp đợc thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, bởi vậy, để thoả mãn
đợc nhu cầu của cả hai ngời thì cần thiết phải có ngời thứ ba đứng ra tập
trung tất cả số vốn của những ngời tạm thời thừa, cần đầu t kiếm lời để phân
- Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn trong nền kinh tế, là ngời
trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn góp phần đảm bảo cho quá
trình sản xuất, kinh doanh diễn ra thờng xuyên, liên tục.
Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số
Nguyễn Thị Phơng Hảo 4
Khoá luận tốt nghiệp
doanh nghiệp "thừa vốn" tạm thời do bán hàng hoá có tiền nhng cha có nhu
cầu sử dụng ngay đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn bằng cách gửi số tiền
tạm thời nhàn rỗi đó vào ngân hàng để hởng lãi.
Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng hoá cha
bán đợc, nhng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lơng,
làm nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh đem lại lợi
nhuận.
Để giải quyết mâu thuẫn này, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò trung
gian là nhận gửi tiền của doanh nghiệp tạm thời thừa vốn; đồng thời sử dụng
số tiền đó để cho vay đối với doanh nghiệp thiếu vốn. Rõ ràng với hoạt động
"đi vay để cho vay" tín dụng ngân hàng đã có tác dụng điều hoà vốn trong
nền kinh tế để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh không ngừng phát triển.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung
vốn để mở rộng đầu t và phát triển.
Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích luỹ. Trong thực tế, có những lợng
tích luỹ rất lớn đợc nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Nhng
rất nhiều ngời tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có
cổ phần trong dự án vì ngoài lý do mất khả năng thanh khoản thì ngời tích
luỹ còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về tài chính và pháp lý để thực
hiện trực tiếp đầu t hoặc cho vay. Với hoạt động tín dụng có đủ tin cậy, do
tính chuyên môn hóa cao trong hoạt động tín dụng và đa dạng hoá các danh
mục đầu t thông qua cho nhiều nhà đầu t của nhiều dự án khác nhau vay, từ
đó làm giảm bớt rủi ro cá nhân của những ngời tích luỹ, tạo nên quá trình tập
độ quản lý tiên tiến trên thế giới. Việc cấp tín dụng của các nớc không chỉ
mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thơng, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy
kinh tế các nớc nhập khẩu. Tín dụng đã tạo môi trờng thuận lợi cho đầu t
quốc tế trực tiếp- một hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn.
- Hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy luân chuyển hàng
hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lợng tiền trong lu thông góp phần
điều chỉnh, ổn định, kiểm soát lạm phát và tăng trởng kinh tế.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 6
Khoá luận tốt nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, các nhà đầu t thờng chỉ tập trung vốn đầu t
vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có
sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có
những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh
chóng.
Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy
đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay u đãi, có vai trò quan trọng
trong việc góp phần đảm bảo vốn đầu t cho cơ sở hạ tầng, hình thành các
ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần hình
thành cơ cấu kinh tế tối u. Chẳng hạn, với u đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và
thời hạn vay vốn đối với nông nghiệp, nông thôn đã gúp cho việc xây dựng
cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp nông thôn. Tín dụng góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vì nớc ta là một nớc
đi lên từ nghề lúa nớc nông nghiệp lạc hậu.
Tín dụng còn là phơng tiện để Nhà nớc thực hiện chính sách tiền tệ thích
hợp (thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trờng
mở) để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn(suy thoái, lạm
phát, ). Qua quá trình cho vay khối lợng tiền trong lu thông đợc tăng lên và
khi ngân hàng thu nợ thì khối lợng tiền trong lu thông giảm đi. Nh vậy,
thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng (thu hút vốn và cho vay) sẽ làm
tăng (giảm) khối lợng tiền tệ trong lu thông từ đó sẽ góp phần điều tiết khối
Nhng thành phần này mang tính chất tự thân vận động. Do vậy mục đích
của nó là cạnh tranh có hiệu quả để đạt đợc lợi nhuận cao bằng mọi thủ đoạn
trong sản xuất kinh doanh.
Thứ năm : Các thành phần kinh tế NQD có tính sở hữu t hữu, hiệu quả
sản xuất kinh doanh gắn liền với ngời sản xuất, bộ máy quản lý gọn gàng,
năng động.
Qua các đặc điểm của nền kinh tế NQD ta thấy nó rất phù hợp với sự
phát triển kinh tế của nớc ta hiện nay. Nếu nhà nớc có chính sách và tạo môi
trờng thuận lợi cho khu vực kinh tế này phát triển thì họ đóng góp một tỷ
Nguyễn Thị Phơng Hảo 8
Khoá luận tốt nghiệp
trọng đáng kể cho tăng trởng GDP trong cả nớc, tạo công ăn việc làm cho
ngời lao động góp phần giảm tệ nạn xã hội trong nền kinh tế.
2.2. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Ngày nay, dới sự lãnh đạo của Đảng với đờng lối đổi mới đúng đắn các
thành phần kinh tế NQD đã có chỗ đứng bình đẳng so với doanh nghiệp nhà
nớc. Vị trí quan trọng của nó đã đợc khẳng định trong cơ cấu phát triển kinh
tế nhiều thành phần ở nóc ta hiện nay. Vai trò của nó đợc thể hiện ở các mặt
cụ thể sau:
- Kinh tế NQD đã và đang đóng góp cho nền kinh tế một khối lợng sản
phẩm hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lợng cao. Chuyển sang nền
kinh tế thị trờng, kinh tế NQD đã và đang có nhiều đóng góp đáng kể cho
nền kinh tế đất nớc, góp phần tạo thế cân đối quỹ hàng hoá cho các địa ph-
ơng trong cả nớc, đồng thời còn là nguồn lực chính tạo ra sản phẩm xuất
khẩu, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nớc.
- Phát triển thành phần kinh tế NQD sẽ phát huy đợc mọi tiềm năng của
các doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. Bởi lẽ, nền
kinh tế thị trờng sẽ hoạt động có hiệu quả mang lại lợi ích tốt nhất cho ngời
tiêu dùng và cho xã hội khi có cạnh tranh. Có cạnh tranh thì ngời sản xuất
mới chú trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn để làm thế nào sản
ngoài, nguồn vốn quan trọng nhất để bổ sung vốn cố định và vốn lu động
cho các thành phần kinh tế NQD đó là nguồn vốn tín dụng từ các NHTM.
- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế
nói chung và kinh tế NQD nói riêng thực hiện quá trình tái sản xuất mở
rộng, ứng dụng KH-KT, cải tiến kỹ thuật để sản xuất ra nhiều hàng hoá có
chất lợng cao, giá thành hạ để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trờng
trong nớc, khu vực và quốc tế.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án phát triển kinh tế
đa thành phần, phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt đợc mục tiêu
đổi mới cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế NQD. Đặc biệt nguồn vốn tín dụng
giúp cho các đơn vị có điều kiện thuận lợi mở rộng sản xuất kinh doanh để
theo kịp hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 10
Khoá luận tốt nghiệp
3. Các phơng thức cho vay trong cơ chế tín dụng của tổ chức tín
dụng.
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế, t nhân, cá thể
bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Tín
dụng ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lu động cho các đơn vị, cá nhân vay để
thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Tín dụng trung,
dài hạn nhằm cung cấp vốn đầu t cơ bản hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng cao
năng lực sản xuất, kinh doanh. Mỗi loại tín dụng có nội dung kinh tế, yêu
cầu kỹ thuật nghiệp vụ riêng và nó đợc thực hiện thông qua các phơng thức
cho vay sau:
3.1. Phơng thức cho vay từng lần.
Phơng thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn không thờng xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ
tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng định kỳ hạn nợ
cho mỗi món cho vay. Phơng thức cho vay từng lần có những u, nhợc điểm
sau :
tín dụng để nhận tiền vay. Phơng thức này thuận lợi cho khách hàng có nhu
cầu vay vốn thờng xuyên và ngân hàng cũng có thể kiểm soát đợc các khoản
thu nhập của khách hàng, từ đó biết đợc tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng tơng đối chính xác, đặc biệt là khả năng tài chính.
Nhợc điểm: Do ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín
dụng duy trì trong thời hạn nhất định nên ngân hàng luôn phải duy trì một số
vốn nhất định để sẵn sàng giải ngân cho ngời vay làm cho ngân hàng bị
đọng vốn sử dụng, nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn
của ngân hàng bởi đó là những khoản vốn chết đã không đem lại lợi nhuận
cho ngân hàng mà ngân hàng còn phải trả lãi huy động cho những khoản
vốn đó.
3.3. Phơng thức cho vay theo dự án đầu t.
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu t phát
triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đời sống.
Phơng thức cho vay này áp dụng cho các trờng hợp cho vay vốn trung và
dài hạn.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 12
-
+
Khoá luận tốt nghiệp
3.4. Phơng thức cho vay trả góp.
Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số
lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc đợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ
hạn trong thời kỳ cho vay. Tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của
bên vay sau khi trả đủ nợ gốc và lãi.
3.5. Phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong
phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả
thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, phí phải trả cho hạn
mức tín dụng dự phòng.
Kế toán ngân hàng là hệ thống thông tin phản ánh hoạt động của ngân
hàng. Kế toán ngân hàng cung cấp những số liệu về huy động vốn, sử dụng
vốn, thu nhập, chi phí, lợi nhuận của từng loại nghiệp vụ và của toàn bộ hệ
thống ngân hàng. Qua đó ta có thể thấy đợc ngân hàng hoạt động có hiệu
quả hay không, đồng thời cũng thấy đợc triển vọng của ngân hàng để từ đó
ra những quyết định kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lí
tài sản.
Trong toàn bộ nghiệp vụ kế toán ngân hàng thơng mại thì kế toán cho
vay đợc xác định là nghiệp vụ kế toán có vị trí, vai trò hết sức quan trọng vì
kế toán cho vay là công việc ghi chép phản ánh toàn bộ số tiền ngân hàng
cho vay, thu nợ đối với nền kinh tế. Thông qua đó hình thành các chỉ tiêu
thông tin kế toán phục vụ chỉ đạo hoạt động tín dụng có hiệu quả và bảo vệ
an toàn tài sản cho ngân hàng.
4.1. Vai trò của kế toán cho vay.
- Kế toán cho vay phục vụ cho tăng trởng tín dụng ở mỗi ngân hàng:
Thông qua việc ghi chép phản ánh các khoản cho vay, thu nợ, d nợ, kế toán
cung cấp các thông tin chính xác nhất, đầy đủ nhất về hoạt động tín dụng từ
đó giúp cho lãnh đạo nắm đợc thực trạng tín dụng của đơn vị mình để có
biện pháp chỉ đạo sao cho hoạt động tín dụng ngày một phát triển kể cả về
số lợng và chất lợng.
- Kế toán cho vay góp phần nâng cao chất lợng tín dụng và bảo vệ an
toàn tài sản của ngân hàng: Thông tin kế toán cho vay đã phản ánh đợc khá
chính xác về chất lợng tín dụng thể hiện tình hình nợ quá hạn và nợ khó đòi.
Từ đó giúp cho những nhà quản trị ngân hàng nắm đợc thực chất tín dụng ở
đơn vị mình để có biện pháp kịp thời và nâng cao chất lợng tín dụng. Mặt
khác kế toán cho vay còn là công cụ quan trọng để bảo vệ an toàn toàn bộ số
Nguyễn Thị Phơng Hảo 14
Khoá luận tốt nghiệp
vốn ngân hàng cho nền kinh tế vay thể hiện ở quản lý an toàn hồ sơ cho vay.
Theo dõi chặt chẽ chính xác số nợ thể hiện ở d nợ tài khoản cho vay mà mỗi
sở các chứng từ cho vay hợp lệ, hợp pháp.
Chứng từ kế toán cho vay : Là những căn cứ quan trọng để tính toán và
hạch toán toàn bộ số tiền vay và thu nợ của khách hàng. Bao gồm:
- Chứng từ gốc:
+ Đơn xin vay: Là chứng từ do khách hàng lập để xin vay vốn ngân
hàng, trong đó trình bày rõ mục đích vay, số lợng vốn vay. Đây là căn cứ
ban đầu để ngân hàng xem xét cho vay.
+ Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng thuộc hợp đồng kinh tế trong
đó xác định trách nhiệm giữa ngời cho vay (ngân hàng) với ngời đi vay về
khoản tiền vay theo chế độ tín dụng. Hợp đồng tín dụng là căn cứ pháp lý
quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có xảy ra giữa khách hàng và ngân
hàng.
+ Giấy nhận nợ,
Ngoài ra còn có các giấy cam kết thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh bằng tài
sản cũng nh là những chứng từ gốc về tài sản đảm bảo và là căn cứ để hạch
toán tài khoản ngoại bảng.
Trong các chứng từ gốc thì hợp đồng tín dụng (còn đợc sử dụng dới hình
thức khế ớc vay tiền, sổ cho vay)và giấy nhận nợ là giấy xác định trách
nhiệm pháp lý về khoản nợ ngời vay nhận nợ với ngân hàng và phải hoàn trả
trong phạm vi kỳ hạn nợ. Loại giấy tờ này cần đợc kế toán quản lý tuyệt đối
an toàn.
- Chứng từ ghi sổ: Là những chứng từ dùng trong thanh toán nh:
+ Nếu giải ngân bằng tiền mặt: Phiếu lĩnh tiền.
+ Nếu giải ngân bằng chuyển khoản: Dùng các chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt nh uỷ nhiệm chi, uỷ nhiêm thu
+Nếu ngân hàng chủ động trích tài khoản tiền gửi của ngời vay để thu nợ
thì dùng phiếu chuyển khoản.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 16
Khoá luận tốt nghiệp
+ Nếu ngân hàng thu lãi hàng tháng theo phơng pháp tích số thì dùng
khoản tiền gửi thanh toán ) hoặc cho vay theo một tài khoản - tài khoản vãng
lai.
- Đối với khách hàng mở 2 tài khoản: Tài khoản cho vay theo hạn mức
và tài khoản tiền gửi thanh toán.
Quá trình hạch toán cho vay, thu nợ đợc thực hiện trên tài khoản theo
hạn mức với kết cấu
Bên Nợ: - Ghi số tiền ngân hàng cho vay theo hạn mức đã ký kết
Bên Có: - Ghi số tiền khách hàng trả nợ trên cơ sở tiền bán hàng hay các
khoản thu nhập khác
D nợ: - Phản ánh số tiền khách hàng còn nợ ngân hàng (D nợ cao nhất
bằng hạn mức tín dụng)
Trờng hợp hết d nợ mà khách hàng vẫn nộp tiếp các khoản thu của mình
cho ngân hàng thì kế toán sẽ hạch toán vào TK tiền gửi thanh toán.
- Đối với khách hàng mở một tài khoản - tài khoản vãng lai: Quá trình
hạch toán cho vay, thu nợ đều đợc thực hiện trên tài khoản này. Tài khoản
này vừa mang tính chất tài khoản cho vay nếu nó d nợ, vừa mang tính chất
tài khoản tiền gửi thanh toán nếu nó d có.
Kết cấu của tài khoản vãng lai:
Bên Nợ : Phản ánh toàn bộ số tiền chi trả của đơn vị vay bao gồm cả
khoản chi thuộc đối tợng cho vay của ngân hàng cũng nh các khoản chi trả
không thuộc đối tợng vay của ngân hàng.
Bên Có : Phản ánh toàn bộ thu nhập của khách hàng vay.
D Nợ : Phản ánh số tiền khách hàng (đơn vị vay) nợ ngân hàng.
D Có : Phản ánh số tiền đơn vị gửi tại ngân hàng.
b) Tài khoản Nợ quá hạn.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 18
Khoá luận tốt nghiệp
Trong quan hệ tín dụng giữa ngời vay và ngân hàng không phải bao giờ
ngời vay cũng trả nợ ngân hàng đúng kỳ hạn. Trờng hợp đến hạn trả ngời
vay không đủ khả năng trả nợ và cũng không đợc ngân hàng cho gia hạn nợ
hồ sơ tín dụng và hớng dẫn khách hàng lập các chứng từ kế toán nhận tiền
vay theo quy định.
Sau khi hoàn thành thủ tục giấy tờ cho vay theo đúng quy định, kế toán
căn cứ vào chứng từ để giải ngân nh: giấy lĩnh tiền mặt(nếu giải ngân bằng
tiền mặt) hoặc uỷ nhiệm chi (nếu giải ngân bằng chuyển khoản), kế toán vào
sổ chi tiết hoặc nhập dữ liệu vào máy tính.
Bút toán phản ảnh khi cho vay:
Nợ: TK Cho vay của ngời vay
Có: - TK Tiền mặt (nếu giải ngân bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi của ngời thụ hởng (nếu cho vay bằng chuyển
khoản thanh toán cùng ngân hàng).
- Hoặc TK Thanh toán vốn giữa các ngân hàng thích hợp (nếu cho
vay chuyển khoản thanh toán khác ngân hàng).
Đối với những tài khoản cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố thì căn cứ
vào chứng từ pháp lý xác nhận giá trị tài sản thế chấp cầm cố để ghi Nhập tài
khoản ngoại bảng 994"Tài sản thế chấp cầm cố của khách hàng".
5.2.2. Kế toán giai đoạn thu nợ và chuyển nợ quá hạn.
a) Kế toán giai đoạn thu nợ.
Cơ sở để kế toán thu hồi nợ các khoản vay từng lần là kỳ hạn nợ ghi trên
hợp đồng tín dụng. Việc xác định kỳ hạn nợ của các khoản vay là trách
nhiệm của nhân viên tín dụng, nhng việc theo dõi kỳ hạn nợ để thu hồi nợ là
trách nhiệm của nhân viên kế toán. Do vậy, nhân viên kế toán và nhân viên
tín dụng phải phối hợp để theo dõi tình hình trả nợ của ngời vay theo đúng
Nguyễn Thị Phơng Hảo 20
Khoá luận tốt nghiệp
kỳ hạn đã định; hoặc xử lý chuyển nợ quá hạn nếu ngời vay không có khả
năng trả nợ đúng hạn và không đợc gia hạn nợ.
Theo quy chế tín dụng, đến hạn trả nợ ngời vay phải chủ động nộp bằng
tiền mặt hay trích tài khoản tiền gửi để trả nợ ngân hàng. Nếu ngời vay
không chủ động trả nợ trong khi tài khoản tiền gửi của ngời vay có đủ tiền
hoặc bị phá sản thì ngân hàng có thể tạm giữ tài sản của ngời vay để "xiết
nợ". Trờng hợp này kế toán lập chứng từ để hạch toán số tài sản xiết nợ vào
tài khoản ngoại bảng 995 "Tài sản xiết nợ chờ xử lý".
Ghi Nhập TK 995.
5.2.3. Kế toán thu lãi.
Tính thu lãi cho vay từng lần theo phơng pháp tính lãi đơn. Tiền lãi thu
một lần khi thu nợ gốc. Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc tính dồn, hàng
tháng ngân hàng vẫn tính lãi để hạch toán vào tài khoản "Tiền lãi tính dồn
dự thu", khi ngời vay trả nợ gốc và lãi sẽ tất toán tài khoản này.
Công thức tính lãi:
= x
Hàng tháng kế toán tính lãi và hạch toán vào dự thu lãi:
Nợ: TK Tiền tính lãi dồn dự thu
Có: TK Thu nhập - thu lãi cho vay.
Khi khách hàng vay trả lãi, ngân hàng hạch toán:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu trả bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi (nếu trích từ TK tiền gửi của ngời vay).
Có: TK Tiền lãi cộng dồn dự thu.
Trờng hợp số lãi phải thu đã hạch toán vào tài khoản "Tiền lãi tính dồn
dự thu" đối với những khoản cho vay trong hạn nhng ngời vay không thanh
toán đợc đúng hạn ghi trong hợp đồngtd thì sau 90 ngày kể từ ngày đến hạn
ghi trong hợp đồng tín dụng; hoặc cha đến 90 ngày nhng khoản vay đã
chuyển sang nợ quá hạn, nợ khó đòi thì kế toán lập phiếu chuyển khoản để
ghi giảm thu toàn bộ số tiền lãi dự thu:
Nợ: TK Thu nhập - thu lãi cho vay.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 22
Lãi suất
cho vay
x
5.3.2. Kế toán giai đoạn thu nợ và chuyển nợ quá hạn.
Trong phơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng, việc trả nợ của khách
hàng dựa trên cơ sở vòng quay vốn tín dụng hoặc khách hàng trả nợ theo
từng tháng đợc thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đơn vị vay phải nộp tiền
Nguyễn Thị Phơng Hảo 23
Khoá luận tốt nghiệp
bán hàng cũng nh các khoản thu nhập khác vào bên có của tài khoản cho vay
để trả nợ ngân hàng.
* Thu nợ gốc: Hạch toán thu nợ theo số tiền bán hàng của đơn vị nộp
vào ngân hàng hàng ngày:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu thu bằng tiền mặt).
- Hoặc TK tiền gửi ngời chi trả (nếu thanh toán cùng ngân hàng).
- Hoặc TK thanh toán giữa các ngân hàng (nếu thanh toán khác NH).
Có: TK Cho vay theo hạn mức của ngời vay.
* Kế toán chuyển nợ quá hạn: Nếu hết tháng đơn vị vay không hoàn
thành kế hoạch trả nợ và cũng không đợc xem xét để chuyển sang thu tiếp ở
tháng kế tiếp thì kế toán chuyển số tiền còn nợ đó sang tài khoản nợ quá hạn
và áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
Nợ: TK Nợ quá hạn thích hợp.
Có: TK Cho vay- TK vãng lai của ngời vay.
Số tiền đơn vị còn nợ ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ thời điểm
nào thì kế toán tính lãi suất nợ quá hạn tại thời điểm đó.
Khi ngời vay trả nợ quá hạn:
Nợ: - TK Tiền mặt (nếu trả bằng tiền mặt).
- Hoặc TK Tiền gửi của ngời vay.
Có: TK Nợ quá hạn thích hợp.
5.3.3. Kế toán thu lãi.
Do không định kỳ hạn cụ thể cho từng món nên việc tính lãi và thu lãi
TK cho vay đợc tính theo phơng pháp tích số và thu hàng tháng. Việc tính và
thu lãi đợc cố định vào một ngày nhất định trong tháng (thờng là vào ngày
định theo công thức:
Mức cho vay còn lại = Hạn mức tín dụng - d nợ thực tế
Khi kết thúc hợp đồng tín dụng thì ngân hàng và khách hàng có thể tiến
hành thanh lý hợp đồng tín dụng. Việc thanh lý hợp đồng tín dụng với nội
dung chủ yếu là xem tình hình thực hiện kế hoạch trả nợ của doanh nghiệp.
Trớc hết ngân hàng phải tính thời hạn cho vay thực tế để so sánh với thời hạn
cho vay kế hoạch.
Nếu khách hàng thực hiện tốt kế hoạch trả nợ, d nợ cuối kỳ là lành
mạnh, đảm bảo khả năng trả nợ thì ngân hàng và khách hàng thoả thuận
chuyển toàn bộ số nợ đó sang hạn mức tín dụng mới.
Nguyễn Thị Phơng Hảo 25