LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày
càng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, kể từ khi Việt
Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986. Việt
Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -
Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư
song và đa phương khác. Đặc biệt từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là mốc son quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đánh dấu cho việc
hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường quốc tế nói chung và trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng nói riêng. Để nắm bắt được những cơ hội cũng như chủ
động đối phó với các thách thức trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã và đang
tiến hành cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Để có thêm kiến thức về vấn đề
này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cán cân thanh toán của Việt Nam và các nguyên
nhân cũng như giải pháp cho sự thâm hụt cán cân thương mại quốc tế của Việt
Nam.
Trang 1
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế
(CCTTQT)
1.1 Khái niệm
Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment) được hiểu là bảng kế
toán tổng hợp các luồng vận động về hàng hoá dịch vụ , tư bản… của một quốc
gia với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất định. Những giao dịch
này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước
hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa,
dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi
trị. Ví dụ, nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu
tư từ nước ngoài đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất
khẩu nhiều tiền tệ ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so
với ngoại tệ.
2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế
2.1. Các thành phần của cán cân thanh toán
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm
1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
• Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng
hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản.
• Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và
tài sản tài chính.
• Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
• Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương.
Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ,
nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo
nên.
• Mục sai số
Trang 3
Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi
chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi
trong cán cân thanh toán như là mục sai số.
2.2. Các bộ phận của cán cân thanh toán
• Cán cân vãng lai (current balance)
• Cán cân vốn (capital balance)
• Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)
• Cán cân cơ bản (basic balance)
• Cán cân tổng thể (overall balance)
2.2.1. Cán cân vãng lai
nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập
khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho
nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân
có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá
cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước
ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì
nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam
tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ
nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
+ Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc
gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy
nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng.
Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố
tự định.
+ Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh
hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên
thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả
của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở
nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên
sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất
Trang 5
khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có
lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên. Ví dụ, một bộ
ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và một bộ ấm chén tương đương của
Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1
CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 66.000 VND trong khi
bộ ấm chén tương đương của Việt Nam là 70.000 VND. Trong trường hợp này
ấm chén nhập khẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất già
và tỷ giá hối đoái thay đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén
chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư
trú chuyển cho người không cư trú và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng
lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú với người
không cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được
ghi vào bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào
bên nợ (-). Nhân tố chính ảnh hưởng lên chuyển giao vãng lai một chiều là lòng
tốt, tình cảm giữa người cư trú và người không cư trú.
Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một
chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô
hình (invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :
Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình
Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm
phát sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho
người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả
Trang 7
các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp
chung vào trong tính toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương
mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với
một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng
từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất
khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước,
nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành
cán cân thanh toán. Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều
hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai
thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài
khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để
thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF,
giá (tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện.
2.2.3. Cán cân cơ bản
Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thu
nhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sản giữa
người cư trú với người không cư trú. Chính vì vậy tình trạng của cán cân vãng
lai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt là lên tỉ giá
Trang 9
hối đoái của nền kinh tế.
Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ bản. Tính
chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉ giá hối
đoái. Chính vì vậy cán cân cơ bản được các nhà phân tích và hoạch định chính
sách kinh tế quan tâm.
Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn
Những hạng mục hay thay đổi như vốn ngắn hạn và thay đổi dự trữ ngoại
2.2.4. Cán cân tổng thể (overall balance)
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và sai
sót bằng không ) thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai và cán cân
vốn. Trong thực tế do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trình
thu nhập số liệu và lập CCTTQT do đó thường phát sinh những nhầm lẫn và sai
sót. Do đó cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai
và cán cân vốn và hạng mục sai sót trong thống kê. Ta có :
Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai +cán cân vốn + nhầm lẫn và sai sót
2.2.5. Cán cân bù đắp chính thức(official finacing balance)
Cán cân bù đắp chính thức (OFB) bao gồm các hạng mục :
- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR)
- Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L)
- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiền của
quốc gia lập cán cân thanh toán (≠)
OFB = ΔR + L + ≠
thặng dư, thâm hụt CCTTQT là nói đến thặng dư thâm hụt của một hoặc của
một nhóm các cán cân bộ phận chứ không nói đến toàn bộ cán cân.
Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của CCTTQT được xác
định theo hai phương pháp:
Phương pháp xác định thặng dư thâm hụt của từng cán cân bộ phận.
Phương pháp tích lũy.
3.1. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại
TB=X-M
Trang 11
Như vậy cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị
nhập khẩu về hàng hóa
Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú > chi cho người không cư trú
- Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ
Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú < chi cho người không cư trứ
- Cung ngoại tệ < cầu ngoại tệ
Việc phân tích diễn biến cán cân thương mại có vai trò to lớn trong
nền kinh tế, bởi vì: Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãng
lai, Thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng
của cán cân vãng lai. Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động
của cán cân vãng lai. Điều này xảy ra là vì, cơ quan hải quan thường cung cấp
kịp thời các số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa, trong khi đố việc thu thập các
số liệu về dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai thường diễn ra chậm hơn,
tức là có một độ lệch về thời gian nhất định.
Do tầm quan trọng của cán cân thương mại, cho nên hầu hết các nước
phát triển thường công bố tình trạng cán cân này hàng tháng.
Để cân bằng cán cân thương mại, các biện pháp chủ yếu thường được
áp dụng sẽ tác động vào lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua các hình thức
Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:
( X- M + Se + Ic + Tr ) = 0
Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó
chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức: R= 0
- Kl + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra
+ TH1: Kl < 0 và Ks > 0. nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào càng
lớn và được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực
thanh toán của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng áp suất và
giảm giá nội tệ
+ TH2: Kl > 0 và Ks < 0. nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng
Trang 13
lớn và được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường
kinh tế vĩ mô ổn định hơn để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất va thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế quốc gia.
CA = 0 trong ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các khoản đầu tư dài hạn coi như không đổi, nghĩa là
Kl=0, Ks + R = 0 có 2 khả năng xảy ra:
+ TH1: R > 0 và Ks < 0. Dây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy ra
được bù đắp bởi sự giảm sút của dự trữ ngoại hối quốc gia. Trong thực tế tình
huống này có thể xảy ra trong ngắn hạn, khi NHTW nỗ lực cân đối các luồng
vốn ngắn hạn có tính đầu cơ chảy ra nước ngoài bằng cách can thiệp bán dự trữ
trên thị trường noại hối nhằm bảo vệ tỷ giá, tức ngăn ngừa nội tệ giảm giá. Do
vậy cho dù trang thái cán cân vãng lai là cân bằng, nhưng vẫn tồn tại áp lực
giảm giá nội tệ hoặc phải tăng lãi suất nội tệ, nếu NHTW không tiếp tục can
thiệp bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
+ TH2: R < 0 và Ks > 0. Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy
vào làm tăng ngoại hối dự trữ quốc gia. Trong thực tế, tình huống này có thêr
xảy ra, khi NHTW tăng mức lãi suất của nội tệ để ngăn ngừa các luồng vốn
ngắn hạn chạy ra và thu hút thêm các luồng vốn ngắn hạn chạy vào nhằm bảo vệ
dấu hiệu tích cực.
*) Các chính sách thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp là giải pháp
cơ bản cho vấn đề này.
Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà
luồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán
cân cơ bản trở lên thặng dư. Có hai cách để nhìn nhận vấn đề thặng dư của cán
cân cơ bản như sau:
- Cách thứ nhất cho rằng, do được phía nước ngoài tin tưởng nên quốc
gia có khả năng nhập khẩu được nhiều vốn dài hạn, do đó không có vấn đề gì
phải lo lắng khi cán cân vãng lai bị thâm hụt.
- Cách thứ hai cho rằng, thặng dư cán cân cơ bản là một vấn đề phải
xem xét, bởi vì việc một quốc gia nhập khẩu vốn dài hạn sẽ phải thanh toán các
Trang 15
khoản lãi suất, cổ tức và lợi nhuận trong tương lai. Điều này có thể làm cho cán
cân vãng lai trở lên xấu đi trong tương lai.
3.4. Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể
Cán cân tổng thể phản ánh bức tranh các hoạt động của Ngân hàng
Trung ương trong việc tài trợ cho sự mất cân đối cuối cùng của nền kinh tế.
OB= X-M + Se + Ic +Tr + Kl + Ks
OB = - OFB
Cán cân tổng thể có ý nghĩa vì: (i) Nếu thặng dư nó cho biết số tiền có
sẵn để một quốc gia có thể sử dụng để tăng dự trữ ngoại hối; (ii) Nếu thâm hụt
nó cho biết số tiền một quốc gia phải hoàn trả bằng việc bán ngoại hối.
Khái niệm thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể chỉ thích hợp đối với
quốc gia áp dụng tỷ giá cố định mà không thích hợp đối với quốc gia áp dụng tỷ
giá thả nổi. Sở dĩ vậy là do, nếu áp dụng tỷ giá thả nổi thì tỷ giá hoàn toàn tự do
biến động và như thế thì cán cân tổng thể luôn có xu hướng vận động về trạng
thái cân bằng , vì Ngân hàng trung ương không can thiệp mua vào hay bán ra
đồng tiền của mình, do đó dự trữ ngoại hối không thay đổi.
Xuấ
t khẩu
Nhập
khẩu Cán cân thương mại
30,119
.2
14,4
82.7
15,636
.5 -1,153.8
31,247
.1
15,0
29.2
16,217
.9 -1,188.7
36,451
.7
16,7
06.2
19,745
.6 -3,039.5
45,405
.1
20,1
49.3
25,255
.8 -5,106.5
58,453
.8
năm 2000, thâm hụt cán cân thương mại chỉ ở mức 1,153.8 triệu USD thì đến
năm 2008 con số này đã lên tới 18,028.7 triệu USD (tăng gấp 15 lần so với năm
2000. Nhìn vào xu hướng đó có thể thấy thâm hụt cán cân thương mại hàng hoá
của Việt Nam ngày càng gia tăng.
Trong 8 tháng đầu năm 2009, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các
Trang 18
mặt hàng chủ lực và thị trường xuất khẩu chủ yếu được duy trì. Tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt 79,13 tỷ USD, giảm 22,7% so với cùng kỳ
năm 2008. Trong đó, xuất khẩu là 37,06 tỷ USD, giảm 14,6% và nhập khẩu là
42,08 tỷ USD, giảm 28,7%. Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực như
hàng dệt may, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện… tăng trưởng đều vào các tháng trong quý III/2009. Bên cạnh đó, giá xuất
khẩu bình quân của nhiều mặt hàng chủ lực đã tăng dần lên so với những tháng
đầu năm. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân trong Quý
III/2009 đạt 4,6 tỷ USD/tháng cao hơn so với mức bình quân 4,5 tỷ USD/tháng
trong Quý II nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức bình quân 5,98 tỷ
USD/tháng của cùng kỳ năm 2008. Tính chung 9 tháng, nhập siêu là hơn 6 tỷ
USD chiếm gần 16% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.
Xuất khẩu:
* Quy mô và tốc độ.
Tháng 8/2009, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước là 4,52 tỷ USD, giảm
5,9% so với tháng 7/2009.Trong đó, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là 2,10 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước; nâng tổng kim ngạch xuất
khẩu của khu vực này 8 tháng lên 14,61 tỷ USD và chiếm 39% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước.
* Một số mặt hàng xuất khẩu chính.
- Hàng dệt may: Trong 8 tháng năm 2009, Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác lớn
nhất của hàng dệt may Việt Nam với trị giá đạt 3,25 tỷ USD và chiếm tới 55,2%
tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Đứng thứ hai là thị
Tính đến hết tháng 8/2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang hầu hết các
châu lục đều tăng trên 20% so với cùng kỳ năm 2008 (trừ Châu Mỹ). Trong đó,
lượng gạo xuất khẩu sang Châu Á đạt 2,66 triệu tấn, tăng 22,4% và chiếm 57%
tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước; sang châu Phi: 1,13 triệu tấn, tăng 124%;
sang châu Mỹ: 387 nghìn tấn, giảm 12%; sang Châu Đại Dương: 267 nghìn tấn,
tăng mạnh 317%; sang châu Âu: 182 nghìn tấn, tăng 83,2% so với cùng kỳ năm
2008.
- Cao su: Tháng 8/2009, tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước là 410
nghìn tấn, kim ngạch là 603 triệu USD, giảm 42,4% so với cùng kỳ năm 2008.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cao su của Việt
Nam trong 8 tháng qua với 285 nghìn tấn, chiếm 69,4% tổng lượng cao su xuất
khẩu của cả nước. Tiếp theo là Hàn Quốc: 18,1 nghìn tấn, Malaixia: 16,9 nghìn
tấn, Đài Loan: 13,5 nghìn tấn, Đức: 11 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 8,7 nghìn tấn,…
- Cà phê: Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 8
tháng qua là Bỉ: 118,7 nghìn tấn, Đức: 92,4 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 86,3 nghìn tấn,
Italia: 78,7 nghìn tấn, …
- Gỗ & sản phẩm gỗ: tháng 8/2009, xuất khẩu mặt hàng này đạt 208 triệu
USD, giảm nhẹ 0,3% so với tháng trước. Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm
hàng này của Việt Nam 8 tháng/2009 lên 1,55 tỷ USD, giảm 15,3% so với cùng
kỳ năm 2008.
Hết tháng 8, Hoa Kỳ tiếp tục trở thành thị trường nhập khẩu nhóm hàng
này nhiều nhất của Việt Nam với 664 triệu USD, tiếp theo là thị trường EU: 344
triệu USD, Nhật Bản: 231 triệu USD, Trung Quốc: 96 triệu USD,…
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: Dẫn đầu về nhập khẩu
nhóm hàng này của Việt Nam trong 8 tháng qua vẫn là thị trường Hoa Kỳ với
278 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản: 230 triệu USD, Thái Lan: 181 triệu USD,
Trung Quốc: 150 triệu USD, Singapore: 108 triệu USD, Hà Lan: 107 triệu USD,
…
Nhập khẩu.
Hoa Kỳ: 110 triệu USD, giảm 5,4%; Trung Quốc: 109 triệu USD, tăng 35,2%;
… so với 8 tháng 2008.
- Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày: trong tháng nhập
khẩu là 573 triệu USD, giảm 11,6% so với tháng 7/2009 (tương đương giảm 75
triệu USD về số tuyệt đối). Trong đó trị giá nhập khẩu vải là 327 triệu USD,
giảm 13,6%, nguyên phụ liệu dệt may: 131 triệu USD, giảm 15,2%, xơ sợi dệt
giảm 2,5% và lượng bông nhập khẩu giảm 4,2%.
Hết tháng 8/2009, nhóm hàng này đạt kim ngạch là 4,64 tỷ USD, giảm
13,8% so với cùng kỳ năm 2008. Các thị trường chính cung cấp nguyên liệu,
phụ liệu ngành dệt may, da giày cho Việt Nam trong 8 tháng qua là: Trung
Quốc: 1,3 tỷ USD, Đài Loan: 946 triệu USD, Hàn Quốc: 905 triệu USD, Nhật
Bản: 302 triệu USD, Hồng Kông: 270 triệu USD,…
- Xăng dầu:
Biểu đồ: Giá bình quân nhập khẩu xăng dầu háng 1 đến tháng
8/2009
Hết tháng 8/2009, cả nước nhập khẩu 8,75 triệu tấn xăng dầu các loại,
giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân nhóm hàng này
Trang 23
giảm mạnh so với cùng kỳ 2008 nên kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt hơn 4 tỷ USD,
giảm tới 55,7%.
Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 8 tháng qua chủ yếu có
xuất xứ từ Singapore với hơn 3,4 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 1,69 triệu tấn,
Trung Quốc: 1,59 triệu tấn, Hàn Quốc: 836 nghìn tấn, Nga: 416 nghìn tấn, Thái
Lan: 350 nghìn tấn
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu trong tháng
8/2009 là 338 triệu USD, nâng tổng trị giá nhập khẩu 8 tháng/2009 lên 2,29 tỷ
USD, giảm 4,7% so với cùng kỳ 2008.
Tính đến hết tháng 8 năm 2009, Trung Quốc là thị trường dẫn đầu về
nghìn chiếc, chiếm trên 50% lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước.
Biểu đồ : Lượng nhập khẩu ô tô từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2009
Trị giá nhập khẩu linh kiện & phụ tùng ô tô trong tháng 8 đạt 158 triệu
USD, giảm 11,4% so với tháng 7, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này
8 tháng /2009 lên 935 triệu USD.
1.2. Cán cân dịch vụ (SE)
Xuất nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 ( đơn vị: triệu USD)
6
tháng đầu
năm
6 tháng
đầu năm
6 tháng
đầu năm 2009
2008
2009
(thực hiện)
(so với
cùng kì năm
2008)
Xuất khẩu 3682 2737 74.3
Dịch vụ hàng không 562 359 62.4
Trang 25