một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm bao bì xi măng của công ty cổ phần công nghiệp thương mại sông đà - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế, các doanh nghiệp
Việt Nam đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng phải đương đầu với rất
nhiều khó khăn và thử thách. Sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trên thị trường
cũng như việc xóa bỏ hàng rào thuế quan trong tương lai gần đã tạo nên sức ép
buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chú trọng vấn đề chất lượng sản phẩm,
coi chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của mình.
Chất lượng sản phẩm ngày nay đã trở thành một trong những nhân tố cơ
bản quyết định sự thành bại trong cạnh tranh, quyết định sự tồn tại và phát triển
của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp
thành đạt thường là những doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề chất lượng, thực
hiện và duy trì các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với nhu
cầu khách hàng và nhu cầu thị trường.
Nhận biết rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm, tập thể
Cán bộ công nhân viên của Công ty Cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà
mong muốn cải tiến liên tục chất lượng của sản phẩm bao bì xi măng. Vì vậy
trong thời gian thực tập lại Công ty cùng với sự hướng dẫn của Cô giáo em đã
quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm bao bì xi măng của Công ty Cổ phần công nghiệp thương mại Sông
Đà”.
Chương I: Khái quát về Công ty cổ phần Cổ phần công nghiệp thương
mại Sông Đà
Chương II: Thực trạng về tình hình chất lượng sản phẩm bao bì và công
tác quản lý chất lượng sản phẩm của Công ty Cổ phần công nghiệp thương mại
Sông Đà
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm bao
bì của Công ty Cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà.
Đây là lần đầu tiên áp dụng những kiến thức đã được học vào giải quyết
vấn đề thực tiễn nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và quý vị trong ngoài Công ty.
Em xin chân thành cảm ơn !

2
tại xã Yên
Nghĩa- Huyện Hoài Đức- Tỉnh Hà Tây. Nâng công suất lên 18.000.000 vỏ
bao/năm.
Ngày 07/04/2003, Công ty cổ phần bao bì Sông Đà (nay là công ty cổ
phần Công nghiệp Thương mại Sông Đà) được thành lập theo Quyết định số 383
của Bộ trưởng Bộ xây dựng với số vốn điều lệ là 4.000.000.000 đồng.
Trong đó: -Vốn nhà nước: 2.180.400.000 đ chiểm tỷ lệ 54,41%
-Vốn CBCNV : 1.819.600.000đ chiếm tỷ lệ 45,49%
Năm 2003, Công ty cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà được là
một trong hai đơn vị đầu tiên của Tổng công ty Sông Đà được cổ phần hóa. Sau
cổ phần hóa, công ty có điều kiện hơn để đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ mở
rộng sản xuất, sắp xếp bộ máy quản lý hợp lý hơn nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Với dây chuyền thiết bị công nghệ
hiện đại, đội ngũ kỹ sư, công nhân có tay nghề cao, công ty có thể đáp ứng trên
40 triệu sản phẩm đạt chất lượng/năm.
Thực tế trong ba năm hoạt động theo mô hình cổ phần hóa, công ty đã
thực sự nâng cao được năng lực cạnh tranh và sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Mặc dù đã gặp không ít khó khăn nhưng công ty đã có những chiến lược hợp lý,
kịp thời trong mở rộng thị trường tìm kiếm bạn hàng. Mặt khác công ty tăng
cường công tác quản lý, sắp xếp tinh gọn bộ máy quản lý, tiết kiệm nguyên,
nhiên vật liệu; tích cực áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật đổi mới qui trình
sản xuất để giảm giá thành sản phẩm. Ngoài ra công ty còn mở rộng thêm một
số ngành nghề kinh doanh mới. Bên cạnh đó, công ty đã tích cực triển khai đồng
bộ việc quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001-2000 được tổ chức Quacert chứng
nhận, sản phẩm bao bì của đơn vị đã có uy tín trên thị trường. Nhờ đó, giá trị sản
lượng, doanh thu hàng năm không ngừng tăng lên.
2. Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp:
Công ty cổ phần Công nghiệp Thương mại Sông Đà là một doanh nghiệp
thành viên hoạch toán độc lập của Công ty Sông Đà 12 thuộc Tổng công ty Sông

vực theo sự chỉ đạo, phân công của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc
và Pháp luật về nhiệm vụ được giao, Công ty có 2 Phó giám đốc, một phụ trách
kỹ thuật, một phụ trách kinh tế.
Dưới các phòng ban đều có trưởng, phó phòng phụ trách công tác hoạt
động của mình. Tại các phân xưởng có quản đốc và phó quản đốc chịu trách
nhiệm quản lý, điều hành sản xuất trong phân xưởng.
4. Qui trình sản xuất sản phẩm vỏ bao bì xi măng:
Công ty cổ phần bao bì Sông Đà thành lập với mục đích sản xuất vỏ bao xi
măng, phức nhựa PP, tráng giấy Krap trên cơ sở sử dụng các loại nhựa PP phục
vụ chủ yếu cho các công ty xi măng, quy trình công nghệ hiện đại, chế biến liên
tục qua các công đoạn nhất định. Quy trình đó được thể hiện cụ thể trong từng
sơ đồ.
Quy trình công nghệ chế tạo vỏ bao xi măng
Quy trình công nghệ sản xuất đơn giản nhưng chúng lại có mối liên hệ
móc xích liên tục qua các công đoạn nhất định. Quy trình này được khái quát
qua 4 công đoạn chính như sau:
- Công đoạn 1: Kéo sợi bắt đầu từ những nguyên vật liệu chính là những
hạt nhưa đem kéo thành sợi.
- Công đoạn 2: Dệt bao ống PP từ công đoạn 1 chuyển sang
- Công đoạn 3: Đưa tất cả các nguyên vật liệu lên máy dựng bao liên hoàn
gồm: vải dệt PP, giấy KRAP làm vỏ, giấy ruột, mực in, dán chế bản của mẫu
bao. Khi tất cả các nguyên vật liệu đầy đủ được đưa vào đúng vị trí, người công
nhân chỉ cần nhấn nút thì máy dựng bao liên hoàn sẽ cho ra sản phẩm đã được
in, được cắt cạnh, lồng gấp, tạo miệng.
- Công đoạn 4: Từ công đoạn 3 chuyển sang bộ phận may bao, từ bộ
phận này sẽ đưa ra sản phẩm hoàn chỉnh để xuất ra ngoài thị trường.
5. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty từ năm 2004-2006 .
Qua bảng Kết quả sản xuất kinh doanh (Bảng số 1) ta thấy:
Về giá trị tổng sản lượng: Giá trị tổng sản
lượng tăng rất đều qua các năm, cụ thể là năm 2005/2004 tăng 23,11%, và sang

và tăng cường vốn lưu động để đẩy mạnh công tác lưu thông và tiêu thụ hàng
hóa (vốn lưu động tăng với tốc độ khá cao là 4,46% năm 2005 và 8,77 năm 2006
)
Về lợi nhuận: Lợi nhuận của Công ty liên tục tăng với năm 2005 so với
2004 là 321 triệu (khoảng 25,02%) và đặc biệt chú ý là năm 2006 lợi nhuận tăng
với tốc độ rất lớn là 99,37% từ 1.604 tr.đ lên 3.198 tr.đ. Sở dĩ có việc tăng
trưởng mạnh về mặt lợi nhuận như trên là do Công ty đã thực hiện tốt việc quản
lý chi phí đầu vào.
Do kết quả sản xuất kinh doanh có hiệu quả nên số tiền nộp cho ngân sách
Nhà nước cũng tăng tương ứng với tỷ lệ tăng của lợi nhuận. Tỷ lệ tăng qua ba
năm tương ứng là 37,44% (khoảng 683 tr.đ) của 2005/2004 và 101,27% (khoảng
2.539trđ) của năm 2006/2005.
Thu nhập nguời lao động: Tăng lên hàng năm với tốc độ bình quân
4,85%/năm. Tuy công ty còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn rất quan tâm đến
đời sống và các chế độ cho người lao động.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tiêu thụ phản ánh cứ một đồng doanh thu
thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này của Công ty qua ba năm
2004-2006 không có biến động nhiều, trung bình là 2,75%.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh có nhiều thay đổi theo chiều hướng
có lợi cho Công ty. Năm 2005 là 3,062% tăng so với 2004 (2,525%) là 21,6% và
năm 2006 (5,753%)so với 2005 là 87,29%. Tuy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn kinh
doanh là không lớn nhưng nếu so về tốc độ tăng trưởng thì đây là một kết quả
thể hiện công ty đang làm ăn có lợi nhuận và số lợi nhuận tăng mạnh qua các
năm.
Để có được những kết quả trên trước tiên do sự chỉ đạo sáng suốt của ban
lãnh đạo công ty trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường, mạnh dạn đầu tư vào
máy móc thiết bị mở rộng sản xuất. Tiếp đến là đội ngũ nhân viên giàu kinh
nghiệm, tài năng và có sức vươn lên trong công ty. Bên cạnh đó phải kể đến tinh
thần đoàn kết nhất trí trong toàn bộ CBCNV luôn phát huy phong trào sáng kiến
tiết kiệm trong sản xuất.

hệ qua lại với tính kinh tế của sản phẩm. Sản phẩm làm ra đạt thông số kỹ thuật
nhưng đồng thời phải đẩm bảo được tính kinh tế - xã hội. Tức là với chi phí có
thể chấp nhận được và đồng thời được bạn hàng ưa dùng.
2. Về nhân lực
Trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, lao động của con người là yếu tố
có tính chất quyết định nhất. Sử dụng tốt nguồn lao động, biểu hiện trên các mặt
số lượng và thời gian lao động, tận dụng hết khả năng lao động kỹ thuật của
người lao động là một yếu tố hết sức quan trọng làm tăng khối lượng sản phẩm,
giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chính vì lao động là tính chất quyết định nên việc đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực luôn là định hướng,chiến lược phát triển hàng đầu. Do đó trong
năm 2005, bên cạnh từng bước tinh giảm biên chế, mở rộng các dịch vụ kinh
doanh, ban lãnh đạo đã chú trọng đến việc đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân
viên nhằm nâng cao kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn, tạo điều kiện tốt nhất cho
việc hoàn thành nhiệm vụ của Công ty.
Qua bảng số 2 về cơ cấu nhân lực đã có sự giảm dần qua các năm 2004-
2006, điều này thể hiện công việc giảm biên chế theo yêu cầu của cổ phẩn hoá
các doanh nghiệp nhà nước.
Số lao động 2005 so với năm 2004 giảm từ 250 người xuống còn 242
người giảm tương ứng là 3,2%.
Số lao động 2006 so với năm 2005 giảm từ 242 người xuống còn 235
người giảm tương ứng là 2,89%.
Trong cả giai đoạn 2004-2006 tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động là
43,15%(trung bình khoảng 140 lao động), trong khi đó số lao động nam là 104
lao động (chiếm khoảng 56,85%). Số lao động nữ khá cao là do đặc điểm sản
xuất sản phẩm của Công ty, nhất là trong công đoạn Kéo sợi, Dệt, May.
Qua bảng trên ta cũng dễ dàng nhận ra rằng: Năm 2004 -2006 số lao động
có trình độ Đại học liên tục tăng. Từ 7,3% năm 2004 (khoảng 18 lao động) đã
tăng lên 7,8% (19 lao động)năm 2005 và tiếp tục tăng đến 8,51% năm 2006(20
lao động). Đây là kết quả sự quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng nguồn

công nhân sản xuất là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm.
Công nhân có tay nghề cao được giao trách nhiệm đảm nhận phần công việc ở
những khâu quan trọng, đòi hỏi tay nghề cao nhằm đảm bảo công việc hoàn
thành ở mức tối đa có thể. Do vậy, tuy ở 2 phân xưởng số lượng công nhân có
trình độ tay nghề cao còn ở mức khiêm tốn song vẫn đảm bảo mức chất lượng
đề ra.
3. Về thị trường tiêu thụ:
Thị trường chính của Công ty là các nhà máy xi măng lớn của Vịêt Nam
như Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty xi măng Hoàng Mai, Công ty xi
măng Chinfon Hải Phòng, Công ty xi măng Sông Đà.v.v Đây là những thị
trường mà Công ty đã cung cấp sản phẩm bấy lâu nay và cũng có thể nói đây là
thị trường truyền thống tiêu thụ khối lượng sản phẩm lớn của Công ty và vì thế
chất lượng sản phẩm luôn luôn phải được giữ vững bảo đảm chất lượng tốt. Vì
đây là thị trường có mối quan hệ lâu đời với Công ty nên họ đang có vị trí quan
trọng là duy trì quá trình sản xuất và tái sản xuất của Công ty nên bằng nhiều
cách Công ty luôn tôn trọng khách hàng này và tìm cách thoả mãn những yêu
cầu của họ để họ luôn là khách hàng này luôn là khách hàng trung thành của
Công ty bên cạnh những thị trường mới. Với những nỗ lực như vậy, mỗi năm
Công ty cung cấp cho thị trường từ 23- 30 triệu vỏ bao, đạt doanh thu từ 71,435
đến 85 tỷ đồng, chiếm khoảng 3%-5% thị phần thị trường vỏ bao xi măng. Dự
kiến đến 2010 số lượng vỏ bao cung cấp đạt trên 6% tổng nhu cầu trên cả nước.
Hiện nay, nhu cầu xi măng phục vụ ngành xây dựng trong nước phục vụ ngành
xây dựng trong nước rất lớn và ngày càng tăng, một số dự án xây dựng các nhà
máy xi măng lớn đang và sẽ được triển khai. Điêù đó tạo cơ hội lớn cho Công ty
thâm nhập thị trường mới, nâng cao sản lượng tiêu thụ.
4. Về công nghệ:
Công nghệ có tính chất quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đầu
ra của Công ty. Công nghệ sản xuất bao gồm nhiều quy trình mà ở đó trình độ
về thông số kỹ thuật của máy móc thiết bị, của dây chuyền sản xuất của từng
phân xưởng phối - kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm cuối cùng đạt những tiêu

khách hàng về chất lượng, số lượng sản phẩm mà còn tiết kiệm được tối đa chi
phí sản xuất trực tiếp và gián tiếp, đem lại kết quả kinh doanh khả quan trong
năm 2006 cũng như 6 tháng đầu năm 2007.
5. Về nguyên vật liệu (NVL):
Muốn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tiến
hành được đều đặn, liên tục phải thường xuyên đảm bảo cho nó các loại nguyên
vật liệu, năng lượng đủ về số lượng, chất lượng, kịp về thời gian, đúng về quy
cách phẩm chất. Đây là một vấn đề bắt buộc mà nếu thiếu thì không thể có quá
trình sản xuất sản phẩm được. Tình hình NVL được thể hiện qua bảng số 5 trang
bên:
Tất cả nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu đều phải dựa trên những nhiệm vụ
cụ thể, phải có định mức tiêu hao do phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu lập
ra dựa trên kế hoạch sản xuất trong từng thời kỳ ở mỗi phân xưởng.
Nguồn nguyên vật liệu chính của Công ty bao gồm hạt nhựa nguyên sinh và
giấy Krap. Hạt nhựa nguyên sinh được Công ty nhập khẩu 100% từ các nước
lớn như Hàn Quốc, Nga; Mỹ, Đài Loan, Indonsia, Nhật Giấy Krap một phần
được nhập từ một số nhà cung cấp lớn của Nhật và Indonesia và Công ty đang
từng bước chuyển dần sang nhập từ một số công ty sản xuất giấy trong nước có
chất lượng tốt không thua kém nhiều so với các nhà cung cấp nước ngoài nhằm
chủ động hơn trong sản xuất, giảm giá thành đầu vào.
Để hạn chế rủi ro về giá thành NVL (nhất là NVL nhập khẩu) Công ty đã
tham gia vào Hiệp hội bao bì Việt Nam, đây là một tổ chức của các nhà sản xuất
bao bì Việt Nam. Tổ chức này là nơi điều phối thị trường bao bì trong nước
nhằm tránh tình trạng bán phá giá nên rủi ro về NVL nói riêng và về kinh doanh
của Công ty nói chung được giảm ở mức tối đa.
Nhằm tăng cường sự ổn định của các nguồn cung cấp NVL để đảm bảo sản
xuất luôn luôn ổn đinh, không bị gián đoạn Công ty đã xây dựng được một
mạng lưới các nhà cung cấp NVL truyền thống và có uy tín. Để lựa chọn nhà
cung ứng, Công ty tiến hành thu thập các thông tin ban đầu, nghiên cứu các
bảng chào giá, xem xét chất lượng vật tư có đáp ứng được yêu cầu sản xuất vỏ

khách hàng.
- Trong quá trình hình thành chất lượng, Công ty coi trọng phương châm
phòng ngừa chứ không coi trọng trước hết việc khắc phục sai lỗi, nhất là
phòng ngừa những nguyên nhân gây ra sai lỗi, trục trặc.
2. Quy trình thực hiện chất lượng của Công ty:
Hiện nay, quy trình chất lượng trong Công ty được thực hiện thường xuyên
ở mỗi công đoạn sản xuất bắt đầu từ nhập kho nguyên vật liệu đến quy trình
kiểm soát sản phẩm sai hỏng.
2.1. Quy trình tìm kiếm, lựa chọn nhà cung ứng và mua hàng:
Yêu cầu về mua hàng phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của
Công ty và phòng Vật tư- Nguyên liệu là nơi có nhiệm vụ lập kế hoạch mua
hàng hàng năm của Công ty.
Sơ đồ 2: Quy trình tìm kiếm lựa chọn nhà cung ứng và mua hàng
Yêu cầu mua h ngà
Tìm kiếm nh cung cà ấp
Thu thập thông tin
Xem xét dánh giá
Phê duyệt
Thương thảo ký kết hợp đồng
Theo dõi giao h ngà
Nghiệm thu thanh
toán v thanh lý hà ợp
đồng
Tìm kiếm nhà cung ứng: Nhiệm vụ này phòng Vật tư- Nguyên liệu được
giao nhiệm vụ và sẽ căn cứ vào kế hoạch và yêu cầu mua hàng đã được phê
duyệt, phòng này sẽ thu thập thông tin tìm kiếm nhà cung cấp có khả năng cung
ứng nguyên vật liệu đầu vào. Nhà cung ứng nguyên vật liệu luôn phải thoả mãn
những tiêu chuẩn như: khả năng cung cấp nguyên vật liệu, số lượng, thời gian,
xuất xứ hàng hoá, chỉ tiêu chất lượng nguyên vật liệu, catalogue hàng hoá, giá cả
nguyên vật liệu, và các điều khoản cần thiết khác.

được làm rõ hơn ở mục kiểm tra chất lượng.
2.3. Quy trình kiểm soát sản phẩm không phù hợp:
Trong khâu này việc xác định các nguyên nhân là trách nhiệm của các
trưởng phòng và trưởng các bộ phận liên quan có trách nhiệm tiếp nhận các báo
cáo đối với sản phẩm không phù hợp của từng khâu trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
Các phòng và các bộ phận có liên quan tiến hành phân tích và tìm hiểu
nguyên nhân gây ra sản phẩm không phù hợp đồng thời ghi vào báo cáo sản
phẩm không phù hợp. Những sản phẩm không phù hợp sau khi lập báo cáo phải
giử cho đại diện lãnh đạo chất lượng giao nhiệm vụ và phân công người thực
hiện khắc phục và người kiểm tra.
Sau khi kiểm tra xuất hiện sản phẩm không phù hợp, những sản phẩm này
xẽ được xử lý:
- Với sản phẩm đã cung cấp cho khách hàng: tiến hành thoả thuận, đàm
phán với khách hàng bằng những phương thức: cho phép thông qua sử dụng
chấp nhận hạ giá thành sản phẩm hoặc huỷ bỏ.
- Với sản phẩm đang trong quá trình sản xuất: huỷ bỏ, khắc phục sữa
chữa, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng.
Sơ đồ số 4: Quy trình kiểm soát sản phẩm không phù hợp
Phát hiện sản phẩm
không phù hợp
Phân loại nhận biết
Xác định nguyên nhân
Xử lý sản phẩm không phù
hợp
Kiểm tra xác nhận lại

3. Các bước kiểm tra chất lượng sản phẩm bao bì xi măng của Công ty:
Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, chất lượng sản phẩm là
một trong những yếu tố quan trọng nhất, mang tính chất quyết định nhất giúp

thị trường được đào tạo nhằm mục đích thu thập thông tin trên thị trường, thông
tin về đối thủ cạnh tranh.
3.2. Kiểm tra chất lượng khâu cung ứng nguyên vật liệu.
Như trên ta đã biết, trách nhiệm tìm nhà cung ứng nguyên vật liệu thuộc
phòng Vật tư- Nguyên liệu. Phòng Vật tư- Nguyên liệu có trách nhiệm mua
nguyên vật liệu theo đúng thành phần số lượng và chỉ tiêu chất lượng. Để đáp
ứng được yêu cầu này, bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm và bộ phận nghiên
cứu kiểm tra bằng cách phân tích nguyên vật liệu trước khi đồng ý nhập hàng từ
nhà cung ứng.
Các bước kiểm tra được thực hiện tuần tự như sau:
- Lấy mẫu nguyên vật liệu từ nhà cung ứng
- Tiến hành thí nghiệm thử mẫu trên các sản phẩm của Công ty.
- Lấy nhận xét, đánh giá của bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Nếu nguyên vật liệu đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của Công ty
thì chuyển sang phòng Vật tư- Nguyên liệu.
- Phòng Vật tư- Nguyên liệu tiến hành các công tác như trong quá trình
thực hiện chất lượng.
Trong trường hợp nếu bên cung ứng cung cấp nguyên vật liệu không đúng
như trong hợp đồng ở giai đoạn giao hàng thì cán bộ kiểm tra chất lượng cho
ngừng nhập hàng vào kho.
Sau khi nhập hàng vào kho, nguyên vật liệu vẫn tiếp tục được đưa vào quá
trình bảo quản, lưu kho và thương xuyên được cán bộ kiểm tra chất lượng kiểm
tra để đảm bảo cho khi nguyên vật liệu đưa vào qúa trình sản xuất vẫn giữ
nguyên được chất lượng.
Chính nhờ vào công tác kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu hết sức chặt
chẽ và khoa học nên chất lượng sản phẩm của Công ty luôn được đảm bảo và có
chất lượng tốt.
3.3. Kiểm tra chất lượng khâu sản xuất:
Bộ phận chuyên trách kiểm tra chất lượng sản phẩm theo từng công đoạn
sản xuất là bộ phận kỹ thuật của các xưởng sản xuất. Mỗi bán thành phẩm khi

Các hình thức kiểm tra trong công đoạn sản xuất được thể hiện qua bảng số
6.
4. Công tác chất lượng sản phẩm tại Công ty:
Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất
lượng. Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và
kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Chất lượng của một sản phẩm cụ thể được
đánh giá dựa trên các hệ thống chỉ tiêu chất lượng. Các hệ thống chỉ tiêu này
được doanh nghiệp xây dựng và duy trì theo tiêu chuẩn của từng ngành, theo
tiêu chuẩn của trung tâm đo lường sản phẩm của nhà nước phê duyệt và cho
phép sản xuất.
Công ty đã xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 được tổ chức chứng nhận QUACERT
cấp chứng nhận từ thán 1 năm 2003. Do áp dụng quy trình quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO, công tác quản lý chất lượng sản phẩm được thực hiện chặt
chẽ ở tất cả các công đoạn sản xuất từ nguyên vật liêu đầu vào đến khâu kiểm
tra chất lượng trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Ban hành hệ thống các chỉ
tiêu kỹ thuật của từng loại sản phẩm để triển khai kịp thời và chính xác theo yêu
cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, hệ thống ISO 9001:2000 được duy trì đánh
giá nội bộ và đánh giá của trung tâm QUACERT nhằm duy trì tính hiệu lực của
hệ thống đối với công tác quản lý chất lượng sản phẩm.
Công ty đã đăng ký quản lý chất lượng với Cục đo lường chất lượng Hà
Tây, công bố tiêu chuẩn cơ sở theo tiêu chuẩn quy định cho sản phẩm của Công
ty. Trong những năm qua, Công ty đã thực hiện duy trì sản xuất cung cấp sản
phẩm cho khách hàng theo tiêu chuẩn công bố.
Công ty Công nghiệp Thương mại Sông Đà chuyên sản xuất sản phẩm bao
bì xi măng. Để đánh giá được chất lượng sản phẩm của Công ty cần phải dựa
trên các chỉ tiêu về chiều dài, chiều rộng, độ dày, lực kéo mối dán và các chỉ
tiêu về cảm quan.
Hiện nay, tổ chức bộ máy quản lý chất lượng của công ty được xây dựng như
sơ đồ số 5 (Trang bên):

Sơ đồ số 7: Cơ cấu hoạt động phòng QC
Trưởng phòng QC
Trưởng các xưởng
Tổ trưởng sản xuất
Băng chuyền

Trích đoạn Biện phỏp thứ 4: Tăng cường cụng tỏc kiểm tra chấtlượng ở mọi khõu, mọi cụng đoạn của quỏ trỡnh sản xuất. Biện phỏp thứ 5: Tổ chức cỏc nhúm chất lượng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status