đội ngũ trí thức việt nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước - Pdf 13

Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đợc coi
là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa của nhân dân ta. Đại hội đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện,
mở ra bớc ngoặt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để đa nớc ta trở thành một nớc tiên tiến nhanh chóng, hoà nhập
vào dòng tiến hoá chung của nhân loại, chúng ta chỉ có một con đờng
là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Đảng ra cũng xác định
rằng để thực hiện đợc những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, không
chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm nh trớc đây mà cần phải phát
huy hoạt động trí tuệ và tài năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân.
Đội ngũ trí thức là đại biểu tập trung cho trí tuệ dân tộc. Trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nớc ta thì trí thức tham gia
trực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí, là bộ phận nguồn lực khoa
học kỹ thuật, trí thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lợng
sản xuất.
Đảng và Nhà nớc ta đánh giá cao vai trò của đội ngũ Trí thức
trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc. Tuy nhiên
không phải mọi cấp, mọi ngời dân hay một bộ phận không nhỏ trí
thức cha nhận thức đợc đầy đủ và sâu sắc vai trò của đội ngũ trí thức
trong công cuộc đổi mới đất nớc hiện nay. Đây là một thực trạng đã
và đang tồn tại ở nớc ta.
Vì vậy để làm rõ hơn vai trò của đội ngũ trí thức là một nhân tố
cơ bản trong việc thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nớc, em xin chọn đề tài Đội ngũ trí thức Việt Nam với sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc. Làm đề tài khoá
luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Tầm quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc đã thu hút sự quan tâm của các

+ Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh.
+ Luận văn đã sử dụng tham khảo hoá giữa nghiên cứu củ một
số sách, báo, bài viết, luận án về vấn đề trí thức.
+ Phơng pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là: phân tích
tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đi từ trừu tợng đến cụ thể.
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Góp phần nhỏ vào nghiên cứu trí thức, vai trò của đội ngũ trí
thức Việt Nam.
- ý nghĩa thực tiễn, từ những điểm rút ra trong luận văn, có thể
góp phần nhận thức một cách rõ nét hơn vai trò của đội ngũ trí
thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc.
6. Kết cấu:
Luận văn gồm: Phần mở đầu, phần kết luận, nội dung chính
gồm: 2 chơng và 5 tiết.
Bản luận văn đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn chỉ bảo nhiệt tình
của cô giáo Thạc sĩ Ngô Thị Phợng, cũng nh sự giúp đỡ của bạn bè
trong lớp, K47A và các thầy cô giáo trong khoa Triết học.
Qua bản luận văn này cho tôi gửi lời cảm ơn đến giáo viên hớng
dẫn, các bạn bè và thầy cô giúp đỡ tôi thực hiện thành công bản luận
văn này.
Bản luận văn này đợc hoàn thành xong chắc chắn không tránh
khỏi những sai sót, tôi xin chân thành tiếp thu những ý kiến đóng góp
của bạn bè, thầy cô.
II. Công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở vn và những
yêu cầu đặt ra trớc đội ngũ trí thức.
2.1. Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt
Nam.
Ngày 30-7-1994, Hội nghị lần thứ bảy của Ban chấp hành
Trung ơng Đảng chính sách Việt Nam (khoá VII) đã ra Nghị quyết số

a. Gấp rút đào tạo cán bộ đầu đàn, các tổng công trình s cho các
ngành công nghệ then chốt;
b. Mở rộng việc cử chuyên gia ra nớc ngoài nghiên cứu, khảo
sát, trao đổi khoa học, đồng thời cho mở một số trờng đại học hoặc
viện nghiên cứu công nghệ quốc tế hay khu vực ở Việt Nam;
c. Có chính sách thu hút cán bộ khoa học - công nghệ đến làm
việc trự tiếp ở các doanh nghiệp và các địa phơng.
d. Mau chóng trẻ hoá cán bộ ở các cơ sở nghiên cứu - triển
khai.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ơng
Đảng (khoá VII) đã xác định rõ: Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là
quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,
khẳng định, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên
sự phát triển cảu công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao
2
.
Trong toàn bộ sự nghiệp công nghiệp hoá, khái niệm trung tâm
là công nghệ mới. Do vậy, bàn đến công nghiệp hoá, trớc hết, ngời ta
hiểu rằng, công nghiệp hoá là quá trình trang bị hoặc trang bị lại
công nghệ mới cho các ngành sản xuất trong nớc, đặc biệt là đối với
các ngành then chốt. Yêu cầu làm chủ công nghệ mới, nhất là công
nghệ cao, là hết sức bức thiết. Việc nhập công nghệ mới, làm chủ nó
là biến công nghệ mới thành cảu mình đòi hỏi cần đến trình độ trí
tuuệ cao của ngời lao động. Do vậy, lực lợng đi đầu trong việc tiếp
cận với công nghệ mới nắm chắc nó, sử dụng nó phải là những nhà
khoa học công nghệ - những trí thức. Khi khoa học và công nghệ trở
thành lực lợng sản xuất trực tiếp thì trí thức là lực lợng sản xuất có

Cuối cùng, phải nói đến công nghiệp hoá nh một quá trình mở
cửa để chủ động hội nhập với thế giới hiện đại, giao lu với các nền
văn minh trên thế giới, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó
là quá trình nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân. Với chức năng
bảo vệ, phát huy nền văn hoá dân tộc, trí thức phải giữ đợc bản sắc
văn hoá truyền thống trong các hoạt động của xã hội. Song, với chức
năng truyền bá văn hoá, trí thức lại phải chọn lọc những giá trị mới
mẻ, tiến bộ trong nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới, tiếp thu
những tinh hoa văn háo nhân loại. Đó là quá trình nâng cao trìnhđộ
văn hoá cho nhân dân. Với chức năng bảo vệ, phát huy nền văn hoá
dân tộc, trí thức phải giữ đợc bản sắc văn hoá truyền thống trong các
hoạt động của xã hội. Song, với chức năng truyền bá văn hoá, trí thức
lại phải chọn lọc những giá trị mới mẻ, tiến bộ trong nền văn hoá của
các dân tộc trên thế giới để đa vào đời sống xã hội nớc ta. Có thể gọi
đây là một trong những nhiệm vụ mà lực lợng trí thức phải thực hiện
dể hiện đại hoá nền văn hoá dân tộc mà vẫn giữ đợc bản sắc dân tộc.
(Về những nhiệm vụ cụ thể của trí thức trong quá trình đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, sẽ trình bày cụ thể ở phần sau).
Tiếp theo các Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung -
ơng Đảng (khoá VII), ngày 24-12-1996, Hội nghị Ban chấp hành
Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ hai (khoá VIII) đã ra
Nghị quyết số 02-NQ/HNTW về định hớng chiến lợc phát triển khoa
học vf công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa và
nhiệm vụ đến năm 2000. Nghị quyết đã khẳng định đến năm 2020
phải phấn đấu xây dựng nớc ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp. Để
đạt mục tiêu này, cần phải quán triệt những quan điểm sau đây:
-Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc phải bằng và dựa vào
khoa học, công nghệ. Đảng và Nhà nớc có chính sách đầu t khuyến
khích, hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ.
-Trong qr công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải phát huy năng lực

Trí thức là lực lợng đi đầu trong phong trào tiến quân vào khoa
học và công nghệ, trớc hết là trên địa bàn nông nghiệp, và nông thon.
Thực chất của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá
trình vận dụng thành tựu khoa học và công nghệ nhằm chuyển hệ
thống kinh tế - xã hội của đất nớ từ trạng thái năng suất thấp, hiệu
quả thấp, sử dụng lao động thủ công là chính sang một hệ thống có
3
BáoNd ngày 16-2-1997 (Bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mới tại Hội nghị
Khoa giáo toàn quốc, Hà Nội, 15-2-1997).
năng suất cao, hiệu quả cao, dựa trên những phơng pháp công nghiệp,
những công nghệ tiên tiến.
Trong một đất nớc nông nghiệp lạc hậu nh Việt Nam, chỉ riêng
sự tăng đời sống tự nhiên đã cho thấy, sức mạnh s nông nghiệp của
chúng ta suốt gần 70 năm qua không đáp ứng đợc áp lực gia tăng dân
số.
Trong phong trào tiến quân vào khoa học và công nghệ, trí thức
phải là lực lợng xung kích thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hóa trớc hết ở khu vực nông nghiệp và nông thôn. Trên trận địa
này có các hớng cơ bản sau đây:
Một là, tích cực tham gia chơng trình xoá đói giảm nghèo.
Hiện nay trong nớc ta có tới 90% hộ đói nghèo tập trung vào
nông thôn (thu nhập bình quân đầu ngời 50.000đ - 60.000 đ/tháng/ng-
ời; Báo cáo của Ban Kinh tế Trung ơng ngày 16-11-1998). Đến cuối
năm 1996, đầu năm 1997, cả nớc còn 2,8 triệu hộ gia đình (trên 13
triệu ngời) thuộc diện đói nghèo.
Nếu tính theo 6 hạng mục công trình điện, đờng giao thông, tr-
ờng học, trạm y tế, chợ, nớc sinh hoạt thì cả nớc còn 1.700 xã thuộc
diện nghèo, không đủ các hạng mục trên.
Trí thức tham gia xoá đói, giảm nghèo không chỉ có nhiệm vụ
đa khoa học và công nghệ về với nông dân, mà còn phải là lực l ợng

lại để nạc hoá đầu lợn, sinh hoá đàn bò và nâng cao năng suất đàn gia
cầm Các công trình t ới tiêu, thau chua, rửa mặn đất phèn, nuôi tôm
thơng phẩm, đánh bắt cá biển, chế biến gạo, càphê, hạt điều, chè,
thuỷ sản, v.v đã có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, lực l ợng trí thức tham
gia ở chơng trình này còn quá mỏng. Trớc mắt, cần lu ý:
-Xây dựng hệ thống nghiên cứu, triển khai gọn nhẹ gắn chặt với
sản xuất nông nghiệp hơn nữa;
-Đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ nông thôn phải cân đối hớn
(Hiện tỷ lệ đại học/trung cấp/sơ cấp ở Việt Nam là 1/7/8, của thế giới
là 1/2/4). Một số lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp cha có cán bộ đầu
đàn.
-Tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu nông
nghiệp và nông thôn (hiện tại còn quá nghèo nàn, lạc hậu);
-Tăng đầu t chuyển giao công nghệ trong nông thôn và nông
nghiệp (hiện còn quá thấp, chỉ bằng 1/10-1/15 mức đầu t ở các nớc
trong khu vực và trên thế giới).
Năm là, tham gia chơng trình khuyến nông.
Các trung tâm khuyến nông ở tỉnh, thành phố hiện chỉ có hơn
1000 cán bộ, ở các trạm khuyến nông cấp huyện mới có khoảng 800
cán bộ trong biên chế Nhà nớc.
Trí thức cần tham gia chơng trình khuyến nông với các hình
thức thích hợp với chức năng của mình là:
- Tập huấn về công nghệ mới.
- Tổ chức tham guan khoa học kỹ thuật.
- Xây dựng câu lạc bộ phổ biến tri thức mới;
- Bồi dỡng cán bộ xã, thôn về sản xuất, khẳng định, v.v
*Nâng cao dân trí làm cơ sở cho việc tăng trởng kinh tế.
Dân trí là vấn đề hết sức cơ bản trong bài toán tăng trởng kinh
tế. Dân trí không đơn thuần là vấn đề đợc đi học, mà là sự hiểu biết
về khoa học, về công nghệ, về sản xuất, về quản lý, về đạo đức và

sau khi cá nhân đó học một khoá đào tạo với chi phí cho khoá đào
tạo. Kết quả này gọi là tỷ suất lợi nhuận xã hội khi đầu t vào giáo
dục, mặc dù nó cha phản ánh đợc tất cả các lợi ích xã hội và những
ảnh hởng bên ngoài.
Thực tế cho thấy, tỷ suất lợi nhuận giáo dục rất cao ở những n-
ớc có thu nhập vừa và thấp. Tình hình mỗi nớc một khác, nhng nhìn
chung, ở các nền kinh tế cha phổ cập giáo dục cơ sở, tỷ suất lợi nhậun
của giáo dục tiểu học là cao nhất, sau đó là giáo dục trung học và
cuối cùng là đại học. Rất thú vị là những nớc đã phổ cập giáo dục tiểu
học có mức tăng trởng cao đều có xu hớng cho thấy tỷ suất lợi nhuận
của giáo dục trung học lại cao hơn của giáo dục tiểu học
5

*Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học.
Nếu coi số lợng nhà khoa học và kỹ s tính trên triệu dân nh một
chỉ số của tài nguyên trí tuệ thì ta chú ý bảng sau đây:
5
Phùng Minh Lại: Đầu t vào con ngời và sự tăng trởng, Trung tâm Thông tin t
liệu khoa học và công nghệ quốc gia thuộc Bộ Khoa học, công nghệ và môi tr-
ờng (Tài liệu tham khảo 4-1997), tr 4-5
Số lợng nhà khoa học và kỹ s tính trên triệu dân
6
Nhật Bản 3548
Mỹ 2685
Châu Âu 1632
Châu Mỹ latinh 209
Các nớc Arập 202
Châu á (trừ Nhật Bản)
99
Châu Phi 53

8
.
Về vấn đềe xây dựng đội ngũ khoa học và công nghệ ở Việt
Nam, ta có thể khẳng định rằng, đến nay ta đã có một lực lợng khoa
học và công nghệ có đủ sức đóng góp cho việc tiếp thu và sáng tạo
khoa học và công nghệ, xây dựng nền tảng cho công nghiệp hoá,
hiện đại hóa đất nớc.
Đội ngũ nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa
học và công nghệ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội, đã đào tạo đợc không ít cán bộ khoa học có trình độ
trên đại học. Qua các nghiên cứu cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên của đất nớc, các nhà khoa học Việt Nam đã kiến
nghị nhiều phơng án phát triển sản xuất theo vùng và lãnh thổ, đã tiếp
thu vf làm chủ một số công nghệ cao, tạo ra nhiều giống cây, vật njôi
có chất lợng cao trong sản xuất nông nghiệp.
Chính nhờ lực lợng khoa học vf công nghệ Việt Nam mà nhiều
công nghệ tiên tiến đã đợc chuyển giao và áp dụng trong một số lĩnh
vực nh viễn thông, dầu khí, điện lực, xi măng, giao thông - vận tải,
trong mtọ số ngành công nghiệp (dệt, may, chế biến lơng thực, thực
phẩm vấcc nông sản khác). Các doanh nghiệp với những công nghệ
tiên tiến đã tạo nên bộ mặt mới cho nền công nghiệp Việt Nam và góp
phần to lớn cho tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt
Nam trong thời gian qua.
8
Paul Kennedy: Chuẩn bị cho thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995, tr. 305-306
Lực lợng khoa học và công nghệ Việt Nam trong những năm
qua đã có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực,
phát triển văn hoá, bảo tồn, giữ vững và phát huy những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

nghiệp vĩ đại, đòi hỏi sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Để tiến
hành hồi sự công nghiệp hoá, hiện đại hóa, những nớc t bản phát triển
trớc đây đã phải mất hàng trăm năm. Đối với những nớc đi sau, nh
những nớc thuộc thời kỳ thứ ba ở Đông Nam á cũng phải mất gần
nửa thế kỷ với biết bao khó khăn. Nớc ta bớc vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hóa trong lúc nền khoa học và công nghệ trên
thế giới đã có những thành công kỳ diệu thể hiện sự ra đời của một
nền văn minh mới: văn minh trí tuệ hay văn minh tin học. Đơng
nhiên, chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi dể rút ngắn khoảng ách củ giai
đoạn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc. Nhng đó mới
chỉ là những tiền đề khách quan, còn phải tính đến những thách thức
vô cùng quan trọng trong việc chuyển hoá những nhân tố ngoại sinh
thành sự phát triển nội sinh. Chính khẩu chuyển hoá này vừa đòi hỏi
nhân dân ta một tinh thần dũng cảm vợt qua những thử thách có tính
thời đại để giữ vững định hớng chc, vừa đặt ra cho nhân dân ta những
yếu tố sáng tạo mới, cha có tiền lệ trong lịch sử phát triển của nhân
loại.
Thế giới đã toàn cầu hoá nhiều mặt của đời sống xã hội. Đây là
cả một vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn,
đòi hỏi sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và sự kiên định, dũng cảm
của toàn thể nhân dân ta. Nhân tố con ngời là cực kỳ quan trọng, nh-
ng ở đây, là con ngời đợc hiểu không nh là một lao động đơn giản mà
với t cách là con ngời có trí tuệ và là nhân cách văn hoá, có bản lĩnh
văn hoá dân tộc, có lý tởng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, chỉ có con ngời Việt Nam mang bản sắc dân tộc trong
văn hoá Việt Nam, là chủ thể về trí tuệ và văn hoá Việt Nam mới thực
sự giữ vai trò quyết định sự thành công của công nghiệp hoá, hiện
đại hóa ở nớc ta. Trong nhân tố con ngời phải nói đến trí thức hay con
ngời trí tuệ, đồng thời cũng phải đề cập đến văn hoá, tức con ngời có
phẩm chất văn hoá, nhân cách văn hoá, bản lĩnh văn hoá.

chiến lợc phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000; Nghị quyết Hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Có thể
nói, đó là những Nghị quyết đặt nền tảng cho chiến lợc con ngời và
chiến lợc xây dựng và phát triển văn hoá trong suốt thời kỳ cnnh đất
nớc. Trong nội dung về định hớng chiến lợc phát triển Giáo dục và
Đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, Đảng ta đã khẳng định vai
trò động lực của văn hó mà khâu quyết định là nguồn lực con ngời,
coi việc phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của dân tộc, lấy phát
triển giáo dục, đào tạo và khoa học và công nghệ làm yếu tố cơ bản,
coi đó là khẩu đột phá
9

Còn trong nội dung về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta lại khẳng định rõ hơn
nguồn lực con ngời cũng nh tiềm lực văn hoá của Tổ Quốc. Bế mạc
9
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung
ơng Đảng (khoá VIII), Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.9
Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ năm (khoá VIII);
đồng chi Tổng bí th Lê Khả Phiêu phát biểu: kinh nghiệm vô giá mà
chúng ta khái quát đợc trong lịch sử lâu dài và đầy khắc nghiệt của
dân tộc ta là: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là
nguồn lực con ngời Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản
thân dân tộc Việt Nam
10
. Đó là những định hớng quan trọng có quan
hệ rất trực tiếp đến sự thành bại của tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hóa ở nớc ta. Đó cũng là sự thể hiện tầm trí tuệ cao của Đảng ta,

học lịch sử. Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga, GS.TS, Poljakov Juri
Alekssandrovich, khi nói về giới trí thức Nga trong thời kỳ rối loạn
đã đặt câu hỏi cho bài viết của mình là ngời khởi xớng hay nạn nhân?
Thật ra, cũng có thể đặt câu hỏi trên cho giới trí thức nói chung ở
nhiều nớc khác nhau trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Bởi lẽ,
chúgn ta đa từng chứng kiến những khởi xớng vĩ đại của ngời trí thức,
đồng thời cũng lại đợc chứng kiến cả những tai hoạ, của lịch sử rơi
vào ngời trí thức.
ở đội ngũ trí thức nói chung, trong đó có đội ngũ trí thc Việt
Nam nói riêng vẫn cần đợc hiểu sâu sắc thực chất họ là ai, họ quan
trọng nh thế nào, vì sao họ lại có vị trí quan trọng và mối quan hệ
giữa họ với nhân dân và dân tộc cũng nh với tiến trình phát triển của
mỗi dân tộc và nhân loại nói chung. Do đó, cần phải thấy rõ vị trí, vai
trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa ở nớc ta.
Vai trò của trí thức trong lãnh đạo và quản lý đất nớc, điều
hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Nói đến vai trò của trí thức trong lãnh đạo và quản lý đất n ớc,
điều hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa hoàn toàn không
có nghĩa là coi trí thức nh một tầng lớp xã hội đứng ngoài hoặc đứng
cao hơn ngời lãnh đạo và quản lý đất nớc.
Khi phê phán quan điểm xen trí thức nh mộtgc thì đồng thời
cũng cần phê phán quan điểm coi trí thức nh một giới thợng đẳng
đứng ngoài hoặcc đứng trên các giai cấp xã hội. Trí thức cũng chỉ là
những con ngời bình thờng trong nhân dân, họ có thể tham gia sản
xuất nh một công nhân thực thụ, họ cũng có thể là nhà bác học nhờ
những sáng tạo văn hoá có giá trị của mình. Đơng nhiên, họ cũng có
thể trở thành nhà lãnh đạo, thậm chí là ngời lãnh đạo cao nhất nắm
nhiều quyền lực trong tay.
Tóm lại, ngời trí thức vốn có mặt ở mọi lĩnh vực của cuộc sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status