LUẬN VĂN: Đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã,
đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở tất cả các quốc
gia và dân tộc trên thế giới. Đối với nước ta, trong sự nghiệp CNH, HĐH, cuộc cách

HĐH nói riêng và sự nghiệp xây dựng CNXH nói chung ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Để góp phần làm rõ vai trò, đặc điểm và nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ của đội
ngũ trí thức thuộc Liên hiệp Hội trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tôi đã
chọn đề tài : "Đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay " làm đề tài luận
văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ
trí thức với nhiều khía cạnh, quy mô khác nhau, trong đó có một số công trình khoa học
đã đề cập đến các góc độ mà đề tài cần nghiên cứu tham khảo và kế thừa:
- "Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước" (1995) - Đỗ
Mười, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội : Tác phẩm tập hợp những bài phát biểu của Đỗ
Mười về trí thức. Qua đó đã khẳng định quan điểm của Đảng ta về vai trò của trí thức và
nhiệm vụ của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

- "Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng" (1995) - Phạm Tất Dong (chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Đây là một công trình nghiên cứu khá công phu, sâu sắc
về đội ngũ trí thức Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn, tác giả đã đi sâu phân tích quan
niệm hiện đại về "trí thức", trên cơ sở đó nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam qua các
thời kỳ lịch sử của thế kỷ 20. Từ việc nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu đến
tâm trạng, nguyện vọng của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm
phát triển đội ngũ trí thức nước ta hiện nay.
- "Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện
đại hóa" (2001) - GS. Phạm Tất Dong (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội : Trên
cơ sở nghiên cứu khái quát tình hình CNH, HĐH đất nước và một số yêu cầu đặt ra về
nguồn lực trí tuệ; tác giả đã khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trong CNH, HĐH,
làm rõ ưu, nhược điểm của đội ngũ trí thức ở nước ta, từ đó đề xuất những định hướng
trong hoạch định chính sách để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2000 -
2010.
- "Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước" (1998) - PTS. Nguyễn Quốc Bảo -

triết học, Hà Nội, 2001; "Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn
trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh, Luận án tiến sĩ triết
học, Hà Nội, 2003; "Vai trò của trí thức thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp CNH, HĐH" của
Nguyễn Xuân Phương, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2004
Ngoài ra, còn có nhiều công trình khoa học, bài viết được đăng trên các Tạp chí
liên quan ít nhiều đến trí thức, đến khoa học - công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH.
Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có một đề tài khoa học, một công trình nghiên cứu

nào đề cập đến đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
dưới góc độ luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học. Do đó,
đề tài nghiên cứu của tôi không trùng lắp với bất kỳ công trình khoa học nào trước đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng chung của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Luận văn nêu lên những quan điểm và giải pháp để xây
dựng và phát huy vai trò của đội ngũ này trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Trình bày một cách khái quát về đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay và vai trò
của đội ngũ này trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phân tích những đặc điểm cơ bản
của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
+ Phân tích thực trạng của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam, xu hướng vận động của đội ngũ này trong tiến trình đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
+ Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chung nhằm xây dựng và phát huy
vai trò đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học

và Kỹ thuật Việt Nam, nhất là đặc điểm, vai trò của đội ngũ này trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước.

1.1. khái quát về đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay và vai trò của đội ngũ
này trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.1. Khái quát về đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay
Trí thức ở nước ta được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Một số được đào tạo từ
trước cách mạng Tháng Tám, số lượng này đến nay không nhiều. Trong thời kỳ đấu tranh
giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã cử một số cán bộ đi
học tập và nghiên cứu ở nước ngoài để chuẩn bị cho công cuộc khôi phục và xây dựng
đất nước sau này. Còn lại, phần lớn trí thức nước ta được đào tạo ở các nước XHCN
trước đây và trong công cuộc đổi mới của đất nước. Trong thời kỳ mở cửa hội nhập với
quốc tế, cơ hội học tập và nghiên cứu tại các nước trên thế giới được mở rộng. Vì vậy số
lượng sinh viên Việt Nam đi du học ngày càng nhiều, lực lượng này đã bổ sung và làm
phong phú hơn nguồn đào tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam.
Hiện nay, nước ta có hơn 1,8 triệu người đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học, về cơ
bản có thể xem đây là trí thức. Năm 2000 nước ta mới có 1,3 triệu trí thức, sau ba năm
(từ năm 2000 đến năm 2003) số lượng trí thức tăng lên thành 1.870.315 người [70, tr.
149]. Điều đó cho thấy, ngành GD&ĐT nước ta đã có bước phát triển vượt bậc trong sự
nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam. Ngoài ra, đội ngũ trí thức Việt
Nam còn bổ sung từ những người tự học vươn lên để có học vấn tương đương và trong
thực tế có những đóng góp nhất định cho khoa học nước ta.

Bên cạnh đó, còn hơn 300.000 trí thức Việt Kiều - một bộ phận của trí thức dân
tộc Việt Nam. Phần lớn họ đang sinh sống ở các nước phát triển, được tiếp cận với tri
thức KH&CN hiện đại của thế giới. Trong đó, có nhiều người có trình độ cao, hiện đang
làm việc tại các Viện nghiên cứu, các trường đại học lớn trên thế giới.
Ngoài ra, nước ta có một số lượng khá đông sinh viên ở các trường cao đẳng, đại
học trên toàn quốc. Sinh viên chính là nguồn bổ sung vào lực lượng trí thức trong tương
lai. Chính vì vậy, thông qua phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học, đã có một số
lượng công trình của đội ngũ này được ứng dụng rộng rãi và đem lại hiệu quả kinh tế - xã
hội không nhỏ.
Số lượng trí thức tăng lên trong những năm qua là thành quả to lớn của sự nghiệp

Đội ngũ trí thức khoa học công nghệ chủ yếu hướng hoạt động nghiên cứu của
mình vào đổi mới công nghệ trong các ngành sản xuất, dịch vụ, nâng cao năng suất lao
động, chất lượng, hiệu quả của sản xuất. Do đó, đã có nhiều thành tựu về khoa học công
nghệ mới được ứng dụng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt
trong nông nghiệp với việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại, công nghệ sinh
học, di truyền đã góp phần đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Bên cạnh đó, đội ngũ
trí thức khoa học công nghệ đã có những cống hiến to lớn cho nền công nghiệp Việt
Nam: tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới vào
Việt Nam đã tạo cơ sở để nền công nghiệp nước ta có bước phát triển mạnh, chuyển dần
theo hướng hiện đại hóa. Đặc biệt có nhiều lĩnh vực đã bước đầu tiếp cận với công nghệ
tiên tiến của thế giới như: công nghệ tự động hóa, công nghệ laser, công nghệ xây dựng

cầu, chế tạo thiết bị bưu chính viễn thông, công nghệ gen, công nghệ sinh học
Như vậy, với những đóng góp của đội ngũ trí thức nước ta trong công cuộc đổi
mới đất nước đã thể hiện tiềm năng trí tuệ to lớn đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân và củng cố vững chắc hơn
khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức.
Tuy nhiên, Đội ngũ trí thức của nước ta còn có những hạn chế, trình độ của đội
ngũ trí thức chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chủ
yếu là tốt nghiệp cao đẳng, đại học. Đội ngũ trí thức có trình độ sau đại học ở nước ta
hiện nay có khoảng hơn 30.000 người (chiếm hơn 1,6% tổng số trí thức Việt Nam).
Về cơ cấu lứa tuổi, tuổi bình quân của cán bộ khoa học công nghệ nước ta hiện
nay là 40,2 (nam: 42,7 tuổi, nữ: 37,0 tuổi). Số trí thức có trình độ sau đại học tuổi khá
cao, cụ thể: tuổi bình quân của người có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi; đại học: 40,9 tuổi;
thạc sĩ: 42,6 tuổi và tiến sĩ là 52,5 tuổi. Số cán bộ khoa học công nghệ ở độ tuổi dưới 25
chỉ chiếm 9,06%, trong khi số cán bộ này ở độ tuổi trên 55 lên tới 13,55% [3, tr.19]. Đặc
biệt, số trí thức có trình độ cao như tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư và cán bộ đầu ngành có
tuổi rất cao. Sự chênh lệch về độ tuổi giữa các trình độ là khá cao, phản ánh sự thiếu hụt
lực lượng của đội ngũ trí thức trẻ có trình độ cao trong việc kế cận các thế hệ trí thức cha
anh.

Thứ
hạng


cấu
(%)
Thứ
hạng
1 Khoa học tự nhiên 2,6 10 6,4 7 15,9 1
2 Kỹ thuật 9,3 3 7,3 6 14,7 2
3 Kinhdoanh và quản lý 25,3 1 15,3 1 10,3 3

4 Nhân văn 6,1 5 11,9 3 10,2 4
5 Y tế 7,5 4 14,7 2 8,4 5
6 Nông, Lâm, Ngư nghiệp 5,9 7 4,8 8 7,6 6
7 Khoa học sự sống 0,5 21 2,3 11 7,0 7
8 Khoa h
ọc xã hội và Hành
vi
4,3 8 9,8 4 6,0 8
9 Toán và thống kê 0,9 15 3,7 10 5,8 9
10 Xây dựng và Kiến trúc 6,0 6 4,5 9 3,9 10
11 Khoa học GD&ĐT 17,2 2 7,7 5 2,7 11
Nguồn :[3, tr. 21].
Tuy nhiên, đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu ở các thành phố
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các vùng đồng bằng. Theo số liệu thống kê
về tình hình lao động việc làm ở Việt Nam năm 2003, số trí thức tập trung nhiều nhất là
đồng bằng sông Hồng (chiếm 33,95% tổng số người tốt nghiệp cao đẳng, đại học của cả
nước), thứ hai là vùng Đông Nam Bộ (23,12%), tiếp theo là vùng Đồng bằng sông Cửu
Long (10,55%), Đông Bắc (9,41%), Bắc Trung Bộ (8,19%), Duyên hải Nam Trung Bộ

trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng
suất lao động xã hội cao [19, tr. 65].
Như vậy, thực chất của quá trình CNH, HĐH đất nước là cải biến lao động thủ
công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao
động xã hội cao dựa trên nền tảng của KH&CN.
Cũng chính tại Hội nghị này, Đảng ta đã nêu ra quan điểm chỉ đạo đối với quá
trình CNH, HĐH như sau:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ với nước ngoài, kết hợp kinh tế với quốc phòng- an ninh. Xây dựng nền
kinh tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm
trong nước sản xuất có hiệu quả.
- CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó
kinh tế nhà nước là chủ đạo; được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.
- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước. Tăng trưởng kinh tế gắn với
cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, bảo vệ môi trường.

- Khoa học, công nghệ là nền tảng của CNH, HĐH. Kết hợp công nghệ truyền
thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát
triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực
sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến,
thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có
hiệu quả. Tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm; đồng
thời quan tâm đáp ứng những nhu cầu phát triển thiết yếu của mọi vùng trong nước; có
chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn.
Trên cơ sở tổng kết mười năm đổi mới và năm năm thực hiện Nghị quyết Trung

học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể chuyển lên chủ nghĩa xã hội
được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần
chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư
bản đã đạt được [46, tr. 217].
Khi nói về vai trò của trí thức đối với cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng đã khẳng định: "Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc", "Những người trí
thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những
người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều" [62, tr. 235].
Trên thực tế, đội ngũ trí thức nước ta đã có những đóng góp hết sức to lớn, cùng

với giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đưa cách mạng Việt Nam đi
đến thắng lợi. Sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước những năm qua cũng có
phần công sức không nhỏ của đội ngũ này. Đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện
nay, đội ngũ trí thức của nước ta ngày càng giữ vai trò quan trọng, thể hiện qua một số
nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất, trí thức là người góp phần nghiên cứu, đưa ra những luận cứ khoa
học cho việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" [25, tr. 83]. Kiên định theo con đường XHCN,
chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, quan điểm của chủ
nghĩa xã hội khoa học, mà đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào hoàn cảnh cụ thể
của Việt Nam.
Thông qua việc nghiên cứu lý luận, trí thức khoa học Mác-Lênin đã góp phần làm
rõ hơn về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng
và Nhà nước ta hoạch định các chủ trương, chính sách về CNH, HĐH không mắc phải sai
lầm của việc vận dụng rập khuôn, máy móc.
Hơn nữa, xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu, để thực hiện CNH, HĐH
thành công, ngoài lý luận khoa học, Đảng và Nhà nước ta cần phải có các kết quả nghiên
cứu về tình hình thực tế, đặc điểm của từng vùng, từng lĩnh vực, ngành nghề làm căn cứ

nước còn được đội ngũ trí thức thực hiện dưới nhiều hình thức khác như lồng ghép vào các
chương trình giảng dạy của các môn khoa học Mác - Lênin trong các trường, các lớp bồi
dưỡng, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, v.v.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đất nước, công tác tuyên truyền phải
không ngừng được nâng cao, kịp thời, phải phù hợp với từng đối tượng nhằm làm cho
nhân dân hiểu rõ quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước. Ngoài việc đưa lý
luận vào thực tiễn, công tác này nhằm ngăn chặn mọi sự xuyên tạc của kẻ thù hòng làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
- Thứ ba, với tư cách là chủ thể của quá trình CNH, HĐH, đội ngũ trí thức Việt
Nam là nguồn lực tham gia trực tiếp thực hiện nội dung của sự nghiệp đó.
Việt Nam quá độ đi lên xây dựng CNXH từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến
có nền kinh tế lạc hậu, trình độ dân trí thấp. Vì vậy, bước chuyển từ lao động thủ công,
lạc hậu sang lao động sử dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại là một bước tiến lớn về trình
độ của lực lượng sản xuất nhưng khó khăn và lâu dài. Nó không thể thực hiện được
nhanh chóng nếu không có sự tham gia của các chuyên gia và nhà khoa học.
Việc xây dựng nền tảng KH&CN cho quá trình CNH, HĐH là nhiệm vụ của toàn
thể nhân dân, trong đó đi đầu là đội ngũ trí thức. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa
học, đội ngũ này đã góp phần sáng tạo ra những tri thức mới, có giá trị thúc đẩy xã hội
phát triển. Ngoài ra, họ còn có thể dự báo xu hướng vận động của các sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội, tư duy. Những thông tin đó có thể làm căn cứ khách quan cho các
nhà quản lý, hoạch định chính sách khi xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã
hội. Do đặc thù trong lao động sáng tạo, trí thức luôn phải đi trước một bước để đáp ứng
những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi

để các nước lạc hậu như nước ta có thể thực hiện bước phát triển "nhảy vọt" bằng cách
tiếp thu hợp lý những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến nhất. Thực hiện nhiệm
vụ này, trách nhiệm trước hết là của các chuyên gia, nhà khoa học - những người có trình
độ chuyên môn và am hiểu sâu sắc về lĩnh vực này. Họ chính là những chiếc cầu nối đưa
thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới vào Việt Nam. Nhờ đó, trình độ

HĐH đất nước. Bằng chứng cho thấy mỗi năm đội ngũ trí thức trong lĩnh vực GD&ĐT
đã góp phần đào tạo hàng nghìn chuyên gia, cử nhân, kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân
lành nghề phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Năm 2003, số sinh viên tốt
nghiệp các trường cao đẳng, đại học là 163.960 người, tốt nghiệp các trường trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề là 36.683 người [3, tr. 18].
- Thứ năm, trí thức Việt Nam có vai trò quan trọng trong tư vấn, phản biện và
giám định xã hội về KH&CN nhằm giữ vững định hướng XHCN trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
Tính đặc thù của quá trình CNH, HĐH ở nước ta chính là tính định hướng
XHCN, điều đó quy định mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nước ta đang tiến hành cách mạng KH&CN đồng thời cùng với cách mạng giải phóng
con người và giải phóng xã hội, do vậy, con đường phát triển của Việt Nam hiện nay là
xây dựng các yếu tố của XHCN trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đề
phòng sự chệch hướng XHCN diễn ra dưới mọi hình thức. Để làm được như vậy, Đảng
và Nhà nước ta trước hết phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
- Phát triển KH&CN là nhằm tạo ra động lực và tiền đề để tăng trưởng kinh tế
đồng thời phải gắn với phát triển bền vững theo chiều sâu, triệt tiêu những hậu quả tiêu

cực đối với môi trường, cả môi trường thiên nhiên, sinh thái và nhân văn.
- Phân công lao động xã hội theo hướng tiến bộ, nghĩa là toàn bộ xã hội có công
ăn việc làm, lao động có tay nghề, hàm lượng khoa học - công nghệ ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu lao động, đây là một trong những tiêu chí định hướng XHCN
trong phát triển KH&CN.
- Xuất phát từ trình độ KH&CN rất thấp, lại phân bố không đều và bị mất cân đối
lớn giữa các ngành, vùng, lãnh thổ như hiện nay, để khắc phục chúng ta cần phải ứng
dụng nhanh và có hiệu quả những tiến bộ KH&CN vào các ngành, vùng của nền kinh tế,
trong thời gian trước mắt cần hướng vào khu vực nông nghiệp - nông thôn, nhằm thu hẹp
sự chênh lệch giữa các vùng miền, nhất là giữa nông thôn và thành thị trong cả nước.
- Mọi thành quả kinh tế - xã hội của việc phát triển, ứng dụng KH&CN vào thực
tiễn phải vì mục tiêu phục vụ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động, cho sự nghiệp xây

chuyên ngành đã ra đời. Sớm nhất là Hội Luật gia Việt Nam (1955), Tổng hội Y - Dược
học Việt Nam (1955) và Hội Y học cổ truyền Việt Nam (1957). Sau đó là hàng loạt các
Hội Khoa học và Kỹ thuật khác được thành lập như: Hội Cơ học Việt Nam (1982), Hội
Xây dựng Việt Nam (1982), Hội Lâm nghiệp Việt Nam và Hội các ngành sinh học Việt
Nam (1982)
Qua một thời gian hoạt động, các Hội Khoa học và Kỹ thuật cùng nhiều nhà khoa
học Việt Nam mong muốn có một tổ chức chung để đoàn kết, điều hòa và phối hợp các hoạt

Trích đoạn Hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải được coi là một trong những nhân tố quyết Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải trên cơ sở kế thừa có chọn lọc truyền Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phải mang tính toàn diện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status