Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NÂNG CAO NĂNG LỰC PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA
CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC
VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số: 60.34.70
Khóa: 2007 - 2010 Người thực hiện: Trịnh Đình Trung
Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Hà

1.3.7.Quản lý KH&CN 28
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THUỘC LIÊN HIỆP HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 29
2.1. Mô hình các tổ chức KH&CN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập 29
2.2. Các tổ chức KH&CN thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam 33
2.2.1. Các tổ chức Khoa học&Công nghệ trực thuộc Liên hiệp hội phát triển
nhanh về số lƣợng 34
2.2.2. Về tên gọi các tổ chức KH&CN trực thuộc 36
2.2.3. Về sự phân bố của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội
KH&KT Việt Nam 36
2.3. Hoạt động KH&CN của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội
KH&KT Việt Nam 37
2.3.1. Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) 37
2.3.2. Hoạt động triển khai vào sản xuất 38
2.3.3. Hoạt động đào tạo, thông tin và phổ biến kiến thức 392.4. Hoạt động phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN CN trực thuộc Liên hiệp
các hội KH&CN Việt Nam 40
2.4.1. Các tổ chức KH&CN tham gia vào quá trình phản biện xã hội do Liên
hiệp các hội KH&KT Việt Nam trực tiếp tiến hành 42
2.4.2. Các Tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam
trực tiếp tham gia vào phản biện xã hội 45
2.5. Một số phân tích và đánh giá 50
CHƢƠNG 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ
CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI
KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 52
3.1. Hoàn thiện chính sách KH&CN quốc gia trong lĩnh vực phát triển các tổ chức
KH&CN 53

- BCH
Ban chấp hành
- KT-XH
Kinh tế - Xã hội
- CT - XH
Chính trị - xã hội
- LHH
Liên hiệp hội
- KH&CN
Khoa học và công nghệ
- CNH
Công nghiệp hóa
- HĐH
Hiện đại hóa
- TP.HCM
Thành Phố Hồ Chí Minh
- CT-XH
Chính trị - xã hội
- KH&CN
Khoa học và công nghệ
- KH&KT
Khoa học và kỹ thuật
- BKH&CN
Bộ Khoa học và Công nghệ
- PBXH
Phản biện xã hội
- NĐ/CP
Nghị định - Chính Phủ
- NSNN
Ngân sách nhà nƣớc

động theo cơ cấu và quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ƣơng”
[3] ; Chỉ thị số 45 –CT/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị: “LHH là một
tổ chức CT–XH của trí thức KH&CN Việt Nam, cùng với các đoàn thể CT -
XH khác tạo thành lực lƣợng nòng cốt trong công cuộc CNH, HĐH” đất nƣớc
[4]. Đẻ xây dựng LHH thành một tổ chức CT - XH vững mạnh của đội ngũ trí
thức KH&CN Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển
2
KH&CN, CNH, HĐH nƣớc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, cần tiếp tục
đổi mới, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của LHH Việt Nam.
Sau 27 năm hoạt động và thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, LHH Việt
Nam đã phát triển mạnh mẽ về tổ chức; các hoạt động CT-XH, tƣ vấn, phản
biện và giám định xã hội ngày càng rõ nét; các công tác phổ biến kiến thức
KH&KT góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hoá KH&CN, giáo dục và đào
tạo, đạt nhiều kết quả rõ rệt. Vai trò, vị trí và uy tín của LHH trong xã hội
ngày càng đƣợc nâng cao. Hiện nay, Liên hiệp hội đã có 70 hội ngành trung
ƣơng, 55 LHH tỉnh, thành phố là thành viên của LHH Việt Nam. Ngoài ra
LHH còn có hơn 300 tổ chức KH&CN với quy mô khác nhau đã tập hợp
đƣợc trên 80 vạn trí thức KH&CN. Mặc dù phát triển nhanh về số lƣợng,
LHH Việt Nam mới chỉ tập hợp đƣợc 1/3 số lƣợng trí thức trong cả nƣớc [5].
Trong công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, LHH Việt
Nam đã triển khai nhiều dự án điều tra cơ bản về môi trƣờng, chƣơng trình, đề
tài nghiên cứu, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nƣớc và đề tài cấp LHH
Việt Nam. Trong hoạt động tƣ vấn, phản biện xã hội và giám định xã hội cũng
là một trong những nhiệm vụ chính của LHH Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động
tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội mang tính độc lập của LHH theo tinh
thần Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 của Thủ Tƣớng Chính Phủ
[6] vẫn còn những vƣớng mắc; nhiều cấp, nhiều ngành chƣa nhận thức đầy đủ

Để giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên nhằm góp phần nâng cao
vai trò của LHH Việt Nam theo hƣớng nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN
và năng lực phản biện xã hội. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao
năng lực phản biện xã hội của các tổ chức Khoa học & Công nghệ thuộc Liên
hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam”.
4
2. Tổng quan các vấn đề đã đƣợc nghiên cứu
Ở Việt Nam, vấn đề phản biện xã hội thực sự nổi lên và đƣợc quan tâm
khoảng những năm gần đây. Nhƣng cũng cần nhấn mạnh rằng chƣa có công
trình khoa học trong khuôn khổ quản lý nhà nƣớc nhƣ đề tài các cấp (nhà
nƣớc, bộ, ngành, cơ sở) nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực
tiễn về hoạt động phản biện xã hội tại các tổ chức Dân sự ở Việt Nam.
Những bài viết trên các tạp chí thƣờng dừng lại ở mức thông tin, tổng quan
một số khía cạnh chung, nhƣ khái niệm về phản biện xã hội, vai trò của các tổ
chức liên quan đến phản biện xã hội….
- Nghị quyết đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006) đã chỉ rõ:
"Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đƣờng lối, chủ
trƣơng, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả
đối với công tác tổ chức và cán bộ". ( ) "Coi trọng vai trò tƣ vấn, phản biện
của các Hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với
các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội". ( ) "Nhà nƣớc ban hành cơ chế
để Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản
biện xã hội" [7].
- Phản biện xã hội, tác giả Trần Đăng Tuấn - NXB Đà Nẵng (2006). Cuốn
sách tập hợp các bài viết, phản biện xã hội chỉ là một bài trong tập sách mà
tác giả lấy làm tên cuốn sách. Theo tác giả, phản biện, tự phản biện nó là điều

hội…đều vừa là đối tƣợng giám sát - phản biện, vừa là đối tƣợng chịu sự
6
giám sát - phản biện nhằm vào những chủ trƣơng, quyết sách, những hiện
tƣợng, trào lƣu, những quan điểm nảy sinh trong thực tế đời sống chính trị,
kinh tế, văn hoá - xã hội mà diễn đàn của các hoạt động này chính là báo chí.
- Nghiên cứu - trao đổi vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với việc
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, của TS. Đoàn Minh Huấn, học viện Hành
chính khu vực 1. Theo Ông, giám sát và phản biện xã hội có vai trò quan
trọng trong thực hành dân chủ, góp phần năng động hóa sự cầm quyền, gia
cƣờng chất lƣợng thể chế, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ của ngƣời
dân. Giám sát xã hội và phản biện xã hội cần phải đƣợc đặt trong mối quan hệ
tƣơng tác với giám sát, kiểm tra và phê bình trong Đảng; giám sát, thanh tra,
kiểm soát và phê bình trong bộ máy nhà nƣớc… Tất cả cùng hợp thành một
cơ chế hỗn hợp kiểm soát quyền lực, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nƣớc
thuộc về nhân dân, bảo vệ bản chất dân chủ của chế độ.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về phản biện xã hội và tổ chức và hoạt
động KH&CN của LHH Việt Nam, luận văn nhận diện thực trạng hoạt động,
và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và nâng cao năng lực phản
biện xã hội của các tổ chức KH&CN thuộc LHH Việt Nam.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận về phản biện xã hội và hoạt động KH&CN của
các tổ chức thuộc LHH Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng hoạt động KH&CN và phát triển các tổ chức
KH&CN trong LHH Việt Nam.


8
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phân tích tài liệu
Phân tích các nguồn tƣ liệu, số liệu sẵn có về chính sách và quản lý nhà
nƣớc về KH&CN. Các nguồn tƣ liệu, số liệu thu đƣợc từ nguồn Bộ KH&CN,
Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam
7.2. Tiếp cận hệ thống chức năng, tiếp cận lịch sử
Sử dụng phƣơng pháp này để nghiên cứu hệ thống tổ chức KH&CN, với
từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc.
7.3. Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn với một số cán bộ lãnh đạo quản lý của tổ chức KH&CN về
vấn đề phát triển và hoạt động KH&CN của đơn vị mình quản lý.
7.4. Quan sát, tổng kết thực tiễn
Tổng kết thực tiễn mô hình tổ chức và hoạt động KH&CN của một số tổ
chức KH&CN ở LHH Việt Nam.
7.5. Phương pháp nghiên cứu và so sánh
Nghiên cứu hệ thống văn bản chính sách về phát triển KH&CN Việt Nam
qua các thời kỳ, nghiên cứu hệ thống tổ chức KH&CN qua mỗi giai đoạn.
8. Luận cứ khoa học
- Luận cứ lý thuyết: Sử dụng lý thuyết quản lý, lý thuyết hệ thống
chức năng, lý thuyết sử dụng nhân lực KH&CN trong thời đại CNH, HĐH
và hội nhập ….
- Luận cứ thực tiễn: Thực tiễn hoạt động KH&CN trong đó có phản biện
xã hội của một số tổ chức KH&CN ở LHH Việt Nam.
9
9. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (trong đó có hoạt động

quy mô, lực lƣợng tham gia rộng lớn hơn nhiều [9].
Phản biện xã hội là một khái niệm CT - XH, phản biện xã hội về thực
chất là sự phản biện của nhân dân. Nhân dân là chủ thể của phản biện xã hội
với hai tƣ cách:
Thứ nhất: Với tƣ cách là ngƣời chủ, nhân dân có quyền giám sát đối với
mọi hoạt động của Nhà nƣớc. Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân có
công cụ hữu hiệu, có điều kiện tốt hơn thực hiện quyền và giám sát các hoạt
động của Nhà nƣớc.
Thứ hai: Với tƣ cách là đối tƣợng chịu sự quản lý của Nhà nƣớc, nhân
dân có quyền bảo vệ lợi ích, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình trƣớc
những chủ trƣơng, chính sách, đề án chƣa hợp lí chƣa đáp ứng đầy đủ của
Nhà nƣớc các quyền lợi đó [10].
Theo từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà
Nẵng và trung tâm Từ điển học phát hành năm 2000, thì phản biện là một
11
động từ với nội hàm: “đánh giá chất lƣợng một công trình khoa học khi công
trình đƣợc đƣa ra bảo vệ để lấy học vị trƣớc hội đồng chấm thi”.
“Phản biện là nhận xét và đánh giá về một công trình khoa học (luận án,
luận văn, khoá luận hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của một đề tài, một
chƣơng trình nghiên cứu…). Ngƣời (hay cơ quan) phản biện nhận định về
tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài, nội dung và hình thức thể hiện của công
trình khoa học, phƣơng pháp nghiên cứu, kết luận, đóng góp, hạn chế… cuối
cùng đánh giá chung là đạt hay không đạt những yêu cầu đề ra, xếp loại [11].
Qua các khai niệm nêu trên về phản biện xã hội, luận văn thiên về khái
niệm có ý nghĩa bao hàm và tổng quát nhất là khái niệm trong từ điển Bách
khoa Việt nam: “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung, nhƣng có quy
mô và lực lƣợng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân, và các nhà khoa học

lãng phí, thực hành tiết kiệm.
Thứ sáu, giám sát xã hội và phản biện xã hội đòi hỏi giới cầm quyền phải
chấp nhận sự cọ sát, tranh luận, đối thoại với nhân dân và nhờ đó rèn luyện
thêm kỹ năng chính trị hiện đại, khắc phục tình trạng né tránh công luận, gây
sự trì trệ của hệ thống. Giám sát xã hội và phản biện xã hội cũng là môi
trƣờng tốt cho giáo dục, rèn luyện, lôi cuốn quần chúng vào các phong trào xã
hội theo định hƣớng của thể chế cầm quyền.
Thứ bảy: giám sát xã hội và phản biện xã hội là môi trƣờng rèn luyện dân
chủ, tăng cƣờng tính tích cực và năng động trong thực hành dân chủ, thúc đẩy
hiện đại hóa xã hội.
1.1.4. Quá trình hình thành phản biện xã hội ở Việt Nam
Phản biện xã hội đến Đại hội X, đƣợc chính thức ghi vào trong Văn kiện
của Đảng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò
và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân tham gia xây
dựng đƣờng lối chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nƣớc, thực
hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” [7].
13
Nhƣng trên thực tế, phản biện xã hội đã diễn ra trong xã hội ta từ rất lâu.
Ngay cả đƣờng lối đổi mới của Đảng từ cách đây hơn 20 năm cũng đã bắt đầu
từ hoạt động thực tiễn, từ ý kiến đóng góp của nhân dân. Qua hoạt động thực
tiễn và ý kiến của nhân dân mà đƣờng lối đổi mới đƣợc hình thành. Đồng thời
cũng chính qua hoạt động thực tiễn và ý kiến đóng góp của nhân dân mà
đƣờng lối đổi mới ngày càng đƣợc phát triển, hoàn thiện. Có thể nói, xã hội
ta, nhân dân ta là cơ sở nảy sinh đƣờng lối và sự nghiệp đổi mới; Đảng ta là
ngƣời khái quát, tổng hợp, tổng kết hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức
của nhân dân. Nhƣ vậy, Đảng là tác giả của chiến lƣợc đổi mới trên cơ sở
hoạt động thực tiễn và phản biện của nhân dân (mặc dù đến Đại hội Đảng X,

tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn.
Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo,
ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
Thời gian đƣa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ
ngày càng rút ngắn. Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết
lợi dụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng
nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng. Với tiềm lực hùng mạnh về
tài chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ
và chi phối thị trƣờng các công nghệ tiên tiến.
Để thích ứng với bối cảnh trên, các nƣớc phát triển đang điều chỉnh cơ
cấu kinh tế theo hƣớng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm
lƣợng công nghệ cao, công nghệ thân môi trƣờng; đẩy mạnh chuyển giao
những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lƣợng, gây ô nhiễm cho
các nƣớc đang phát triển. Nhiều nƣớc đang phát triển dành ƣu tiên đào tạo
nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức đầu tƣ cho nghiên cứu và đổi
mới công nghệ, nhất là một số hƣớng công nghệ cao chọn lọc; tăng cƣờng cơ
15
sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹp
khoảng cách phát triển.
1.2.2. Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng. Đây
vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nƣớc
để bảo vệ lợi ích quốc gia.
Để tồn tại và phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh ngày càng quyết liệt,
những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thƣờng xuyên đổi mới và nâng cao
chất lƣợng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phƣơng thức tổ chức quản
lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá

kinh tế, quốc phòng, an ninh đƣợc tăng cƣờng; thể chế kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc hình thành về cơ bản; vị thế của nƣớc ta trên
trƣờng quốc tế đƣợc nâng cao.
Trong bối cảnh đó, KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa
học cho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc; đóng góp thiết
thực vào việc nâng cao hiệu quả và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế,
đáp ứng các mục tiêu chiến lƣợc phát triển KT - XH.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, không có công nghệ nào là duy nhất đối với
bất cứ một công ty hay một quốc gia nào. Nửa thế kỷ qua, sức mạnh kinh tế
cũng nhƣ KH&CN của Mỹ luôn đứng đầu thế giới. Đối với các nƣớc đang
phát triển nhƣ Việt Nam, hội nhập quốc tế về KH&CN là động lực thúc đẩy
các hoạt động KH&CN trong nƣớc. Đây là cơ hội để chúng ta khai thác thành
tựu KH&CN thế giới, thu hút nguồn lực và công nghệ nƣớc ngoài để nâng
cao và phát triển trình độ KH&CN trong nƣớc, góp phần thực hiện các mục
17
tiêu chiến lƣợc phát triển KT – XH và từng bƣớc hội nhập nền kinh tế tri thức
của thế giới.
1.2.4. Cơ hội, thách thức và khó khăn:
- Cơ hội: Đảng và Nhà nƣớc luôn coi trọng sự nghiệp phát triển
KH&CN, Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KH&CN cùng
với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động
lực cho CNH, HĐH đất nƣớc.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đƣờng lối đa phƣơng hoá, đa
dạng hoá quan hệ quốc tế, nƣớc ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu hút tri thức
KH&CN, các nguồn lực và kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến của nƣớc
ngoài để nhanh chóng tăng cƣờng năng lực KH&CN quốc gia, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng

Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nƣớc ta hiện nay là phải
nâng cao nhanh chóng năng lực KH&CN để thực hiện quá trình CNH, HĐH
rút ngắn, trong điều kiện nƣớc ta còn nghèo, vốn đầu tƣ hạn hẹp, trình độ phát
triển kinh tế và KH&CN còn có khoảng cách khá xa so với nhiều nƣớc trên
thế giới và trong khu vực.
Trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên
thiên nhiên, giá lao động rẻ dần nhƣờng chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có
trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nƣớc ta nếu không sớm
chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của
lực lƣợng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nƣớc trong
khu vực về thu hút đầu tƣ và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.
Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN, nƣớc ta đang
đứng trƣớc những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về
19
kinh tế, thƣơng mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v phù hợp với
thông lệ quốc tế. Tình trạng này nếu không sớm vƣợt qua sẽ cản trở sự thành
công của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Trƣớc những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết
sách đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN,
những biện pháp mạnh mẽ tăng cƣờng năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy
cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào
nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi.
Xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên
nhiên, giá lao động rẻ dần nhƣờng chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình
độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nƣớc ta nếu không sớm chuyển
đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực
lƣợng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nƣớc trong khu

vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy.
- Khái niệm về công nghệ: Công nghệ là những phƣơng pháp, cách thức
dựa trên cơ sở khoa học đƣợc sử dụng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm vật
chất. Công nghệ là kết quả của quá trình vật chất hóa tri thức khoa học, vận
dụng các quy luật tự nhiên, các nguyên lý khoa học vào sản xuất và tinh thần
của con ngƣời.
“Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,
công cụ phƣơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [13].
Theo định nghĩa trên thì công nghệ bao gồm hai yếu tố tinh thần và vật
chất. Yếu tố tinh thần ở đây là các tri thức khoa học, các phƣơng pháp, cách
thức con ngƣời sử dụng nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất. Yếu tố vật chất
ở đây chính là các thiết bị do con ngƣời sử dụng trong quá trình sản xuất. Con
ngƣời là nhân tố duy nhất có khả năng tổng hợp các lực lƣợng vật chất và tinh
21
thần để áp dụng vào thực tiễn, vì tri thức khoa học và phƣơng tiện kỹ thuật chỉ
có thể phát huy đƣợc tác dụng thông qua quá trình hoạt động của con ngƣời.
Chúng ta có thể hiểu công nghệ bao gồm có hai phần: Phần cứng và phần
mềm.
+ Phần cứng là toàn bộ phần ta có thể nhìn thấy đƣợc và có thể mua bán
đƣợc trên thị trƣờng nhƣ thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất.
+ Phần mềm gồm tri thức, kỹ năng, công thức để sử dụng phần cứng tạo
ra sản phẩm vật chất. Trong cơ chế thị trƣờng phần mềm cũng đƣợc mua và
bán cũng nhƣ trao đổi trên thị trƣờng.
Trong một số trƣờng hợp ngƣời ta phân thành bốn nhóm yếu tố cơ bản:
+ Nhóm yếu tố kỹ thuật gồm các thiết bị, máy móc.
+ Nhóm yếu tố con ngƣời gồm các chuyên gia nghiên cứu, tƣ vấn, những
ngƣời trực tiếp gắn bó với các hoạt động công nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status