Giá thành sản phẩm là tấm gương phản chiếu toàn bộ các biện pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật marketing của Doanh nghiệp - Pdf 20

Lời mở đầu

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp sản xuất là lợi
nhuận, do đó ngoài việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh
nghiệp sản xuất (DNSX) phải thường xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm. Bởi vì trong các DNSX hạ giá thành sản phẩm là chỉ tiêu cần thiết để
tăng lợi nhuận, nó cũng là tiền đề để hạ giá bán tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
trên thị trường. Đồng thời mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội và tăng tích luỹ cho
nền kinh tế. Giá thành chính là chỉ tiêu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý
hiệu quả và chất lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói giá thành
sản phẩm là tấm gương phản chiếu toàn bộ các biện pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật
mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với ý
nghĩa đó thì hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là công tác trọng
tâm của kế toán các doanh nghiệp sản xuất.
Từ những nhận thức trên và trong thời gian thực tế thực tập tại "Công ty Sản xuất gạch
Block - Đà Nẵng", được sự giúp đỡ của các anh, chị trong công ty em đã đi sâu tìm
hiểu nội dung công tác kế toán giai đoạn sản xuất. Tuy nhiên do có một số mặt hạn chế
nên em không thể đi sâu nghiên cứu hết toàn bộ công tác kế toán giai đoạn sản xuất
của toàn công ty mà xin được trình bày đề tài: "Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm gạch tại Công ty Sản xuất Gạch Block - Đà Nẵng".
PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM:
1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
1.1. Khái niệm chi phí sản xuất:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều phải bỏ ra các loại
chi phí khác nhau, thường bao gồm các khoản:
- Chi phí về nguyên liệu, vật liệu.
- Chi phí nhân công.
- Chi phí khấu hao TSCĐ.

còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, còn giá thành sản
phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm
hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển
sang.
Tuy nhiên, giữa 2 khái niệm chi phí sản xuất và giá thành có mối quan hệ mật thiết vì
nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh nghiệp
đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành
sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành, sự tiết kiệm hay lãng phí của doanh nghiệp
về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm hạ hay cao. Việc
quản lý giá thành gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
2. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
2.1. Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác
nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Để
phục vụ cho công tác hạch toán và quản lý chi phí sản xuất cần thiết phải tiến hành
phân loại chi phí s xs theo các tiêu thức khác nhau.
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế :
Theo cách phân loại này những chi phí sản xuất trong doanh nghiệp có cùng nội dung
kinh tế sẽ được sắp xếp chung vào một yếu tố chi phí không kể chi phí đó phát sinh ở
đâu và dùng vào mục đích gì.
Theo quy định hiện hành gồm có các yếu tố chi phí là:
- Chi phí NVL: bao gồm các chi phí về NVL, phụ tùng thay thế công cụ dụng cụ mà
doanh nghiệp sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Chi phí nhân công: bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân
và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí Khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản
xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí không thuộc các loại trên như: chi phí
tiếp khách, hội nghị , thuê quảng cáo
* Tác dụng của cách phân loại này: Giúp doanh nghiệp biết được quá trình sản xuất

toán chi phí bao gồm: dự toán tiêu thụ -> dự toán sản xuất -> dự toán chi phí vật liệu
trực tiếp -> dự toán vật tư -> dự toán chi phí nhân công trực tiếp và dự toán chi phí sản
xuất chung.
Xem xét chi phí trong mối quan hệ với doanh thu và lợi nhuận.
d. Phân loại chi phí theo chức năng:
Gồm những chi phí cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trong phân xưởng như: chi phí
NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Chi phí tiêu thụ: gồm những chi phí gắn liền với hoạt động lưu thông sản phẩm của
doanh nghiệp.
Chi phí quản lý là những chi phí gắn liền với kết quả hoạt động chức năng toàn doanh
nghiệp.
Tác dụng: Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công xưởng, giá thành
toàn bộ từ đó xác định các chỉ tiêu lãi gộp và lãi trước thuế.
e. Các cách phân loại chi phí khác:
Tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các cách phân loại
trên. ngoài ra còn có cách phân loại khác là: phân loại chi phí theo phương pháp tập
hợp chi phí vào đối tượng tính giá thành thì chia ra: chi phí trực tiếp và chi phí gián
tiếp, phân loại theo khả năng kiểm soát thì chia: chi phí kiểm soát được và chi phí
không kiểm soát được.
2.2. Phân loại giá thành sản phẩm:
Để giúp cho việc quản lý tốt giá thành sản phẩm kế toán cũng cần phân biệt giá thành:
a. Phân loại giá thành theo thời gian và nguồn vốn số liệu để tính giá thành:
Giá thành kế hoạch: là giá thành tính trước khi bắt đầu sản xuất của kỳ kế hoạch, được
xây dựng căn cứ vào định mức và dự toán chi phí của kế hoạch.
Giá thành định mức: là một loại giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất sản
phẩm. Giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi
phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Giá thành thực tế: là giá thành được xác định sau khi đã hoàn thành công việc sản xuất
sản phẩm, căn cứ vào các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Nó bao gồm tất cả những chi phí thực tế phát sinh trong đó có cả những chi phí vượt

nghiệp. Mặt khác hạch toán chi phí sản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp, mà chỉ tiêu giá thành sản phẩm lại có ý nghĩa rất nhiều trong
các doanh nghiệp sản xuất cụ thể:
+ Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế, mỹ thuật tổng hợp được dùng để đánh
giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, nó phản ánh một cách tổng quát các mặt
kỹ thuật, kinh tế, tổ chức của doanh nghiệp.
+ Phấn đấu hạ giá thành nâng cao chất lượng sản phẩm là nhân tố quyết định nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động,
nâng cao tích luỹ cho doanh nghiệp.
+ Tính toán chính xác giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán hợp lý của sản
phẩm, là cơ sở để kiểm tra tình hình thực hiện định mức tiêu hao tình hình thực hiện
hạch toán kinh tế nội bộ, là căn cứ để xác định kết quả sản xuất kinh doanh.
Như vậy công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá thành là một yếu tố quan trọng đối
với mọi doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế do vậy đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
không ngừng hoàn thiện và nâng cao công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp
mình, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế xã hội nói chung.
3.2. Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Để công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đáp ứng đầy đủ,
trung thực, kịp thời yêu cầu quản lý thì kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm cần thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, tính chất sản xuất, sản phẩm và đơn vịtính
giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp mà xác định đối tượng và phương pháp hạch
toán chi phí sản xuất cũng như đối tượng và phương pháp tính giá thành thích hợp.
- Ghi chép, phản ánh đầy đủ kịp thời mọi chi phí kinh tế phát sinh trong quá trình sản
xuất sỏ, kiểm tra tình hình thực hiện định mức tiêu hao lao động vật tư, các dự toán chi
phí phục vụ quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy sử dụng tiết kiệm hợp lý NVL, máy móc
thiết bị, lao động trong sản xuất cũng như trong quản lý vạch ra được mức độ và
nguyên nhân của những lãng phí và thiệt hại ở từng khâu sản xuất.
- Tổ chức kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang và tính toán chính xác, kịp thời giá

Đối tượng tính giá thành là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoặc lao vụ nhất
định đòi hỏi phải xác định giá thành đơn vị do vậy đối tượng tính giá thành có thể là
sản phẩm cuối cùng , cũng có thể là sản phẩm trên dây chuyền sản xuất.
2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
2.1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo chi tiết sản phẩm hay bộ phận sản
phẩm:
Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo từng chi
tiết hoặc bộ phận sản phẩm riêng biệt phù hợp với tính chất quy trình công nghệ.
Phương pháp này khá phức tạp chủ yếu áp dụng hạn chế ở những doanh nghiệp
chuyên môn hoá cao, sản xuất ít loại sản phẩm hoặc mang tính đơn chiếc và có ít chi
tiết hoặc bộ phận cấu thành.
2.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm:
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân loại theo từng
thứ sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm riêng
biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm và quy trình công nghệ sản
xuất.
Phương pháp này được áp dụng ở những doanh nghiệp sản xuất hàng loạt khối lượng
lớn như dệt, khai thác
2.3. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm:
Theo phương pháp này các chi phí s xs phát sinh được tập hợp và phân loại theo nhóm
sản phẩm.
Phương pháp này áp dụng thích hợp ở những doanh nghiệp sản xuất nhiều chủng loại
sản phẩm có quy cách khác nhau như: đóng giày, may mặc, dệt kim
2.4. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Các chi phí sản xuất được tập hợp và phân loại theo từng đơn đặt hàng riêng biệt. Khi
đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng đó là giá thành
thực tế của sản phẩm.
Phương pháp này áp dụng ở những doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc như: đóng tàu,
sửa chữa.
2.5. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ:

Giá trị SP DDCK
Tổng số lượng sản phẩm quy đổi
Trong đó:
Tổng số lượng sản phẩm quy đổi = Tổng số lượng sản phẩm loại i x Hệ
số quy đổi của sản phẩm i
3.5. Phương pháp tỷ lệ :
Aïp dụng trong những trường hợp đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là nhóm sản
phẩm, nhóm chi tiết sản phẩm nhưng đối tượng tính giá thành là từng thứ sản phẩm ,
chi tiết.
Phải căn cứ vào tổng chi phí thực tế và tổng chi phí kế hoạch hoặc định mức của tất cả
cấc sản phẩm để xác định tỷ lệ phân bổ chi phí.
Tỷ lệ phân bổ chi phí = Tổng giá thành sản xuất thực tế của các loại SP
Tổng giá thành kế hoạch của các loại SP (theo sản lượng thực tế)
Trong đó:
Giá thành thực tế đơn vị SP từng loại = Giá thành kế hoạch đơn vị sản phẩm
từng loại x Tỷ lệ phân bổ chi phí
3.6. Phương pháp liên hợp :
Aïp dụng trong điều kiện trong cùng một quy trình sản xuất vừa tạo ra nhiều loại sản
phẩm chính và có cả sản phẩm phụ nên không thể sử dụng phương pháp riêng lẽ nào
mà phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp khác nhau để xác định giá thành sản
phẩm.
Phương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp hệ số (hoặc tỷ lệ) để xác định giá
thành của từng thứ, từng loại sản phẩm khi đối tượng hạch toán chi phí là nhóm sản
phẩm, nhóm chi tiết sản phẩm.
Phương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp tổng cộng chi phí để xác định giá
thành sản phẩm cuối cùng khi đối tượng hạch toán chi phí là chi tiết, bộ phận sản
phẩm.
III. NỘI DUNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT:
1. Nội dung và phương pháp hạch toán chi phí NVL trực tiếp:
1.1. Nội dung của hạch toán chi phí NVL trực tiếp:

tiếp.
* Nguyên tắc hạch toán TK 621.
- Giá trị NVL xuất dùng cho mục đích gì, bộ phận nào thì hạch toán trực tiếp cho mục
đích đó, bộ phận đó.
TK 621 được mở chi tiết theo ngàng sản xuất, nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ
phận sản xuất )
Phương pháp hạch toán:
b. Theo phương pháp kiểm kê định kỳ :
Tài khoản sử dụng: TK 611: mua hàng
TK 631: giá thành sản xuất
Nguyên tắc hạch toán: chi phí NVL phản ánh trên tài khoản này được ghi một lần vào
cuối kỳ kế toán. Cuối kỳ kế toán doanh nghiệp tiến hành kiểm kê và xác định giá trị
từng thứ NVL tồn kho cuối kỳ để xác định giá trị NVL xuất kho:
Công thức:
Giá trị NVL xuất trong kỳ = Giá trị NVL nhập trong kỳ + Giá trị NVL tồn
đầu kỳ - Giá trị NVL tồn cuối kỳ
Phương pháp hạch toán:
2. Nội dung và phương pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
2.1. Nội dung:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản trích theo
lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh theo từng đối tượng hạch toán chi phí
trường hợp chi phí liên quan đến nhiều đối tượng hạch toán thì phải phân bổ theo một
trong các tiêu thức là:
+ Phân bổ theo tiền lương định mức của từng sản phẩm.
+ Phân bổ theo tỷ lệ khối lượng sản phẩm.
2.2. Phương pháp hạch toán:
Tài khoản sử dụng: TK 622: chi phí nhân công trực tiếp
Nguyên tắc hạch toán vào TK 622
- Không hạch toán vào TK 622 những khoản phải trả về tiền lương và các khoản phụ

Chỉ hạch toán vào TK 631 các loại chi phí sản xuất kinh doanh là chi phí NVL trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Không hạch toán vào TK 631 các chi phí: bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi
phí hoạt động tài chính, chi phí bất thường, chi phí sự nghiệp.
Chi phí của bộ phận sản xuất kinh doanh phục vụ cho sản xuất kinh doanh chinghs giá
trị vốn hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và chi phí thuê ngoài gia công chế biến cũng
được hạch toán vào TK 631.
TK 631 được hạch toán chi tiết theo nơi phát sinh chi phí, theo loại nhóm sản phẩm,
chi phí tiết, lao vụ, dịch vụ
Phương pháp hạch toán:
2. Đánh giá sản phẩm dở dang:
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình sản
xuất, chế biến, đang nằm trên dây chuyền công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quy
trình chế biến nhưng vẫn phải còn gia công, chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm.
Trong các doanh nghiệp sản xuất thường có quá trình công nghệ sản xuất liên tục và
xen kẽ nhau nên ở thời điểm cuối tháng, cuối quý, cuối năm thường có khối lượng sản
phẩm đang sản xuất dở dang và những sản phẩm dở dang này bao gồm:
- Chi tiết, bộ phận gia công chế biến trên dây chuyền sản xuất hay tại vị trí sản xuất.
- Những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn sản xuất cuối cùng nhưng chưa làm thủ tục
nghiệm thu nhập kho thành phẩm.
- Để biết được sản phẩm dở dang phải tiến hành kiểm kê và tính giá, nguyên tắc của
kiểm kê là phải tiến hành đồng thời, tránh trùng lắp, tránh bỏ sót.
2.1. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí NVL chính
Theo phương pháp này thì giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí NVL chính
còn của chi phí khác tính cho sản phẩm trong kỳ.
Chi phí SP dở dang cuối kỳ = CP NVL chính DDĐK + CP NVL chính
PSTK x Số lượng SP dở dang cuối kỳ
Số lượng SP hoàn thành + SL SP DDCK
Như vậy theo phương pháp này chi phí NVL chính tiêu hao cho sản phẩm dở dang
trong kỳ và thành hpẩm là như nhau, do đó phương pháp này ít chính xác. Chỉ nên áp

từ công đoạn đầu đến công đoạn cuối.
2.4. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo giá thành định mức:
Phương pháp này được áp dụng trên cơ sở giá thành định mức được xây dựng cho
từng nguyên công, từng chi tiết, từng bộ phận kết cấu của sản phẩm căn cứ vào đó để
xác định chi phí của sản phẩm dở dang.
Phương pháp này đòi hỏi có định mức chi phí hoàn chỉnh.
V. PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM:
1. Đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn:
Các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn là những doanh nghiệp có quy
trình công nghệ sản xuất tương đối đơn giản chỉ sản xuất một hoặc một số mặt hàng
với khối lượng lớn chu kỳ sản xuất không dài, tính chất sản phẩm làm ra không phức
tạp, sản phẩm dở dang không có hoặc có rất ít như doanh nghiệp điện nước, khí nén
Nếu sản xuất một mặt hàng thì đối tượng hạch toán chi phí trùng với đối tượng tính giá
thành sản phẩm.
Giá thành đơn vị sản phẩm = Giá trị SP DDĐK + CP SXPSTK - Giá trị SPDDCK
Số lượng SP hoàn thành trong kỳ
Nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng nhưng được chế tạo từ những vật liệu
giống nhau, quy trình công nghệ như nhau, sản phẩm chỉ khác nhau ở quy cách, kích
thước thì phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là theo nhóm sản phẩm, phương
pháp tính giá thành là phương pháp liên hợp.
2. Đối với doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng:
Các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng thường là những doanh nghiệp thuộc
loại hình sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt nhỏ do đó kế toán tiến hành tập
hợp chi phí theo từng đơn đặt hàng của người mua.
Đối tượng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng.
Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn đặt
hàng sẽ áp dụng phương pháp thích hợp như: phương pháp chi tiết, phương pháp hệ
số, phương pháp tổng cộng chi phí hay liên hợp
* Đặc điểm của việc tập hợp chi phí trong của doanh nghiệp này là:
- Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng của

sản xuất có thể được tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và phương án không
có bán thành phẩm.
Phương pháp tính giá thành là phương pháp trực tiếp kết hợp với phương pháp tổng
cộng chi phí hay hệ số (tỷ lệ)
3.1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo phương án có tính giá thành bán
thành phẩm:
Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch
toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm sản xuất ở các bước có thể dùng làm
thành phẩm bán ra ngoài.
Đặc điểm của phương án này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công
nghệ, giá trị bán thành phẩm của các bước chuyển sang bước sau được tính theo giá
thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục Chi phí gọi là kết chuyển tuần tự
Trình tự tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương án này có
thể biểu diễn qua sơ đồ sau:
3.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương án không
tính giá thành bán thành phẩm:
Theo phương pháp này thì không tính giá thành của bán thành phẩm trong mỗi giai
đoạn công nghệ. Chi phí chế biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính
nhập vào giá thành sản phẩm một cách song song. Chính vì thế trong thực tế người ta
còn gọi phương pháp này là phương pháp kết chuyển song song.
* Sơ đồ trình tự tính giá thành theo phương án:
Không tính giá thành bán thành phẩm:
PHẦN II TÌNH HÌNH HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM GẠCH TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT GẠCH BLOCK ĐÀ NẴNG
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY GẠCH BLOCK:
Công ty Xây dựng và Sản xuất Gạch Block Đà Nẵng là doanh nghiệp Nhà nước được
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng thành lập theo quyết định số 1060/QĐ-UB ngày
29/4/1997.
Trên cơ sở thống nhất của Bộ xây dựng và Tổng công ty Điện lực Việt Nam bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status