Khảo sát mô hình lý thuyết hội nhập thương mại điện tử tại các doanh nghiệp việt nam - Pdf 13

KHẢO SÁT MÔ HÌNH LÍ THUYẾT HỘI NHẬP THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
STUDY OF THE THEORETICAL MODEL OF E-COMMERCE INTEGRATION
IN VIETNAMESE ENTREPRISES
LÊ VĂN HUY
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã phát triển mạnh mẽ, góp phần thay đổi căn
bản và làm đa dạng các hoạt động thương mại trên thị trường, đặc biệt là trong điều kiện toàn
cầu hóa. Nghiên cứu hội nhập thương mại điện tử ở các doanh nghiệp Việt Nam: cách tiếp cận
mô hình lí thuyết dựa trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn của các tác
giả trên thế giới, đồng thời, kết hợp phân tích tình hình hội nhập tại Việt Nam để hình thành mô
hình hội nhập. Mô hình sẽ tạo ra cơ sở tiền đề giúp cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn tại
các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai.
ABSTRACT
E-commerce is indispensable results of digitalization and globalization era, contributes to
essential changes and diversified trade activities. In the macro point of view, studying e-
commerce integration influenced factors is necessary problem which every countries has to
face. By combining the models of e-commerce integration around the world with the analysis of
actual situations in Vietnam, the author has built a solution model which helps to establish a
basis to facilitate the practical study at prospective enterprises in Vietnam.
1. GIỚI THIỆU CHUNG
Thương mại điện tử (TMĐT) ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong việc
đưa lại cho doanh nghiệp (DN) những thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi
phí, rút ngắn chu kỳ sản xuất, dễ dàng tạo dựng và củng cố quan hệ khách hàng. Ở Việt Nam,
TMĐT đã có quá trình hình thành hơn 5 năm qua và được nhận định là đang bắt đầu bước vào
giai đoạn phát triển mạnh. Thống kê mới nhất cho biết cuối 2004 đã có trên 3.000 doanh nghiệp
xây dựng website và con số này tiếp tục tăng rất nhanh trong đầu năm 2005. Tuy nhiên, phần
lớn các ứng dụng TMĐT vẫn còn sơ khai, các website mới chỉ cung cấp thông tin khái quát
nhất về doanh nghiệp, sản phẩm mà chưa trở thành công cụ tương tác giữa khách hàng và
doanh nghiệp. Theo tài liệu của APEC, doanh số TMĐT đã tăng từ 500 tỷ USD năm 2000 lên

YẾU TỐ VỀ ĐỔI MỚI C.NGHỆ
Sự phức tạp khi ứng dụng TMĐT
Nhận thức những lợi ích liên quan
Sự phù hợp với tổ chức
Văn hóa doanh nghiệp
Hạ tầng công nghệ thông tin
Sử dụng
Nguồn lực của doanh nghiệp
Hội nhập TMĐT tại các DNghiệp
Mức độ
Giai đoạn
Sử dụng
Thăm dò
Đi sau
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, một số doanh nghiệp tại Việt Nam đã từng
bước sử dụng Internet, hội nhập thương mại điện tử và thu được những kết quả đáng kể. Tuy
nhiên, trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam cũng giống như một số doanh
nghiệp tại các nước đang phát triển đang đứng trước một số khó khăn đáng kể như việc thiếu
nguồn vốn, nguồn nhân lực, những cơ sở pháp lí cho việc triển khai TMĐT tại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc tồn tại những hạn chế trong hiểu biết bản chất, đặc điểm, lợi ích ứng dụng
TMĐT trong doanh nghiệp của người lãnh đạo, nhân viên cũng như thói quen mua hàng truyền
thống (theo kiểu họp chợ) của người dân... cũng là một trong những cản trở lớn đối với trong
quá trình hội nhập TMĐT ở các doanh nghiệp tại Việt Nam. Do vậy, việc tiếp cận mô hình lí
thuyết hội nhập TMĐT là một việc làm thật sự cần thiết, giúp cho chính phủ cũng như chính
bản thân doanh nghiệp có những quyết định phù hợp cho việc hội nhập thương mại điện tử
trong doanh nghiệp.
2. MÔ HÌNH HỘI NHẬP TMĐT Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – MÔ
HÌNH LÍ THUYẾT
Để hình thành nên mô hình hội nhập TMĐT ở các doanh nghiệp tại Việt Nam, chúng
tôi sẽ dựa trên cơ sở những phân tích về mô hình hội nhập TMĐT của các nước trên thế giới,

2.1. Các yếu tố thuộc về tổ chức
Khi hội nhập thương mại điện tử, một trong những nhóm yếu tố đầu tiên cần phải xem
xét là những yếu tố về tổ chức, các tác giả đã khẳng định những yếu tố: đặc điểm sản phẩm,
quy mô doanh nghiệp (lượng nhân viên, quy mô thị trường) (Ling (2001), Teo và Tan (1998)),
loại hình kinh doanh (Thong và Yap (1995)), định hướng chiến lược về hội nhập công nghệ
thông tin và TMĐT của doanh nghiệp (Auger và cộng sự (2003)), những hiểu biết về TMĐT
của nhân viên (Thong (1999)), những nguồn lực (về tài chính, nhân sự, cơ sở hạ tầng về CNTT,
khả năng duy trì hoạt động TMĐT...), và văn hóa của doanh nghiệp (Chieochan và cộng sự
(2000)) có tác động trực tiếp đến hội nhập công nghệ mới và TMĐT tại các doanh nghiệp.
Thực tế ở Việt Nam, một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp là việc thiếu hụt
lực lượng có tay nghề để đáp ứng nhu cầu của công nghệ cao và thiếu vốn đầu tư để xây dựng
hạ tầng công nghệ. Mặt khác, chính các doanh nghiệp chưa chịu hoặc chưa có định hướng
chiến lược về TMĐT cũng như chưa biết cách triển khai dự án TMĐT tại chính doanh nghiệp,
chưa cung cấp cho nhân viên một sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc ứng dụng
công nghệ mới và đặc biệt là TMĐT trong doanh nghiệp. Theo báo cáo của Bộ bưu chính viến
thông (8-2004), hiện nay, trên 85% doanh nghiệp đã có sử dụng mạng máy tính, trong hầu hết
các doanh nghiệp đã sử dụng máy tính, 14% có mạng diện rộng (WAN), đây là một điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển TMĐT tại doanh nghiệp, tuy nhiên, để triển khai được dự án
TMĐT, cần phải có một giải pháp đồng bộ từ phía doanh nghiệp về hạ tầng cơ sở về công nghệ
thông tin cũng như việc huấn luyện cho nhân viên những kiến thức về kinh doanh trên mạng để
cho họ có thể làm việc trong môi trường kinh doanh TMĐT một cách tốt nhất.
2.2. Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của người lãnh đạo
Để cho việc hội nhập công nghệ mới nói chung và TMĐT nói riêng được thực hiện
nhanh chóng trong doanh nghiệp, một vấn đề đặt ra là đòi hỏi người lãnh đạo phải có những
nhận thức và kiến thức nhất định về vai trò của TMĐT đối với doanh nghiệp (Chieochan và
cộng sự (2000), Thong và Yap (1995)) từ đó họ sẽ có những thái độ tích cực (Seyal và Rahman
(2003), Thong (1999)) đối với việc xúc tiến thực hiện và ứng dụng TMĐT trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Theo VietnamNet, ‘’TMĐT đang...‘’đi bộ’’ ở Việt Nam’’, một
nguyên nhân lớn nhất và quan trọng nhất là do nhận thức của xã hội về TMĐT và đặc biệt là
nhận thức của chính bản thân người lãnh đạo doanh nghiệp đối với loại hình này’’. Trong thời

văn bản quy định về việc áp dụng luật pháp và các quy định quốc tế về ứng xử trong TMĐT
với các giao dịch quốc tế là một vấn đề cấp thiết cần đặt ra. Bên cạnh đó, chính phủ cũng cần
chuẩn bị các điều kiện thích hợp cho việc cam kết thực hiện các chính sách của WTO về tiến
trình tự do hóa thương mại, trong đó tự do hóa ngành công nghệ truyền thông, cạnh tranh độc
quyền để đảm bảo các điều kiện kĩ thuật và tương quan giá cả hợp lí so với các nước trong khu
vực và thế giới, khuyến khích nghiên cứu và triển khai các dịch vụ viến thông cho các thành
phần kinh tế, lập các kế hoạch tổng thể cho ứng dụng kĩ thuật TMĐT trong các doanh nghiệp.
Một trong những yếu tố môi trường tác động đến việc hội nhập là sức ép từ chính những khách
hàng và nhà cung cấp của doanh nghiệp (Ling (2001), Rashid và Al-Qirim (2001), Tan và Teo
(2000)). Khác hàng và nhà cung cấp có quyền yêu cầu đối tác của mình ứng dụng TMĐT để
giúp họ thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm thông tin, mua hàng và thanh toán.
2.4. Các yếu tố về đổi mới công nghệ
Việc nhận thức những lợi thế của việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp là một tiền
đề cơ bản giúp cho việc hội nhập được thực hiện nhanh chóng (Limthongchai và Speece
(2003), Seyal và Rahman (2003)). Lãnh đạo doanh nghiệp cần phải nhận thức được rằng
TMĐT không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới, những
ngành nghề kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một phương thức kinh doanh mới:
Phương thức kinh doanh điện tử. Nó chuyển hóa các chức năng kinh doanh từ nghiên cứu thị
trường, sản xuất sản phẩm đến bán hàng, dịch vụ sau bán từ phương thức kinh doanh truyền
thống đến phương thức kinh doanh điện tử.
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo cũng cần nhận thức được những phức tạp (Seyal và
Rahman (2003), Grover (1993)) của việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp và sự tương hợp
hay thích hợp (Teo và Tan (1998), Grover (1993)) của phương thức kinh doanh này với hạ tầng
công nghệ thông tin và văn hóa của doanh nghiệp. Chính việc quá thận trọng trong việc duy trì
tính ổn định tại doanh nghiệp mà nhiều nhà lãnh đạo chưa có những quyết định xúc tiến việc
ứng dụng TMĐT tại doanh nghiệp của mình. Để giải quyết vấn đề này, chính phủ cần phải có
những chương trình đào tạo và bồi dưỡng cán bộ những hiểu biết về TMĐT cũng như những
vấn đề kiểm soát những sự thay đổi khi doanh nghiệp khi ứng dụng TMĐT.
Thông qua việc phân tích những yếu tố tác động đến hội nhập TMĐT tại Việt Nam giúp
cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn trong việc kiểm soát và kích thích quá trình hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status