KHẢO SÁT MÔ HÌNH LÍ THUYẾT HỘI NHẬP THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
STUDY OF THE THEORETICAL MODEL OF E-COMMERCE INTEGRATION
IN VIETNAMESE ENTREPRISES LÊ VĂN HUY
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã phát triển mạnh mẽ, góp phần thay đổi căn
bản và làm đa dạng các hoạt động thương mại trên thị trường, đặc biệt là trong điều kiện toàn
cầu hóa. Nghiên cứu hội nhập thương mại điện tử ở các doanh nghiệp Việt Nam: cách tiếp
cận mô hình lí thuyết dựa trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn của
các tác giả trên thế giới, đồng thời, kết hợp phân tích tình hình hội nhập tại Việt Nam để hình
thành mô hình hội nhập. Mô hình sẽ tạo ra cơ sở tiền đề giúp cho việc triển khai nghiên cứu
thực tiễn tại các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai.
ABSTRACT
E-commerce is indispensable results of digitalization and globalization era, contributes to
essential changes and diversified trade activities. In the macro point of view, studying e-
commerce integration influenced factors is necessary problem which every countries has to
face. By combining the models of e-commerce integration around the world with the analysis
of actual situations in Vietnam, the author has built a solution model which helps to establish a
basis to facilitate the practical study at prospective enterprises in Vietnam. 1. GIỚI THIỆU CHUNG
Thương mại điện tử (TMĐT) ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong việc
đưa lại cho doanh nghiệp (DN) những thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi
phí, rút ngắn chu kỳ sản xuất, dễ dàng tạo dựng và củng cố quan hệ khách hàng. Ở Việt Nam,
chính bản thân doanh nghiệp có những quyết định phù hợp cho việc hội nhập thương mại điện
tử trong doanh nghiệp.
2. MÔ HÌNH HỘI NHẬP TMĐT Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM – MÔ
HÌNH LÍ THUYẾT
Để hình thành nên mô hình hội nhập TMĐT ở các doanh nghiệp tại Việt Nam, chúng
tôi sẽ dựa trên cơ sở những phân tích về mô hình hội nhập TMĐT của các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước đang phát triển và những nước trong khu vực Đông Nam Á, đồng thời,
kết hợp với phân tích, xem xét một số vấn đề trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Phần lớn,
những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc hội nhập TMĐT được phát triển trên cở
sở các nhân tố ảnh hưởng đến hội nhập công nghệ mới như: công nghệ thông tin (IT), hệ
thống thông tin (IS), Internet. Việc hội nhập công nghệ mới ở một doanh nghiệp được thể
hiện theo ba giai đoạn: ý định (ý tưởng) ban đầu, hội nhập và ứng dụng (Pierce và cộng sự,
1977). Theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Bộ Thương mại (Vụ châu Á – Thái Bình
Dương) thì Việt Nam đang ở bước đầu tiên của giai đoạn thứ nhất của quá trình hội nhập.
Trong điều kiện tại Việt nam trong việc hội nhập TMĐT, chúng ta có thể xem xét và phân
tích việc hội nhập TMDT của các doanh nghiệp trên hai khía cạnh: giai đoạn (thời kì) hội
nhập và mức độ hội nhập.
- Giai đoạn (thời kì) hội nhập của doanh nghiệp được phản ánh bởi việc doanh
nghiệp đó đang trong giai đoạn áp dụng, có hoặc không có ý định triển khai trong
tương lai những hoạt động thương mại điện tử như thư điện tử (e-mail), trao đổi dữ
liệu điện tử (EDI), thanh toán điện tử (electronic payment), giao gửi số hóa (digital
delivery of content)) trong họat động kinh doanh của doanh nghiệp (Truong và
Rao (2002), Thong (1999), Teo và Tan (1998)). Do đó có thể sắp xếp một doanh
nghiệp ở trong giai đoạn đang áp dụng (doanh nghiệp đó đang áp dụng ít nhất một
hoạt động thương mại điện tử trong quá trình kinh doanh của mình), doanh nghiệp
thăm dò (doanh nghiệp dự kiến sẽ áp dụng ít nhất một hoạt động trong 5 năm tới)
và doanh nghiệp đi sau (không có ý định áp dụng hoặc sẽ áp dụng nhưng sau 5
năm nữa).
- Mức độ hội nhập TMĐT trong các doanh nghiệp được phản ánh bởi mức độ ứng
Hạ tầng công nghệ thông tin
Sử dụng
Nguồn lực của doanh nghiệp
Hội nhập TMĐT tại các DNghiệp
Mức độ
Giai đoạn
Sử dụng
Thăm dò
Đi sau
CNTT, khả năng duy trì hoạt động TMĐT...), và văn hóa của doanh nghiệp (Chieochan và
cộng sự (2000)) có tác động trực tiếp đến hội nhập công nghệ mới và TMĐT tại các doanh
nghiệp. Thực tế ở Việt Nam, một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp là việc
thiếu hụt lực lượng có tay nghề để đáp ứng nhu cầu của công nghệ cao và thiếu vốn đầu tư để
xây dựng hạ tầng công nghệ. Mặt khác, chính các doanh nghiệp chưa chịu hoặc chưa có định
hướng chiến lược về TMĐT cũng như chưa biết cách triển khai dự án TMĐT tại chính doanh
nghiệp, chưa cung cấp cho nhân viên một sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc
ứng dụng công nghệ mới và đặc biệt là TMĐT trong doanh nghiệp. Theo báo cáo của Bộ bưu
chính viến thông (8-2004), hiện nay, trên 85% doanh nghiệp đã có sử dụng mạng máy tính,
trong hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng máy tính, 14% có mạng diện rộng (WAN), đây là
một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển TMĐT tại doanh nghiệp, tuy nhiên, để triển khai
được dự án TMĐT, cần phải có một giải pháp đồng bộ từ phía doanh nghiệp về hạ tầng cơ sở
về công nghệ thông tin cũng như việc huấn luyện cho nhân viên những kiến thức về kinh
doanh trên mạng để cho họ có thể làm việc trong môi trường kinh doanh TMĐT một cách tốt
nhất.
2.2. Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của người lãnh đạo
Để cho việc hội nhập công nghệ mới nói chung và TMĐT nói riêng được thực hiện
nhanh chóng trong doanh nghiệp, một vấn đề đặt ra là đòi hỏi người lãnh đạo phải có những
nhận thức và kiến thức nhất định về vai trò của TMĐT đối với doanh nghiệp (Chieochan và
cộng sự (2000), Thong và Yap (1995)) từ đó họ sẽ có những thái độ tích cực (Seyal và
Rahman (2003), Thong (1999)) đối với việc xúc tiến thực hiện và ứng dụng TMĐT trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo VietnamNet, ‘’TMĐT đang...‘’đi bộ’’ ở Việt
Nam’’, một nguyên nhân lớn nhất và quan trọng nhất là do nhận thức của xã hội về TMĐT và
đặc biệt là nhận thức của chính bản thân người lãnh đạo doanh nghiệp đối với loại hình này’’.
Trong thời gian tới đây, TMĐT là việc đương nhiên Việt Nam phải thực hiện trong tiến trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới – nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của AFTA, tiến
tới gia nhập WTO. Việc cam kết gia nhập e-ASEAN, e-APEC cũng là một động lực cho
chính phủ Việt Nam cũng như chính các doanh nghiệp nhận thức rõ ràng hơn vai trò và lợi thế
trong việc phát triển TMĐT tại doanh nghiệp, và Việt Nam cũng sẽ và phải tận dụng được
những lợi thế về công nghệ mới của những quốc gia phát triển. Cũng theo VietNamNet, hiện
viến thông cho các thành phần kinh tế, lập các kế hoạch tổng thể cho ứng dụng kĩ thuật
TMĐT trong các doanh nghiệp. Một trong những yếu tố môi trường tác động đến việc hội
nhập là sức ép từ chính những khách hàng và nhà cung cấp của doanh nghiệp (Ling (2001),
Rashid và Al-Qirim (2001), Tan và Teo (2000)). Khác hàng và nhà cung cấp có quyền yêu
cầu đối tác của mình ứng dụng TMĐT để giúp họ thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm thông
tin, mua hàng và thanh toán.
2.4. Các yếu tố về đổi mới công nghệ
Việc nhận thức những lợi thế của việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp là một
tiền đề cơ bản giúp cho việc hội nhập được thực hiện nhanh chóng (Limthongchai và Speece
(2003), Seyal và Rahman (2003)). Lãnh đạo doanh nghiệp cần phải nhận thức được rằng
TMĐT không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới,
những ngành nghề kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một phương thức kinh doanh
mới: Phương thức kinh doanh điện tử. Nó chuyển hóa các chức năng kinh doanh từ nghiên
cứu thị trường, sản xuất sản phẩm đến bán hàng, dịch vụ sau bán từ phương thức kinh doanh
truyền thống đến phương thức kinh doanh điện tử.
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo cũng cần nhận thức được những phức tạp (Seyal và
Rahman (2003), Grover (1993)) của việc ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp và sự tương
hợp hay thích hợp (Teo và Tan (1998), Grover (1993)) của phương thức kinh doanh này với
hạ tầng công nghệ thông tin và văn hóa của doanh nghiệp. Chính việc quá thận trọng trong
việc duy trì tính ổn định tại doanh nghiệp mà nhiều nhà lãnh đạo chưa có những quyết định
xúc tiến việc ứng dụng TMĐT tại doanh nghiệp của mình. Để giải quyết vấn đề này, chính
phủ cần phải có những chương trình đào tạo và bồi dưỡng cán bộ những hiểu biết về TMĐT
cũng như những vấn đề kiểm soát những sự thay đổi khi doanh nghiệp khi ứng dụng TMĐT.
Thông qua việc phân tích những yếu tố tác động đến hội nhập TMĐT tại Việt Nam
giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn trong việc kiểm soát và kích thích quá trình
hội nhập tại các doanh nghiệp. Tuy nhiên, để biết được thực tế ở các doanh nghiệp như thế
nào, chúng ta cần phải thực hiện những nghiên cứu mang tính chất thực tiễn. Một trong những
cơ sở cho việc thực hiện vấn đề đó là việc xác lập các giả thiết. Trong khuôn khổ phân tích
này, chúng tôi đưa ra hai giả thiết, làm cơ sở cho việc phân tích mô hình thực tiễn về hội nhập
TMĐT ở các doanh nghiệp tại Việt Nam như sau: