Lời mở đầu
Nhiều năm đã đi qua sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bản đồ địa lý kinh
tế, chính trị thế giới đã đợc phân bố lại. Sự thành công hay thất bại của từng quốc
gia đã đợc thời gian khẳng định nh giá trị chung của quá trình phát triển nhân loại.
Một trong những nớc thành công trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
xã hội phải kể đến Nhật Bản và các nớc NICs, Châu á... tất nhiên không thể dựa
vào một vài khía cạnh kinh tế xã hội để định giá sự phát triển, song nhiều công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, đặc biệt là các nhà hoạch định
chính sách đều khẳng định đợc mấu chốt ở chỗ các nớc đều phát triển nền kinh tế
thị trờng và mở rộng giao lu quốc tế. Quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá trong
quan hệ kinh tế quốc tế không còn là xu hớng mà đã trở thành quy luật khách
quan. Tuy nhiên để thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội nhập phụ thuộc ít nhiều
vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nớc trong đó việc hoạch định chính sách
đúng đắn và các biện pháp thực hiện có vai trò đặc biệt quan trọng.
Việt Nam là một nớc đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, phát
triển các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, thúc đẩy xuất khẩu nói riêng đợc
coi là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội. Thúc đẩy xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế của đất nớc thực hiện
quá trình hội nhập kinh tế trong phạm vi khu vực cũng nh quốc tế đồng thời phát
triển nguồn thu ngoại tệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Trong những năm gần đây, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt đợc kết quả nhất định,
chẳng hạn nh trong việc chuyển hớng và mở rộng thị trờng, trao quyền tự chủ cho
các doanh nghiệp thay đổi cơ cấu mặt hàng ngày càng phù hợp với yêu cầu của thị
trờng. Tuy nhiên vẫn còn một số điểm cần lu ý đó là việc cơ cấu hàng xuất khẩu
vẫn chủ yếu là sản phẩm thô và sơ chế, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam
trên thị trờng thế giới còn rất hạn chế, chủ yếu là do tiêu chuẩn và giá thành của
nhiều mặt hàng cha đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Do đó cần phải có một hệ thống các chính sách thúc đẩy xuất khẩu, giảm
thiểu những hạn chế trên. Chuyên đề: Trong xu thế hội nhập của thị trờng hiện
nay các doanh nghiệp Việt Nam (doanh nghiệp của bạn) phải làm những gì để
nâng cao chất lợng hàng hoá và bắt kịp thị trờng ở Việt Nam là tên đề án môn
quá trình đó cũng khác nhau. Đây là sự khác biệt cơ bản của quá trình công
nghiệp hoá ở Châu á và các nớc phơng Tây. Đối với các nớc NICs và ASEAN thì
sự can thiệp của Chính phủ có thể coi là một nhân tố quan trọng nhất quyết định
sự thành công của quá trình CNH. Điều đó chứng tỏ vai trò cần thiết của Nhà nớc
trong quản lý vĩ mô, lựa chọn đờng đi nớc bớc kết hợp với việc lựa chọn các chính
sách phát triển kinh tế, tạo ra hớng đúng để phát huy lợi thế so sánh của đất nớc.
Từ đó, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đẩy mạnh xuất khẩu, tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế đất nớc.
Trong thời kỳ đầu các nớc NICs và ASEAN đều lựa chọn chính sách phát
triển kinh tế dựa vào nguồn lực có sẵn trong nớc và hàng tiêu dùng. Thời kỳ này,
vai trò của Chính phủ trong việc định hớng chiến lợc, tạo khuôn khỗ pháp luật, đặc
biệt là đầu t phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh. Khi chiến lợc này bộc lộ những hạn chế đặt ra yêu cầu khách quan là phải
chuyển hớng chiến lợc thì Chính phủ đã nhanh chóng định hớng lái nền kinh tế
cho phù hợp với quy luật và thời đại .Nh vậy, quá trình chuyển hớng chiến lợc h-
ớng về xuất khẩu là đúng đắn và phù hợp với quy luật cái cũ thay thế cái mới, bắt
kịp xu hớng hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Để thấy đợc tính quy luật
này, vai trò của Chính phủ thể hiện nh thế nào và tiện liên hệ với điều kiện, đặc
điểm nên khái quát mô hình CNH ở các nớc NICs và ASEAN ở những điểm sau :
I - Nội dung của chiến lợc thay thế nhập khẩu .
Chiến lợc thay thế nhập khẩu là để đẩy mạnh các nghành công nghiệp trong
nớc trớc hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, sau đó là các nghành công
nghiệp khai thác, sản xuất sản phẩm nội địa thay thế sản phẩm từ trớc đến nay
phải nhập khẩu từ nớc ngoài .
Năm 1971, ALin Coln nói: Tôi không biết nhiều về thuế quan .Nhng tôi
biết rất rõ khi tôi mua một cái áo ở nớc Anh, tôi có áo và nớc Anh có tiền. Khi tôi
mua một cái áo ở Mĩ thì tôi có áo và nớc Mĩ có tiền. Có thể thấy ở đây một sự
chú trọng vào thị trờng nội địa, lấy nó làm trung tâm để sản xuất và lu thông hàng
hoá. Bảo hộ hàng sản xuất trong nớc, chống lại sự cạnh tranh của hàng ngoại là
nhiệm vụ trung tâm của chiến lợc thay thế nhập khẩu. Chiến lợc này đợc áp dụng
thiên nhiên. Kết quả là Thái Lan luôn là một nớc xuất khẩu lơng thực lớn ra thị tr-
ờng thế giới, đồng thời giải quyết đợc vấn đề việc làm cho xã hội góp phần ổn
định đất nớc .
Tóm lại, việc thực thi chiến lợc thay thế nhập khẩu ở các nớc NICs cũng nh
các tiến hành chiến lợc thay thế nhập khẩu các nớc đều khắc phục đợc vấn đề l-
ơng thực và giải quyết đợc việc làm cho xã hội .
Ngay từ nhận định ban đầu, chiến lợc thay thế nhập khẩu chỉ phát huy trong
thời gian ngắn với quy mô thị trờng nhỏ. Sau đó, nó bộc lộ những hạn chế của
mình nh giới hạn về thị trờng trong nớc, không cập nhật đợc với khoa học công
nghệ hiện đại đặc biệt là làm chậm tiến độ công nghiệp hoá của đất nớc .
II. Hạn chế của chiến lợc thay thế nhập khẩu .
Những hạn chế của chiến lợc hớng nội là xuất phát từ phạm vi áp dụng của
nó và yêu cầu để thực hiện chiến lợc này có hiệu quả. Khi đối tợng áp dụng cho
chiến lợc này không phù hợp thì những u điểm của nó không những không đợc
phát huy mà còn bộc lộ những hạn chế làm kìm hãm xu hớng phát triển kinh tế
của một đất nớc .
Thực vậy, khi thực hiện một đờng lối, vạch ra một phơng hớng phát triển thì
không thể không tính đến thị trờng ảnh hởng của nó. Xuất phát từ nội dung của
chiến lợc thay thế nhập khẩu là sản xuất những mặt hàng đáp ứng nhu cầu tối
thiểu của đất nớc tức là lấy thị trờng trong nớc làm trọng tâm để buôn bán và lu
thông hàng hoá thì chí ít về quy mô thị trờng đó trớc hết phải rộng rãi. Đối với một
nớc thị trờng nội địa đợc coi là phù hợp với chiến lợc này là một đất nớc có quy
mô dân số đông, sức tiêu thụ lớn. Khi quy mô dân số đông và khả năng tiêu dùng
lớn thì tơng quan giữa sản xuất và tiêu dùng mới cân đối tức là sản xuất mở rộng
cũng tiêu thụ hết. Do đó, với những nớc có quy mô dân số nhỏ bé thì dung lợng thị
trờng nhỏ, chỉ cần sản xuất dới mức tối u cũng đã đáp ứng đủ nhu cầu. Điều đó
đồng nghĩa với không có động lực để mở rộng sản xuất hay tối u hoá các yếu tố
nguồn lực.Thực tế điều này xảy ra ở những nớc có quy mô nhỏ bé nh Hàn Quốc.
Nh vậy với những nớc có phạm vi, quy mô thị trờng nhỏ thì việc áp dụng
chiến lợc hớng nội là không phù hợp. Đây có thể coi là một yêu cầu để thực hiện
trờng mà cần phải khẳng định một cách chắc chắn rằng: vai trò của Chính phủ là
một điều kiện quan trọng nhất để thực hiện chiến lợc hớng nội thành công. Bởi vì,
trong thời kỳ đầu công nghiệp trong nớc còn non trẻ cha thể đa ra để cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế thì Chính phủ cần phải bảo hộ để nuôi dỡng nó cho đủ lông
đủ cánh rồi phải đa nó ra thi trờng cho nó tự vận động. Cho nên, biện pháp bảo
hộ chỉ là biện pháp tạm thời và cần phải đợc giảm dần khi các ngành sản xuất
trong nớc phát triển hơn.
Hạn chế thứ hai của chiến lợc hớng nội đó là những tệ nạn phát sinh từ việc
thực hiện không nghiêm túc của các đối tợng chịu thuế và các cơ quan thuế vụ.
Điều này dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế, hối lộ đội ngũ cán bộ thuế quan gây ra
thất thu cho ngân sách nhà nớc, làm mất lòng tin của nhân dân. Đây không còn là
vấn đề vi phạm luật đơn thuần mà ngày nay đặc biệt đối với nớc ta nó trở thành
một quốc nạn.
Bên cạnh việc trốn lậu thuế là việc xin xỏ, hối lộ các quan chức phụ trách
phân phối hạn ngạch nhập khẩu. Việc đánh giá sự thành công của các doanh
nghiệp sẽ không còn chính xác nếu nhìn vào đó mà đánh giá thực lực của doanh
nghiệp cũng nh khả năng quản lý của lãnh đạo mà sự thành công đó có thể nhờ
vào tài khéo léo, biết thơng lợng có hiệu quả với các nhà chức trách phụ trách
thuế quan hay hạn ngạch. Điều này không khuyến khích các t nhân giỏi phát huy
năng lực của mình.
Một hạn chế nữa của chiến lợc thay thế nhập khẩu là hạn chế xu hớng công
nghiệp hoá của đất nớc. Chiến lợc này bắt nguồn từ công nghiệp hàng tiêu dùng
sau đó tiếp tục tạo thị trờng cho các ngành sản xuất sản phẩm trung gian. Thờng
thị trờng trung gian nhỏ hơn thị trờng hàng tiêu dùng nên đầu t vào lĩnh vực này
lại gặp những khó khăn nhất định. Do vậy, lại trông chờ vào bảo hộ điều này làm
tăng giá đầu vào đối với những ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Để đảm bảo lợi
nhuận của các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vẫn tiếp tục phụ thuộc
vào nguyên liệu nhập khẩu làm cho các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật
liệu trong nớc không có khả năng phát triển hạn chế sự hình thành cơ cấu công
nghiệp đa dạng của đất nớc.
những điều kiện không phù hợp của mình với chiến lợc thay thế nhập khẩu đó là
một thị trờng trong nớc nhỏ hẹp, một nền kinh tế mất cân đối và nợ chồng chất n-
ớc ngoài. Đồng thời chiến lợc này cho phép tất cả mọi nớc tiêu dùng một lợng
hàng hoá dịch vụ nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn sản xuất trong nớc
dựa vào lợi thế so sánh. Điều ấy có nghĩa là tôi có thể tiêu dùng một mức nhiều
hơn khả năng tôi sản xuất nếu tôi trao đổi với anh và ngợc lại anh cũng đợc lợi khi
anh trao đổi với tôi. Xét một cách khái quát hơn chiến lợc hớng về xuất khẩu tác
động vào phát triển nền kinh tế ở những mặt sau.
-Tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động hơn. Sự phát triển
của ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu tác động đến các ngành cung cấp đầu
vào tạo ra một mối liên hệ ngợc có hệ thống thúc đẩy những ngành phát triển.
Không những thế, khi có tích luỹ từ việc xuất khẩu sản phẩm tìm mối liên hệ xuôi
giữa sản phẩm thô và ngành công nghiệp chế biến phát triển. Sự phát triển của tất
cả các ngành này làm tăng thu nhập cho ngời lao động, tạo ra mối liên hệ gián tiếp
cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ. Nh vậy, chiến lợc hớng
ngoại kéo các ngành trong nền kinh tế lại gần nhau và buộc chúng phải có quan hệ
với nhau.
- Nếu nh chiến lợc thay thế nhập khẩu lấy thị trờng trong nớc làm trọng tâm
cho phát triển thì chiến lợc hớng vào xuất khẩu lại lấy thị trờng quốc tế làm trung
tâm cho mọi sự phát triển. Trong chiến lợc hớng nội các doanh nghiệp Nhà nớc ỷ
lại vào Chính phủ, không có khả năng cạnh tranh thì trong chiến lợc hớng ngoại
các doanh nghiệp trong nớc muốn đứng vững trong cạnh tranh phải dựa vào các
tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, các doanh nghiệp không bị giới hạn bởi một quy mô
thị trờng nhỏ hẹp cho nên họ có thể mở rộng sản xuất để lợi dụng lợi thế quy mô.
-Không những khi xây dựng nền kinh tế mở tiếp cận đợc với nền kinh tế có
trình độ, phát triển cao hơn mà nhờ vào xuất khẩu đất nớc còn có nguồn thu nhập
là ngoại tệ, không phải nợ lần bị động mà còn có tiền để mua sắm máy móc thiết
bị hiện đại, đầu t cho nghiên cứu phát triển máy móc điều đó giúp cho nền kinh tế
chủ động hơn trong chiến lợc của mình.
Tất cả những u điểm mà chiến lợc hớng ngoại khắc phục đợc hạn chế của
và thời đại nên hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thơng
nói riêng có những thay đổi đáng kể thể hiện ở những mặt sau :
- Nớc ta mở rộng quan hệ với các nớc trên thế giới trên tinh thần Viêt Nam
muốn làm bạn và là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển.
- Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phơng và đa phơng lẫn nhau tôn trọng
độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
- Những ngành thay đổi trong hoạt động kinh tế đối ngoại dẫn tới những
chuyển biến quan trọng trên toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nớc ta nhiều lĩnh
vực đầu t, hợp tác quốc tế và đặc biệt là hoạt động ngoại thơng .
- Nhà nớc xoá bỏ độc quyền ngoại thơng sang tự do ngoại thơng .
- Cán cân thơng mại dần dần đợc cải thiện đáp ứng đợc 4/5 kim ngạch ngoại
tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị .
- Cơ cấu nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu đợc mở rộng đặc biệt là nhóm,
mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
- Thị trờng xuất khẩu của Việt Nam cũng dần dần đựơc khai thông, mở rộng
trên quy mô và tỷ trọng trên từng thị trờng.
- Nhập khẩu cũng có những thay đổi cơ bản về cơ cấu mặt hàng giảm mạnh
nhập khẩu các thiết bị toàn bộ và tăng tỷ trọng của các hàng lẻ gồm nguyên nhiên
liệu, thiết bị và phụ tùng
V- ảnh hởng của các chính sách trong kinh tế đối ngoại tới
hoạt động xuất khẩu của nớc ta.
Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ trung tâm là đẩy mạnh CNH-HĐH thì hội
nhập kinh tế sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vật chất nh vốn, thiết bị, vật liệu mà n-
ớc ta đang rất thiếu và rất cần. Tuy nhiên để có thể thu hút đựợc nguồn vật chất đó,
nớc ta phải tạo ra những cơ hội đầu t hấp dẫn để thu hút vốn nớc ngoài, phải có
ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị tiến kịp khoa học và công nghệ hiện đại.
Đồng thời phải đón đầu những kiến thức quản lý kinh tế hiện đại để vận dụng có
hiệu quả .
Hoạt động xuất nhập khẩu là một nội dung quan trọng trong hoạt động
sản và các sản phẩm cây công nghiệp) chiếm gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nớc. Xuất khẩu sản phẩm cây công nghiệp tăng nhanh, giá trị xuất khẩu hàng
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thủ công năm 2000 khoảng 8,7 tỷ USD gấp 3
lấn so với năm 1995.
Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất từ trớc tới nay khoảng 50 tỷ USD
tăng bình quân 18,6%. Chênh lệch xuất, nhập khẩu giảm mạnh từ 49,6%(năm
1995) xuống còn 3,1% (năm 2000) so với tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đạt đợc kết quả trên ngoài yếu tố xây dựng và phát triển thị trờng còn phải
kể đến đầu t và phát triển năng lực sản xuất ở mọi thành phần kinh tế mà biểu
hiện rõ nhất lầ việc hình thành nhiều ngành hàng mũi nhọn. Số liệu thống kê cho
thấy trên 78% kim ngạch xuất khẩu mời tháng đầu năm nay thuộc về những mặt
hàng chủ lực bao gồm những nhóm, mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu từ 100 triệu
USD trở lên. Nếu trong những năm 1991-1993 mới có lác đác một vài mặt hàng
chủ lực thì đến nay con số đã lên tới 12- 13 mặt hàng.
Tuy đạt đợc những kết quả trên nhng khi nhìn lại trong những năm qua thì
thấy tốc độ tăng chậm lại biểu hịên cụ thể là : năm 1994 tốc độ tăng xuất khẩu là
35,8%; năm 1995 tăng 34,4%; năm 1996 tăng 33,2%; năm 1998 chỉ còn 26%;
năm 1999 chỉ còn 2,4% đến năm 2000 là 23,1%.
Một nguyên nhân quan trọng của hiện tợng này là do cơ cấu hàng xuất khẩu
cha có những thay đổi căn bản so với thời kỳ 91-95 để tạo ra những xung lợng mới
cho tăng trởng xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc chuyển hớng các mặt hàng xuất khẩu
đặc biệt là thịt chế biến vào thị trờng Liên Xô (cũ) gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực cũng nh sự gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc đã
làm cho việc xuất khẩu thịt lợn sang thị trờng Hồng Kông trở nên bế tắc.
Về quy mô, xuất khẩu của nớc ta còn hết sức nhỏ bé xét cả về tơng đối lẫn
tuyệt đối. Nếu tính bình quân đầu ngời ngay từ những năm 1986 và hiện lên tới
80-90 tỷ USD. Thái Lan đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ từ những năm 1987, hiện
lên tới 55-60 tỷ USD. Philipin là nớc kém hơn nhng cũng đạt kim ngạch xuất khẩu
10 tỷ USD vào năm 1992 và hiện nay xấp xỉ 25 tỷ USD. Nếu tính kim ngạch xuất
khẩu/đầu ngời, năm 1996 Malaixia đã đạt 3700 USD, Thái Lan đạt 930 USD và
điện tử, thủ công mỹ nghệ, rau quả đóng vai trò tiên phong trong việc tăng trởng
giá trị suất khẩu. Theo Tổng cục Thống kê tỷ trọng đóng góp vào tốc độ tăng trởng
xuất khẩu trong mời tháng qua của dầu thô là 51%; thuỷ sản là 16,3%; máy tính
điện tử là 7,3%.
Một điều nữa đáng ghi nhận là từ đầu năm đến nay nhóm hàng nông sản
của Việt Nam (trừ gạo) luôn tỏ ra sung sức về khả năng sản xuất và có mức xuất
khẩu ngày một tăng. Trong năm vừa qua, cả nớc xuất khẩu 74000 tấn lạc nhân
(tăng gần 47%); 214000 tấn cao su (tăng 18,3%) ; 543000 tấn cà phê (tăng 65,4%)
đã vợt kế hoach cả năm 8,5%; 34000 tấn chè (tăng 36% so với cùng kỳ năm
ngoái). Đặc biệt lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản trong năm qua không
những vợt ngỡng một tỷ mà còn đạt 1,16 tỷ USD tăng 49.45% so với cùng kỳ năm
trớc, vợt 6% so với kế hoạch năm. Kết quả xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp
chế tác từ đầu năm đến nay vẫn giữ đợc nhịp độ tăng trởng khá. Kim ngạch xuất
khẩu của hàng dệt may trong mời tháng qua đạt trên 1.516 tỷ USD ( tăng 4.4% so
với cùng kỳ năm trớc), giầy dép đạt 1.163 tỷ USD tăng 5.2%, hàng thủ công mỹ
nghệ đạt gần 200 triệu USD tăng gần 49% và vợt kế hoạch năm 10.6%, điện tử đạt
132 triệu USD tăng 9%, máy vi tính đạt 518 triệu USD tăng 38.6% so với cùng kỳ
năm trớc.
Theo ông Lê Đức Gia-Phó vụ Trởng Vụ tổ chức Bộ thơng mại ba nhóm
hàng nêu trên có tầm quan trọng nh ba chân kiềng của hoạt động xuất khẩu nớc ta.
Ông nhận định : hàng năm do nhiều yếu tố khác nhau có thể nhóm hàng này tăng
nhóm hàng kia giảm nhng nếu biết phát huy để bù trừ cho nhau thì kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam vẫn tăng trởng bền vững.
Nếu nh trên phân tích cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng
của hiện tợng tốc độ tăng trởng giảm dần là do cơ cấu hàng xuất khẩu cha có
những thay đổi trên tất cả các mặt hàng mà chủ yếu nhờ tăng nhanh kimh ngạch
của bốn nhóm hàng cơ bản : dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ tinh chế và điện tử
thì vấn đề thị trờng xuất khẩu là lời giải cho câu hỏi vì sao cơ cấu hàng xuất khẩu
có sự thay đổi tích cực mà tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng tr-
ởng chậm.